Xem mẫu

Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 54 – 62<br /> <br /> Part A: Social Sciences, Humanities and Education<br /> <br /> ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA NGUYỄN ĐỔNG CHI TRONG PHẦN KHẢO DỊ<br /> “KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM”<br /> Trần Tùng Chinh<br /> ThS. Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang<br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 01/10/15<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 09/12/15<br /> Ngày chấp nhận đăng: 03/16<br /> Title:<br /> The contribution of Nguyen<br /> Dong Chi to“Vietnamese Fairy<br /> Tales”<br /> Từ khóa:<br /> Kho tàng truyện cổ tích<br /> Việt Nam, khảo dị<br /> Keywords:<br /> Vietnamese Fairy Tales,<br /> the variant<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Via understanding the variant session in “Vietnamese Fairy Tales” by Nguyen<br /> Dong Chi, the purpose of this study is to assess the author’s contribution in<br /> collecting and compiling variants of Vietnamese fairy tales. The study employed<br /> approaches of surveys, statistics, collation and analysis to raise scientific<br /> arguments in order to prove that the above-mentioned variant session has<br /> foundational value inspiring new approaches in studying Vietnamese fairy<br /> tales. Thereof, this study suggests there should be a study of larger scale about<br /> helpful contributions by Nguyen Dong Chi in aspect of variants in fairy tales.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục đích của nghiên cứu này là, thông qua việc tìm hiểu phần Khảo dị trong<br /> “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi, đánh giá về những<br /> đóng góp của Nguyễn Đổng Chi trong việc sưu tầm, tập hợp các dị bản truyện<br /> cổ tích dân gian Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát, thống<br /> kê, đối chiếu, phân tích để nêu ra những luận điểm khoa học nhằm chứng minh<br /> rằng phần Khảo dị nêu trên có giá trị nền tảng gợi mở những hướng tiếp cận<br /> mới cho việc nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất<br /> cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc và quy mô hơn về những đóng<br /> góp hữu ích của Nguyễn Đổng Chi về vấn đề dị bản truyện cổ tích.<br /> <br /> Các thể loại văn xuôi (tự sự) dân gian có nhiều<br /> khả năng biến đổi (nhiều dị bản) hơn văn vần.<br /> Điều này bị chi phối bởi đặc điểm thi pháp của<br /> từng thể loại.<br /> <br /> 1. PHẦN MỞ ĐẦU<br /> Một trong những thuộc tính đặc trưng của văn học<br /> dân gian là tính dị bản. Dị bản là những văn bản<br /> truyền miệng có những điểm biến thể, khác biệt<br /> của cùng một tác phẩm văn học dân gian. Sự khác<br /> nhau đó thể hiện ở nhiều phương diện như đề tài,<br /> nội dung, nghệ thuật, thể loại; ở nhiều yếu tố như<br /> chi tiết, tình tiết, sự kiện, không gian, thời gian,<br /> nhân vật, ngôn ngữ, hình ảnh, các motip vừa lặp<br /> lại vừa không lặp lại… Nói đến dị bản, ta thấy có<br /> hai điểm nổi bật. Đó là những yếu tố cố định<br /> không thay đổi và những yếu tố mới. Điều này thể<br /> hiện mối quan hệ giữa ứng tác và truyền thống.<br /> <br /> Tính dị bản làm cho tác phẩm văn học dân gian<br /> không đứng yên cố định (như văn học viết) mà dễ<br /> thích ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của nhân<br /> dân các địa phương, các thời kỳ lịch sử cụ thể<br /> khác nhau trong quá trình diễn xướng, lưu truyền.<br /> Nhờ thế, tính dị bản đã có những tác động tích<br /> cực cho sự tồn tại và phát triển của văn học dân<br /> gian.<br /> <br /> 54<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 54 – 62<br /> <br /> Part A: Social Sciences, Humanities and Education<br /> <br /> Nghiên cứu truyện cổ tích không thể tách rời khỏi<br /> việc sưu tầm, khảo sát các dị bản của truyện cổ<br /> tích. Trong lời tựa Truyện cổ nước Nam, Nguyễn<br /> Văn Ngọc (1957) có nhận xét: “…cũng cùng một<br /> truyện thường có khi sai lạc khác nhau xa. Người<br /> kể thế này, người nói thế nọ. Đây ngắt nửa chừng,<br /> đó dài thêm vài ba đoạn…” (Nguyễn Văn Ngọc,<br /> 1957, 10). Tuy nhiên, đó không chỉ là sự “dài<br /> ngắn khôn đo, thêm bớt khó liệu, đầu Ngô mình<br /> Sở…” như chính Nguyễn Văn Ngọc đánh giá; mà<br /> ở các dị bản khác nhau của một đơn vị truyện, ta<br /> còn tìm thấy ở đó tính tập thể và tâm lý tập thể chi<br /> phối các dị bản được truyền miệng. Và sự đồng<br /> sáng tạo dù có hay chưa có ý thức ấy cũng là một<br /> kho cứ liệu cho ta tìm hiểu đặc trưng thể loại của<br /> truyện cổ tích với các lớp trầm tích như văn hóa,<br /> dân tộc, lịch sử, địa lý, ngôn ngữ…<br /> <br /> Chính vì thế, “giá trị của Kho tàng truyện cổ tích<br /> Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi) tăng lên nhiều, một<br /> phần quan trọng là nhờ sự phong phú dồi dào của<br /> phần khảo dị” (Tạ Phong Châu, 1975). Phần khảo<br /> dị là sự tập hợp một cách công phu những bản kể<br /> khác mà tác giả đã sưu tầm và văn bản hóa chúng<br /> với mục đích làm phong phú hơn câu chuyện<br /> được kể. Các dị bản ấy được Nguyễn Đổng Chi<br /> (1993) liệt kê một cách “chọn lọc và sắp đặt theo<br /> một hệ thống riêng”. Tác giả cho rằng: “Trường<br /> hợp những truyện có nhiều địa phương kể khác<br /> nhau về chi tiết hay toàn phần, chúng tôi sẽ ghi<br /> tóm tắt ở mục Khảo dị để tiện tham khảo. Nếu<br /> truyện nào có nội dung tương tự với truyện của<br /> các dân tộc khác ở trong nước hay nước ngoài,<br /> chúng tôi cũng làm như vậy” (Nguyễn Đổng Chi,<br /> 1993, 12).<br /> <br /> Vì lẽ đó, từ việc tập hợp, khảo dị, nhà nghiên cứu<br /> văn học dân gian mới có cơ sở để đưa ra các luận<br /> điểm về type, về motif, về các công thức truyền<br /> thống, các hệ thống, các sơ đồ cấu trúc của truyện<br /> cổ tích... Đặc biệt là làm rõ được tính quốc tế, tính<br /> dân tộc, tính địa phương của văn học dân gian nói<br /> chung và truyện cổ tích nói riêng.