Xem mẫu

  1. HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU MUA THIẾT BỊ ĐIỆN LẠNH Số: [SO HD] Ngày:[NGAY THANG NAM] Giữa các bên: Tên cơ quan (doanh nghiệp): [TEN DOANH NGHIEP] Tel: [SO DT] Fax: [SO FAX] Telex: [SO TELEX] Đại diện bởi ông: [HO VA TEN] Chức vụ: [GIAM DOC HAY TONG GIAM DOC] sau đây được gọi là Bên mua. Tên cơ quan (doanh nghiệp): [TEN DOANH NGHIEP] Tel: [SO DT] Fax: [SO FAX] Telex: [SO TELEX] Đại diện bởi ông: [HO VA TEN] Chức vụ: [GIAM DOC HAY TONG GIAM DOC] Sau đây được gọi là Bên bán. Hai bên đã nhất trí như sau: Điều 1: Đối tượng của hợp đồng Bên mua đồng ý mua và Bên bán đồng ý bán những trang thiết bị và phụ tùng dưới đây với giá cả ghi trong Điều này với những điều kiện quy định trong Điều 2 hay những quy định khác ở những điều khoản khác của hợp đồng này. SỐ TT MÔ TẢ CHI TIẾT SỐ LƯỢNG GIÁ USD/CIF HCMC (Tất cả những quy cách phẩm chất và mô tả chi tiết được ghi trong phụ lục số 1 đính kèm theo đây như là một phần thiết yếu của hợp đồng này). - Điều kiện giao hàng CIF [DIA DIEM GIAO HANG] (giá hàng + bảo hiểm + chi phí vận chuyển) được diễn giải như trong Incoterms ấn bản 1990. Điều 2: Trách nhiệm của bên bán Bên bán được xem như có am hiểu tường tận và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thiết bị điện lạnh, cam kết cung cấp. 2.1/ Tất cả trang thiết bị và phụ tùng mới hoàn toàn như được mô tả trong phụ lục số 1 của hợp đồng này. 2.2/ Tất cả những tài liệu cần thiết như: sơ đồ bản vẽ chi tiết những quy cách vận hành trong sử dụng dân dụng cũng như trong nhà máy công nghiệp, những chỉ dẫn lắp đặt
  2. và vận hành, hướng dẫn bảo trì… sau đây sẽ được gọi là tài liệu kỹ thuật, tất cả được viết bằng tiếng Anh, trong đó sử dụng hệ thống đo lường metric, những tài liệu này để giúp Bên mua có thể thực hiện sử dụng thiết bị vào sử dụng dân dụng hoặc sử dụng trong nhà máy công nghiệp, lắp đặt và cung cấp dịch vụ, bảo trì cho thiết bị. Tất cả những tài liệu trên đây đều sẽ thuộc về sở hữu của bên mua. 2.3/ Những trách nhiệm của bên bán theo điều khoản này vẫn hiệu lực cho đến hết thời hạn bảo hành. Điều 3: Trách nhiệm của bên mua 3.1/ Bên mua sẽ thực hiện việc tháo dỡ và kiểm tra những thiết bị máy móc do bên bán giao theo hợp đồng này tại địa điểm lắp đặt, với sự có mặt của đại diện bên mua và/hoặc Vinacontrol, chi nhánh [DIA DIEM GIAO HANG] 3.2/ Bên mua sẽ cung cấp những dụng cụ thông thường và những điều kiện thuận lợi thỏa đáng để cần thiết cho việc lắp đặt, chạy thử, vận hành thiết bị máy móc trong hợp đồng này. 3.3/ Việc lắp đăt thiết bị máy móc trên đây sẽ do bên mua thực hiện, tuân thủ theo những hướng dẫn của bên bán và theo quy định trong tài liệu kỹ thuật do bên bán cung cấp. Điều 4: Giao hàng, thông báo giao hàng và bảo hiểm 4.1/ Bên bán sẽ gửi cho bên mua qua hệ thống phát nhanh DHL Express theo địa chỉ trên đây bốn (04) bộ đầy đủ tài liệu kỹ thuật như được trong Điều 2 hợp đồng này trong vòng một (01) tháng sau khi bên bán nhận được thư tín dụng đã được tu chỉnh hoàn hảo. 4.2/ Những trang thiết bị như ghi trong phụ lục số 1 của hợp này sẽ được giao lên tàu trong vòng bốn (04) tháng kể từ khi bên bán đã nhận được thư tín dụng đã được tu chỉnh hoàn hảo. * Mười ngày trước ngày giao hàng theo lịch định trước. Bên bán sẽ gửi cho bên mua một thông báo trước khi giao hàng. Nội dung thông báo gồm: tên con tàu dự định chở hàng, mô tả tổng quát về hàng hóa sẽ giao, tên cảng khởi hành. * Ngay sau khi xếp hàng lên tàu hoặc chậm nhất là 02 ngày sau khi tàu khởi hành, bên bán sẽ thông báo cho bên mua bằng telex/fax về những chi tiết của việc giao hàng ấy, bao gồm: tên tàu, số vận đơn đường biển và ngày ký phát vận đơn, trị giá trên hóa đơn , số lượng kiện và trọng lượng các kiện, dự định giờ tàu khởi hành, dự định giờ tàu cập cảng… 4.3/ Những trang thiết bị trên đây không được giao từng phần và chuyển tải. - Cảng đi: [TEN CANG DI] - Cảng đến: [TEN CANG DEN] 4.4/ Bên bán sẽ có trách nhiệm bảo hiểm lô hàng, điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro quy định trong bộ luật những điều kiện bảo hiểm Loyds’ Institute cargo clause (A), không khấu trừ, cho 110% giá trị theo hóa đơn, quy định thêm rằng nếu xảy ra thiệt hại thì tiền bồi thường có thể lãnh tại [DIA DIEM] - Việt Nam.