<br /> <br /> Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi<br /> vào khảo sát phần Khảo dị với các dị bản mà học<br /> giả Nguyễn Đổng Chi đã công phu sưu tầm, tập<br /> hợp. Từ đó, chúng tôi sẽ bước đầu thống kê một<br /> cách khái quát nhằm đánh giá những đóng góp<br /> khoa học của ông trong công việc nghiên cứu kho<br /> tàng Truyện cổ tích Việt Nam.<br /> <br /> “Truyện cổ tích Việt Nam có mối quan hệ tiềm ẩn<br /> và giấu kín với truyện cổ các dân tộc trong khu<br /> vực và trên toàn thế giới” (Nguyễn Tấn Đắc,<br /> 2001, 5). Cho nên, việc khảo sát, so sánh các văn<br /> bản kể của truyện cổ tích là một phương pháp<br /> khoa học cần thiết và hiệu quả để phát hiện những<br /> giá trị mới mẻ có ý nghĩa của kho tàng truyện cổ<br /> tích một dân tộc.<br /> <br /> 2. PHẦN NỘI DUNG<br /> 2.1 Đóng góp về số lượng văn bản khảo dị<br /> Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập – bản in<br /> 1993) của Nguyễn Đổng Chi là một công trình<br /> đáp ứng vừa về lượng lẫn về chất trong việc tìm<br /> hiểu và nghiên cứu văn học dân gian. Với dung<br /> lượng 2740 trang, tác giả đã sưu tầm 201 đơn vị<br /> truyện cổ tích thuộc nhiều nhóm truyện khác<br /> nhau. Và điều làm nên tầm vóc của công trình đặc<br /> biệt này chính là số lượng các dị bản mà tác giả<br /> công phu tìm kiếm, phát hiện, chọn lọc và sắp xếp<br /> chúng trong phần Khảo dị cuối mỗi đơn vị truyện.<br /> <br /> Đã có không ít các công trình sưu tầm, các tuyển<br /> tập truyện cổ tích mà người biên soạn đã chỉ chú ý<br /> đến một văn bản (đơn bản) mà bỏ qua phần khảo<br /> dị. Theo chúng tôi, phần khảo dị kèm theo văn<br /> bản chính của truyện được kể có giá trị rất lớn,<br /> nhằm tập hợp một cách khoa học các dị bản để<br /> người đọc – đặc biệt là người nghiên cứu có cơ<br /> hội đối chiếu, liên hệ và từ đó rút ra những luận<br /> điểm quan trọng phục vụ cho việc tiếp cận truyện<br /> cổ tích một cách có hiệu quả.<br /> <br /> Trong năm tập truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi<br /> đã phân loại truyện cổ tích Việt Nam thành 10<br /> nhóm truyện. Và ở mỗi đơn vị nhóm truyện, ông<br /> đã có một kho tàng khảo dị rất đồ sộ và quy mô.<br /> Chúng ta có thể xem bản thống kê sau đây:<br /> 55<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 54 – 62<br /> <br /> Số phân<br /> mục<br /> <br /> Part A: Social Sciences, Humanities and Education<br /> <br /> Số lượng truyện trong từng<br /> nhóm<br /> <br /> Tên nhóm truyện phân loại<br /> <br /> Số dị bản đã sưu<br /> tầm<br /> <br /> I<br /> <br /> 25 truyện (từ 1  25)<br /> <br /> Nguồn gốc sự vật<br /> <br /> 109 dị bản<br /> <br /> II<br /> <br /> 10 truyện (từ 26  35)<br /> <br /> Sự tích đất nước Việt<br /> <br /> 47 dị bản<br /> <br /> III<br /> <br /> 26 truyện (từ 36  61)<br /> <br /> Sự tích các câu ví<br /> <br /> 153 dị bản<br /> <br /> IV<br /> <br /> 32 truyện (từ 62  93)<br /> <br /> Thông minh tài trí và sức khỏe<br /> <br /> 141 dị bản<br /> <br /> V<br /> <br /> 12 truyện (từ 94  105)<br /> <br /> Sự tích anh hùng nông dân<br /> <br /> 19 dị bản<br /> <br /> VI<br /> <br /> 10 truyện (từ 106  115)<br /> <br /> Truyện phân xử<br /> <br /> 63 dị bản<br /> <br /> VII<br /> <br /> 24 truyện (từ 116  139)<br /> <br /> Truyện thần tiên, ma quỷ và phù<br /> phép<br /> <br /> 216 dị bản<br /> <br /> VIII<br /> <br /> 31 truyện (từ 140  170)<br /> <br /> Truyện đền ơn trả oán<br /> <br /> 233 dị bản<br /> <br /> IX<br /> <br /> 18 truyện (từ 171  188)<br /> <br /> Tình bạn, tình yêu và nghĩa vụ<br /> <br /> 104 dị bản<br /> <br /> X<br /> <br /> 13 truyện (từ 189  201)<br /> <br /> Truyện vui tươi dí dỏm<br /> <br /> 69 dị bản<br /> <br /> 10 phân<br /> mục<br /> <br /> 201 truyện<br /> <br /> 10 nhóm truyện<br /> <br /> 1154 dị bản<br /> <br /> Trên đây chỉ là những thống kê sơ bộ, dựa trên<br /> phần mục lục cuối mỗi tập mà tác giả liệt kê.<br /> Trong đó, không ít những phần khảo dị, tác giả<br /> chỉ ghi là “các dị bản” (ví dụ mục truyện 12 - Sự<br /> tích con khỉ - tr. 502; mục truyện 60 - Nói dối như<br /> Cuội – tr. 1039; mục truyện 79 - Bùi Cầm Hổ - tr.<br /> 1042; mục truyện 90 - Gái ngoan dạy chồng – tr.<br /> 1044…v.v…). Do đó, nếu thống kê đầy đủ thì con<br /> số các dị bản truyện trong tập Kho tàng truyện cổ<br /> tích Việt Nam không chỉ dừng lại ở 1154 như đã<br /> dẫn.<br /> <br /> 2.2 Đóng góp từ nguồn tài liệu sưu tầm điền<br /> dã công phu<br /> Trong khối lượng dị bản lớn như vậy, chúng tôi<br /> chọn khảo sát cụ thể ngẫu nhiên một số truyện để<br /> có thể hình dung công việc sưu tầm và tập hợp dị<br /> bản cho phần khảo dị đã được tác giả dụng công<br /> như thế nào, từ đó đạt được những giá trị khoa<br /> học cụ thể ra sao.<br /> <br /> 56<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 54 – 62<br /> <br /> Thứ<br /> tự<br /> đơn<br /> vị<br /> truyện<br /> <br /> Tên truyện<br /> <br /> Part A: Social Sciences, Humanities and Education<br /> <br /> Dị bản từ nguồn truyện truyền<br /> miệng dân gian được sưu tầm điền<br /> dã và nguồn truyện đã được văn<br /> bản hóa<br /> Trong nước<br /> <br /> Ngoài nước<br /> <br /> Dị bản từ các công trình sử<br /> học, các báo và tạp chí,<br /> nguồn văn học viết…<br /> Nguồn tôn<br /> giáo, lịch sử,<br /> báo chí…<br /> <br /> 2<br /> <br /> Sự<br /> tích<br /> trầu cau và<br /> vôi<br /> <br /> Nghệ An, đồng<br /> bào Cơ<br /> tu,<br /> người Thái<br /> <br /> 7<br /> <br /> Sự<br /> tích<br /> chim quốc<br /> <br /> Người Mường,<br /> Nghệ An, Cổ<br /> tích xứ An Nam,<br /> <br /> 11<br /> <br /> Sự tích con<br /> muỗi<br /> <br /> Đồng bào Bắc<br /> bộ<br /> <br /> Grimm (Đức, Ý)<br /> Pháp, Ả Rập,<br /> Dân<br /> gian<br /> Campuchia<br /> <br /> 12<br /> <br /> Sự tích con<br /> khỉ<br /> <br /> Đồng bào Thổ<br /> (Thái Nguyên),<br /> truyện cổ Ba<br /> Na, người Thái,<br /> Tày, Mèo, Nùng,<br /> người Khơ me…<br /> <br /> Truyện<br /> cổ<br /> Banladesh,<br /> Truyện cổ Ấn Độ,<br /> Na uy, Nhật,<br /> Grimm,<br /> Phần<br /> Lan, Miến Điện,<br /> Pháp, Hungary<br /> và nhiều nước<br /> khác<br /> <br /> Tạp<br /> Đông<br /> Dương,<br /> <br /> 48<br /> <br /> Cứu<br /> vật<br /> vật trả ơn,<br /> cứu nhân<br /> nhân<br /> trả<br /> oán<br /> <br /> Đồng bào Hà<br /> Tĩnh, Nghệ An<br /> <br /> 60<br /> <br /> Nói<br /> dối<br /> như Cuội<br /> <br /> Đồng bào Ja<br /> rai, Xê Đăng,<br /> Hơ rê, Người<br /> thiểu số Khơ me,<br /> Mường, Tày…<br /> <br /> Văn học viết<br /> <br /> Số dị bản<br /> được liệt<br /> kê trong<br /> phần<br /> khảo dị<br /> <br /> Lĩnh<br /> Nam<br /> chích quái<br /> <br /> 8 dị bản<br /> <br /> Điển<br /> tích<br /> Trung Quốc,<br /> <br /> 5 dị bản<br /> <br /> Liêu trai chí<br /> dị<br /> <br /> 8 dị bản<br /> <br /> chí<br /> <br /> Truyện Đời<br /> xưa, Mỹ ấm<br /> tùy bút,<br /> <br /> 38 dị bản<br /> <br /> Truyện cổ Trung<br /> Quốc, Lào, người<br /> Xi xin, Ý, Châu<br /> Phi, Ấn Độ, Triều<br /> Tiên, Ta phi lét,<br /> Thụy Sĩ, Anbani,<br /> Đức, Hy Lạp<br /> <br /> Lục độ tạp<br /> kinh<br /> (kinh<br /> Phật)<br /> <br /> Sưu thần ký<br /> (Trung Quốc<br /> – Thế kỉ V),<br /> Dị uyển của<br /> Lưu<br /> Kính<br /> Thúc (Tống)<br /> <br /> 24 dị bản<br /> <br /> Truyện<br /> Miến<br /> Điện, Ấn Độ, Ả<br /> Rập,<br /> Trung<br /> Quốc, Mông Cổ,<br /> Pháp…<br /> <br /> Đinh<br /> Tiên<br /> Hoàng<br /> <br /> Nghìn lẻ một<br /> đêm<br /> <br /> 30 dị bản<br /> <br /> Báo Trung<br /> Bắc chủ nhật<br /> <br /> 57<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 54 – 62<br /> <br /> Part A: Social Sciences, Humanities and Education<br /> <br /> Chính tính phong phú đa dạng của các tư liệu<br /> tham khảo đã cung cấp cho Nguyễn Đổng Chi<br /> chất liệu để sưu tầm một cách khá hệ thống và<br /> <br /> tiết, quá nhiều câu văn mô tả diễn tiến cốt truyện<br /> và nhân vật, mượn công việc sưu tầm để “làm<br /> văn”… xa rời phương pháp sưu tầm văn học dân<br /> gian (việc làm này hoàn toàn không đúng với đặc<br /> trưng của truyện tự sự dân gian). Để công trình<br /> sưu tầm vẫn gần gũi với đặc điểm truyền miệng<br /> của văn học dân gian, Nguyễn Đổng Chi không<br /> chỉ tập hợp kho tư liệu khổng lồ là những tuyển<br /> tập truyện cổ của các dân tộc Việt Nam và thế<br /> giới mà ông còn phải chắt lấy cái cốt dân gian,<br /> chọn ra những yếu tố tương đồng và dị biệt từ<br /> những tác phẩm cụ thể. Điều đó cho thấy một cảm<br /> quan nhạy bén của nhà Folklore học, sự nghiêm<br /> túc và ý thức trách nhiệm của một nhà nghiên cứu<br /> văn học dân gian thực thụ. Từ đó, ông có thể sử<br /> dụng tư liệu ấy một cách hiệu quả phục vụ cho<br /> phần Khảo dị của mình để nâng tầm cho công<br /> trình đạt đến giá trị khoa học cao.<br /> <br /> quy mô các dị bản nhằm thực hiện phần Khảo dị.