  3. Điều 5: Bao gói và ký hiệu 5.1/ Hàng hóa theo mô tả trong phụ lục số 1 sẽ được đóng vào những kiện gỗ thích hợp đi biển và theo tiêu chuẩn xuất khẩu. Trước khi đóng gói, tất cả những phần trang thiết bị và phụ tùng bằng kim loại phải được bao lại cẩn thận, kỹ lưỡng bằng những giấy tráng dầu bền, không thấm nước để bảo vệ hàng một cách trọn vẹn, không bị ăn mòn hoặc hư hại nào. 5.2/ Ở hai bên mỗi kiện, ghi những ký mã hiệu sau đây bằng mực không phai nước. - Người gửi hàng: [TEN DOANH NGHIEP GUI HANG] - Số hợp đồng: [SO HOP DONG] - Số thư tín dụng: [SO THU TIN DUNG] - Kiện số: A/B (A: số thứ tự của kiện – B: tổng số kiện được giao lên tàu). - Trọng lượng: tổng cộng/tịnh. - Bộ phận số: theo quy cách kỹ thuật quy định trong phụ lục số 01. - Cảng đến: [TEN CANG DEN] – Việt Nam. - Người nhận hàng: [TEN DOANH NGHIEP NHAN HANG] - Kích thước: Dài x Rộng x Cao (cm). 5.3/ Trên mỗi kiện, tại những vị trí cần thiết phải ghi những ký hiệu dễ vỡ, dựng đứng theo chiều này, để nơi khô ráo v.v… (những ký hiệu quốc tế chỉ dẫn về xử lý/vận chuyển, móc kéo/cẩu/nâng/lưu kho cần thiết) 5.4/ Mỗi kiện sẽ được gắn thêm một danh mục riêng trong đó ghi những quy cách miêu tả về thiết kế của hàng hóa, số lượng, số món hàng có trong kiện ấy. 5.5/ Mỗi kiện không vượt quá 5 tấn trọng lượng, 10 m3 thể tích, 2,3 m chiều cao. 5.6/ Trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hư hỏng, đổ vỡ, hoặc bị rỉ sét, ăn mòn do thiếu sót trong việc bao gói hàng hóa, bên bán hoàn toàn chịu trách nhiệm. Điều 6: Giá cả và phương thức thanh toán 6.1/ Giá cả ghi trong Điều 1 hợp đồng này được căn cứ trên thư tín dụng có thời hạn [SO NGAY] ngày kể từ ngày ký phát vận đơn, bao gồm cả lãi suất ngân hàng, giá cả hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và tất cả những chi phí cho những tài liệu kỹ thuật mà bên bán giao cho bên mua theo phụ lục 01 hay những điều khoản khác trong hợp đồng này. 6.2/ Tổng giá trị hợp đồng này [SO TIEN] USD CIF, sẽ được bên mua thanh toán cho bên bán hàng bằng thư tín dụng không hủy ngang có thời hạn [SO NGAY] ngày sau ngày ký phát vận đơn. Bên mua xin mở thư tín dụng này qua ngân hàng [TEN NGAN HANG MO THU TIN DUNG] tùy sự lực chọn của bên mua. * [SO NGAY] ngày sau khi ký kết hợp đồng, bên mua sẽ làm thủ tục mở thư tín dụng, nếu không hợp đồng này sẽ bị vô hiệu mà không đem lại sự bồi hoàn nào cả. * Những chứng từ thanh toán cần thiết sau thư tín dụng gồm: - Phiếu đóng gói chi tiết; - Giấy chứng nhận xuất xứ lô hàng;
  4. - Giấy chứng nhận chất lượng do nhà sản xuất ấn hành, với lời cam kết bảo hành [SO THANG BAO HANH] tháng vận hành thiết bị trên, tính từ khi thiết bị này đạt được công suất quy định trong quá trình chạy thử. - Hợp đồng bảo hiểm - Thông báo giao hàng bằng telex/fax - Biên nhận đã gửi DHL một bản gốc vận đơn đường biển và hai bộ chứng từ không chuyển nhượng được, gửi trong vòng [SO NGAY] ngày sau khi xếp hàng lên tàu. - Biên nhận đã gửi qua DHL cho bên mua bốn (04) bộ tài liệu kỹ thuật trong vòng [SO NGAY THANG] sau khi bên bán nhận được thư tín dụng đã tu chỉnh hoàn hảo. - Biên nhận của thuyền phó nhận chuyển cho bên mua ở cảng đến hai (02) bộ chứng từ không chuyển nhượng được. Điều 7: Lắp đặt và chạy thử 7.1/ Hàng hóa được chuyên chở đến theo hợp đồng sẽ được mở thùng tại xưởng của bên mua với sự hiện diện của đại diện bên bán và/hoặc với nhân viên của VINACONTROL. Một bảng báo cáo tương ứng sẽ được lập vào cuối buổi kiểm tra và được từng bên ký vào. Bất kỳ sự thiếu hụt hoặc hư hỏng nào do lỗi của bên bán hoặc của bên sản xuất sẽ được ghi nhận và sự đền bù sẽ được thực hiện nhanh chóng. * Giấy chứng nhận kiểm định do VINACONTROL cấp được xem như là bằng chứng để buộc người bán phải bổ sung, thay thế hoặc hoàn tiền lại đối với những phần thiếu hụt hoặc hư hỏng do lỗi của người bán. 7.2/ Bên mua sẽ lắp đặt thiết bị theo đúng chỉ dẫn của tài liệu kỹ thuật do bên bán cung cấp theo đúng hợp đồng. * Nếu sự lắp đặt hoàn chỉnh bị trì hoãn do sự thiếu hụt hoặc hư hỏng (như đã nêu ở 7.1) do lỗi của bên bán, thời gian bị trì hoãn sẽ được ghi nhận và hai bên sẽ thỏa thuận mức đền bù thiệt hại mà bên bán phải chịu do việc trì hoãn kế hoạch sản xuất. 7.3/ Sau khi hoàn thành việc lắp đặt thiết bị, bên mua sẽ tiến hành chạy thử máy, chạy không tải và chạy có chứa hàng trong vòng 4 và 8 giờ liên tục. Việc chạy thử sẽ được lập lại trong vòng 3 ngày liên tục theo cùng cách thức đã được ghi rõ trong tài liệu kỹ thuật. 7.4/ Công suất bảo hành của thiết bị máy móc sẽ được kiểm chứng trong quá trình chạy thử. Nếu không đạt được công suất bảo hành như quy định trong phụ lục số 1 do lỗi của bên bán hoặc của nhà sản xuất, thì bên bán phải tự mình đền bù hoặc bổ sung cho bất kỳ sự thiếu hụt hoặc thay thế cho các phần hư hỏng được tìm thấy. 7.5/ Nếu đạt được công suất bảo hành thiết bị trong quá trình chạy thử, người bán coi như đã hoàn tất tất cả nghĩa vụ hợp đồng ngoại trừ thời hạn bảo hành. Điều 8: Thời gian bảo hành 8.1/ Thời gian bảo hành của tất cả thiết bị, phụ tùng và phụ tùng thay thế là 12 tháng kể từ ngày đạt được công suất bảo hành. 8.2/ Trong suốt thời gian bảo hành, nếu phát hiện ra bất kỳ sự hư hỏng hoặc trục trặc có liên quan khác, bên mua phải thông báo ngay cho bên bán biết các phần hư hỏng, trục trặc có liên quan đến lỗi hoặc trách nhiệm của bên bán và của nhà sản xuất. Bên bán phải nhanh chóng đền bù, sửa chữa hoặc thay thế cho các phần hư hỏng, trục trặc trong vòng [SO NGAY] ngày kể từ ngày nhận được thông báo của bên mua bằng telex/fax.
  5. * Nếu người bán chậm trễ trong việc đền bù/sửa chữa hoặc thay thế cho những phần hư hỏng, người bán sẽ phải chịu bồi thường cho việc trì hoãn thời gian sản xuất, tiền bồi thường này do 2 bên thỏa thuận. Điều  B ất  ả   9:  kh kháng 9.1/ Hợp đồng không ràng buộc người bán và người mua nếu sự thực hiện hợp đồng là không thể được vì lý do bất khả kháng nó bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong chiến tranh, đình công lớn, hạn chế nhập khẩu, hỏa hoạn, thiên tai. 9.2/ Một giấy chứng nhận do một tổ chức có thẩm quyền hoặc Phòng Thương mại tại nước người bán hoặc người mua cấp sẽ là bằng chứng có giá trị trong trường hợp này. 9.3/ Bên nào gặp bất khả kháng phải thông báo ngay cho bên kia biết trong vòng 10 ngày kể từ ngày xảy ra bất khả kháng. Nếu bất khả kháng được chính thức xác nhận là kéo dài 2 tháng liên tục kể từ ngày xảy ra, hợp đồng sẽ bị hủy bỏ mà không có bất kỳ sự khiếu nại nào, trừ phi hai bên đồng ý khác đi sau đó. Điều 10:  ải quy ết  Gi   tranh   ấ p ch Bất kỳ sự tranh chấp nào phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết một cách hữu nghị giữa hai bên. Nếu có tranh chấp nào không thể giải quyết được, sẽ được đem ra tòa án, hay trọng tài ở Hague, Nertherlands, theo luật hòa giải và xét xử của tòa án thương mại quốc tế hiện hành vào thời gian xét xử. Quyết định phân xử là quyết định cuối cùng và có giá trị ràng buộc hai bên. Điều 11: Các khoản khác Bất kỳ sự thay đổi hoặc sửa chữa nào đối với hợp đồng này phải được làm thành văn bản (bao gồm telex/fax) và chịu sự đồng ý của hai bên. Những sự thay đổi và sửa chữa này được xem như là một phần của hợp đồng. Hợp đồng này được làm thành 4 bản có giá trị tương đương. Hai bản do người mua giữ và hai bản do người bán giữ. THAY MẶT NGƯỜI MUA THAY MẶT NGƯỜI BÁN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý NHẰM ĐẢM BẢO HIỆU LỰC PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ SOME NOTES TO ENSURE LEGAL EFFECT OF CONTRACTS FOR INTERNATIONAL SALES OF GOODS PHAN THỊ THANH HỒNG Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT Thế nào là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế? Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm gì và kết cấu như thế nào? Làm thế nào để ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có hiệu lực pháp lý? Các câu hỏi này không chỉ là mối quan tâm của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các
  6. nhà hoạch định chính sách. Bởi hiểu được các vấn đề trên thì công tác soạn thảo và ký kết hợp đồng mới được thực hiện tốt. Nhờ đó công tác thực hiện hợp đồng sẽ diễn ra suông sẻ, những tranh chấp đáng tiếc giữa các bên của hợp đồng sẽ được giảm thiểu, góp phần gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp nói riêng và cho đất nước nói chung. Bài viết sẽ tập trung trả lời các câu hỏi đó có liên hệ đến pháp luật Việt Nam. ABSTRACT What is a contract for the international sale of goods? What are its characteristics and structure? How to conclude the contract effectively? These questions are the concerns of not only import-export businesses but also researchers and policy-makers. If they understand and answer the questions, then working out and concluding the contract will be done well. And thus, the contract will be carried out smoothly, and unwanted disputes between the parties of the contract will be minimized, which contributes to the increase of import-export turnover for enterprises in particular and for a country in general. The writing will focus on answering the above-mentioned questions with reference to Vietnam laws. 1. Thế nào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế? Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đã được giao. Ngược lại, Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao hàng. 2. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm gì? So với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm khái quát như sau: - Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của các Bên ký kết. Đây là đặc trưng rất cơ bản của hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng. - Chủ thể của hợp đồng, Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu, là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau. Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú của họ, còn quốc tịch của cá nhân người đại diện của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng. Hai người trực tiếp ký vào hợp đồng có thể đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng họ đại diện cho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau thì hợp đồng ký kết giữa các bên này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. - Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước. Biên giới hải quan được hiểu là tập hợp các cửa khẩu, các văn phòng hải quan nơi mà hàng hoá phải được tiến hành các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu theo các quy chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu của Chính phủ các nước. Thuật ngữ “biên giới hải quan” được sử dụng xuất phát từ thực tiễn sự hình thành các kho ngoại quan, các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế và những quy chế hải quan đặc biệt dành cho sự hoạt động của các khu vực này làm cho biên giới lãnh thổ không thật chính xác để xác định ranh giới di chuyển của hàng hoá xuất nhập khẩu. Luật thương mại Việt Nam năm 2005 khẳng định đặc điểm này khi định nghĩa: “1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. 2. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” (Điều 28, Luật thương mại năm 2005)
  7. - Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Phương thức thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng. - Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp, không chỉ là luật quốc gia mà còn gồm cả điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài cũng như tập quán thương mại quốc tế. - Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể. 3. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có kết cấu như thế nào? Tuỳ vào thực tiễn giao dịch giữa các bên và hàng hoá mua bán theo hợp đồng mà mỗi một hợp đồng sẽ được soạn thảo với những nội dung cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có kết cấu gồm ba phần: phần mở đầu, phần các điều khoản và điều kiện và phần kết. Phần mở đầu thường gồm các nội dung như sau: - Tiều đề: thường được thể hiện bằng các thuật ngữ như Hợp đồng (Contract) hoặc Bản thoả thuận (Agreement) - Số và ký hiệu của hợp đồng: thường được ghi kèm với tiêu đề nhằm giúp cho việc quản lý và lưu trữ hợp đồng của các chủ thể ký kết. Vì vậy, số và ký hiệu thường được thể hiện sao cho có thể nhận biết được các bên ký kết hợp đồng một cách dễ dàng và nhanh nhất. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được ký kết giữa các công ty có tên giao dịch là Uprosexim và Technoimport vào tháng 4 năm 2006 được ký hiệu như sau: Contract No. UPRO-TEC/04/06. - Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng. Ví dụ: Đà Nẵng, ngày 8 tháng 3 năm 2007 (Danang, March 8th 2007). Cũng có nhiều trường hợp người ta lại ghi địa điểm và ngày tháng ký kết ở phần cuối hợp đồng. Ví dụ: Hợp đồng được lập tại Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 3 thành 4 bản có hiệu lực pháp lý như nhau, mỗi bên giữ hai bản (The present contract was made in Danang on March 8th 2007 in quadruplicate of equal force, two of which are kept by each party). Địa điểm ký kết hợp đồng có ý nghĩa góp phần xác định nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nếu các bên không thoả thuận nguồn luật điều chỉnh trong hợp đồng, đó là luật nơi ký kết hợp đồng. Thông thường nếu các bên không có thoả thuận gì khác về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm này tính từ thời điểm các bên ký kết hợp đồng. - Các bên ký kết hợp đồng: tên các bên ký kết, địa chỉ, số tel, số fax, địa chỉ email, số tài khoản và tên ngân hàng, người đại diện ký kết hợp đồng - Những định nghĩa dùng trong hợp đồng. Những định nghĩa này có thể rất nhiều, ví dụ "hàng hóa" có nghĩa là..., "Thiết kế" có nghĩa là... . Chí ít người ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây: Công ty ABC, địa chỉ..., số điện thoại..., đại diện bởi Ông... dưới đây gọi là Bên bán (ABC company, address..., Tel...represented by Mr. ...hereinafter referred to as the Seller) - Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Đây có thể là hiệp định ký kết giữa các Chính phủ, cũng có thể là Nghị định thư ký kết giữa các Bộ thuộc các quốc gia khác nhau. Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng. Ví dụ: Các bên đã cùng nhau thỏa thuận rằng Bên bán cam kết bán và Bên mua cam kết mua những hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiện sau (It has been mutually agreed that the Seller commits to sell and the Buyer commits to buy the undermentioned goods on the following terms and conditions). Phần các điều khoản và điều kiện quy định hệ thống các điều kiện giao dịch thương mại do hai bên thoả thuận như: các điều khoản về hàng hoá như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì đóng gói hàng hóa, ký mã hiệu, điều kiện kiểm tra số lượng, chất lượng...; các điều khoản tài chính như giá cả, thanh toán...; các điều khoản vận tải, giao nhận và bảo hiểm như điều kiện giao nhận hàng, điều kiện cơ sở giao hàng, điều kiện vận tải, điều kiện bảo hiểm ...; và các điều khoản pháp lý như luật áp dụng vào hợp đồng, bất khả kháng, thưởng phạt, khiếu nại, trọng tài... Đây là phần