<br /> Đầu tiên phải kể đến kho tàng tác phẩm truyền<br /> miệng mà tác giả trong quá trình điền dã đã trực<br /> tiếp thu thập, tỉ mỉ ghi chép, phân loại cẩn thận tại<br /> nhiều vùng địa danh từ Bắc chí Nam, từ miền<br /> xuôi lên miền ngược. Trong quá trình sưu tầm, tác<br /> giả đặc biệt chú ý đến không gian văn hóa của các<br /> dân tộc ít người ở Việt Nam, nơi còn lưu giữ gần<br /> như nguyên vẹn các tác phẩm dân gian trong sinh<br /> hoạt của một cộng đồng chưa bị cuốn vào quá<br /> trình đô thị hóa, hiện đại hóa. Ở phần nguồn dẫn<br /> các dị bản được nêu trong phần Khảo dị của ông,<br /> chúng ta thấy có người Tiền Đông Dương trên các<br /> cao nguyên miền Trung, đồng bào thiểu số Nghệ<br /> An, đồng bào thiểu số Hà Giang Tuyên Quang,<br /> nguồn truyện dân gian của người Nùng, người<br /> Tày, người Thái, người Dao, người Cơ-tu… Hoặc<br /> trong kho cứ liệu sưu tầm của ông (liệt kê ở phần<br /> thư mục tham khảo), ta thấy cả những văn bản<br /> viết bằng chữ Hán (Bội văn vận phủ, Thiếu vi<br /> thông giám, Dân gian văn nghệ tuyển…), các<br /> công trình của người Pháp sưu tầm khi họ có mặt<br /> ở Đông Dương cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX<br /> (như các công trình của Cosquin, Landes,<br /> Cesbron, Génibrel, Dumoutier…), các tài liệu của<br /> các học giả đầu thế kỷ XX như Trương Vĩnh Ký,<br /> Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Ngọc…. Trong<br /> kho tư liệu đồ sộ ấy, còn có cả Gia phả các dòng<br /> họ, các tác phẩm chính sử, dã sử, các tư liệu báo,<br /> tạp chí đã và đang lưu hành trong bối cảnh thời<br /> đó, khi nhà nghiên cứu thực hiện công trình này.<br /> <br /> 2.3 Đóng góp về phương pháp tiếp cận tư liệu<br /> dưới góc độ thi pháp<br /> Trong phần Khảo dị, ta thấy Nguyễn Đổng Chi đã<br /> cẩn trọng chọn lọc các dị bản dựa trên nhiều cách<br /> tiếp cận có tính gợi ý rất bổ ích cho các nhà<br /> nghiên cứu văn học dân gian dưới góc độ thi pháp<br /> như các công thức mở đầu và kết thúc, nhân vật<br /> chính của truyện cổ tích, các chi tiết kết cấu, xung<br /> đột, các yếu tố không gian và thời gian nghệ<br /> thuật... Có thể kể đến các thành tựu nghiên cứu có<br /> kế thừa phương pháp tiếp cận này như Nghiên cứu<br /> truyện dân gian Việt Nam theo bảng mục lục tra<br /> cứu type và motif truyện cổ dân gian (Nguyễn Thị<br /> Hiền, 1996), Cổ tích thần kỳ người Việt - đặc<br /> điểm cấu tạo cốt truyện (Tăng Kim Ngân, 1997),<br /> Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ<br /> Việt Nam và Đông Nam Á (Nguyễn Bích Hà,<br /> 1998), Thi pháp văn học dân gian (Lê Trường<br /> Phát, 2000), Truyện cổ tích dưới mắt các nhà<br /> khoa học (Chu Xuân Diên, 2001), Truyện cổ dân<br /> gian đọc bằng type và motif (Nguyễn Tấn Đắc,<br /> 2001), Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu cấu<br /> <br /> Kỳ công hơn nữa là sự chọn lọc, hay nói đúng<br /> hơn là gạn lọc từ các văn bản truyện cổ trong và<br /> ngoài nước được sưu tầm (được văn bản hóa) mà<br /> không ít trong số đó, các tác giả nêu trên, trong<br /> quá trình biên soạn đã để lại văn phong ghi chép<br /> mang dấu ấn cá nhân đậm đà như thêm bớt tình<br /> 58<br /> <br />