  8. quan trọng nhất của hợp đồng. Các bên thường dành thời gian và công sức nhiều nhất cho phần này khi đàm phán, thoả thuận và ký kết hợp đồng. Phần kết của hợp đồng quy định các nội dung như: - Số bản hợp đồng và số lượng hợp đồng giữ lại của mỗi bên. - Ngôn ngữ của hợp đồng. Ngôn ngữ của hợp đồng sẽ giúp xác định được hợp đồng được lập bằng ngôn ngữ nào sẽ là hợp đồng gốc, là cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. - Thời hạn hiệu lực của hợp đồng - Những quy định liên quan đến bổ sung, sửa đổi hợp đồng. - Chữ ký có thẩm quyền của các bên ký kết. 4. Làm thế nào để ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có hiệu lực pháp lý? Đây là vấn đề được các bên ký kết hợp đồng đặc biệt quan tâm. Bởi chỉ khi hợp đồng ký kết giữa các bên có hiệu lực thì quyền lợi và nghĩa vụ của các bên mới được bảo đảm và thực hiện theo hợp đồng mà các bên đã ký kết và nếu có tranh chấp xảy ra thì mới đảm bảo việc khiếu nại hay tố tụng trước Toà án hay Trọng tài. Để đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế chúng ta cần phải lưu ý các vấn đề sau: 1- Hợp đồng phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận ý chí giữa các Bên, đó chính là sự thuận mua vừa bán. Người bán nhất trí giao hàng mà người mua muốn mua; người mua nhận hàng và trả tiền theo cam kết. Hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp lý nếu được ký kết không vi phạm các trường hợp pháp luật ngăn cấm như: có sự cưỡng bức, đe dọa; có sự lừa dối; có sự nhầm lẫn. 2- Chủ thể của hợp đồng phải hợp pháp. Chủ thể của hợp đồng là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau và có đủ tư cách pháp lý. Tư cách pháp lý của các thương nhân này được xác định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó có trụ sở. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những sửa đổi khá cơ bản về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của thương nhân: - Theo Nghị định số 33/CP của Chính Phủ ngày 19/4/1994 về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, muốn được kinh doanh xuất nhập khẩu các thể nhân hoặc pháp nhân phải có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mại cấp. Đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu, để được cấp Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu doanh nghiệp phải đáp ứng đủ 4 điều kiện: + Là doanh nghiệp được thành lập theo đúng luật pháp và cam kết tuân thủ các quy định của luật pháp hiện hành; + Hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệp; + Doanh nghiệp phải có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng tiền Việt Nam tương đương 200 000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc các tỉnh miền núi và các tỉnh có khó khăn về kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu mà không đòi hỏi nhiều vốn, mức vốn lưu động nêu trên được quy định tương đương 100 000 USD; + Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương. Đối với doanh nghiệp sản xuất, muốn được cấp Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu cần phải: + Được thành lập theo đúng luật pháp; + Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu ổn định và có thị trường tiêu thụ ở nước ngoài; + Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương.
  9. Nếu có đủ 3 điều kiện trên, các doanh nghiệp sản xuất được quyền trực tiếp xuất khẩu hàng hoá do mình sản xuất và nhập khẩu vật tư nguyên liệu cần thiết cho sản xuất của chính doanh nghiệp. Như vậy, theo quy định tại Nghị định này những doanh nghiệp chưa có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu không phải là chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương. Mọi hợp đồng mua bán ngoại thương do các doanh nghiệp này ký đều không có hiệu lực vì chủ thể ký kết phía Việt Nam không hợp pháp. Và thực tế ở Việt Nam trong một thời gian đã tồn tại những doanh nghiệp được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu. - Nghị định 57/1998/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý từ ngày 1/9/1998 đã tạo bước đột phá trong quy định về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân. Theo đó, thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thành lập theo quy định của pháp luật, được phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố, không phải xin Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bộ thương mại. Và kể từ ngày Nghị định 57 có hiệu lực pháp lý, các Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mại đã cấp hết hiệu lực thi hành. Như vậy, theo Nghị định 57, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân đã được mở rộng cho tất cả các doanh các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, không còn phải xin phép Bộ thương mại. Và cũng không còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp được quyền và doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu nữa. - Nghị định 44/2001/NĐ-CP đã tiếp tục mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu cho doanh nghiệp khi quy định thương nhân có thể xuất khẩu tất cả các loại hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ những hàng hoá thuộc danh mục cấm xuất khẩu. Tuy nhiên, quyền kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp vẫn còn bị hạn chế. Cụ thể, thương nhân chỉ được nhập khẩu những hàng hoá theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với những hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện (hàng xuất khẩu, nhập khẩu có hạn ngạch, có giấy phép của Bộ thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành) thì thương nhân phải được cơ quan có thẩm quyền phân bổ hạn ngạch hoặc cấp giấy phép thì mới được tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu. - Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được mở rộng hơn nữa cùng với sự ra đời của Nghị định 12/2006/NĐ-CP. Nghị định 12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2006 và thay thế cho Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Nghị định 44/2001/NĐ-CP. Theo Nghị định 12, thương nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. 3- Người ký kết hợp đồng có đủ thẩm quyền ký kết theo pháp luật của nước mà thương nhân đó có trụ sở. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người ký kết là người đại diện cho thương nhân đó theo luật hoặc theo ủy quyền. Đại diện theo luật là đại diện do pháp luật quy định, là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền và người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện. Ủy quyền phải được làm bằng văn bản và người ủy quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của người được ủy quyền trong phạm vi quy định của sự ủy quyền. (Điều 140-142 Bộ luật dân sự 2005) 4- Đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp. Tức là hàng hoá theo hợp đồng phải là hàng hoá được phép mua bán theo qui định của pháp luật của nước bên mua và nước bên bán. Theo qui định của pháp luật Việt Nam, thương nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân muốn xuất nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ thương mại hoặc các Bộ quản lý chuyên ngành. (Điều 3,4 Nghị Định 12/2006/NĐ-CP). Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo
  10. giấy phép của Bộ thương mại; Danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành theo quy định của Việt Nam được quy định trong phụ lục số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006. 5- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp. Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể được các bên thoả thuận quy định trong hợp đồng. Khi nguồn luật điều chỉnh hợp đồng không được quy định trong hợp đồng thì áp dụng theo quy tắc luật xung đột: "luật nước người bán", "luật nơi xảy ra tranh chấp", "luật nơi ký kết hợp đồng", "luật nơi thực hiện nghĩa vụ". Pháp luật Việt Nam cũng đã có sửa đổi khá cơ bản về yêu cầu đối với nội dung của hợp đồng theo hướng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế. Cụ thể: - Theo quy định của Luật thương mại năm 1997 đã hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2006, hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung chủ yếu là: tên hàng; số lượng; quy cách, chất lượng; giá cả; phương thức thanh toán; địa điểm và thời hạn giao nhận hàng. Việc quy định hợp đồng phải có 6 nội dung không thể thiếu như trên mâu thuẫn với nguyên lý cơ bản của pháp luật thương mại, theo đó quy định các chủ thể tham gia kinh doanh được tự do thoả thuận mọi giao dịch của mình. Mâu thuẫn rõ ràng là giữa việc các chủ thể cùng lúc phải tuân thủ quy định bắt buộc gồm sáu nội dung của hợp đồng với việc pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền tự do thoả thuận hợp đồng. Hơn nữa, Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) hiện có hơn 60 nước phê chuẩn quy định tối thiểu về các nội dung bắt buộc này, chỉ xoay quanh ba điều khoản: tên hàng; số lượng và giá cả (Điều 14 Công ước Viên 1980). - Vì những lý do trên, để phù hợp hơn với pháp luật quốc tế cũng như tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận hợp đồng của các chủ thể, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá cả, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các nội dung khác (Điều 402). Rõ ràng, quy định mới về nội dung của hợp đồng là nhằm giúp các bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa họ chứ không phải để ràng buộc hay hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ. 6- Hình thức của hợp đồng phải hợp pháp. Hình thức của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Trong thực tiễn thương mại quốc tế, phần lớn các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đều được lập thành văn bản. Hình thức văn bản là cần thiết về phương diện chứng cứ trong giao dịch quốc tế. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (Điều 3, 27 Luật thương mại 2005). TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11. [2] Nguyễn Thị Mơ (chủ biên), (2005), Sửa đổi Luật thương mại Việt Nam 1997 phù hợp với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. [3] Luật Thương mại số 36/2005/QH11. [4] Nghị định số 44/2001/NĐ-CP ngày 2/8/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/1998/NĐ-CP.
  11. [5] Nghị định số 12/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài. [6] The United Nations Convention on the Contract for the International Sale of Goods (CISG). [7] Tổng cục hải quan, (1998), Các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính Phủ và các quy định liên quan đến cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội. [8] Trần Thị Hoà Bình, Trần Văn Nam (đồng chủ biên), (2005), Giáo trình luật thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội. [9] UNIDROIT, Principles of International Commercial Contracts (PICC 1994). [10] Vũ Hữu Tửu, (2002), Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. Hợp đồng mua bán quốc tế WEDNESDAY, 23. JANUARY 2008, 07:51:28 , LAW, Hợp đồng mua bán quốc tế Sale Contract I. Khái quát về hợp đồng mua bán quốc tế 1. Khái niệm Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng. Ðịnh nghĩa trên đây nêu rõ: Bản chất của hợp đồng này là sự thoả thuận của các bên ký kết (các bên đương sự). Chủ thể của hợp đồng là Bên bán (bên xuất khẩu) và bên mua (bên nhập khẩu). Họ có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau. Bên bán giao một giá trị nhất định, và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá (Counter value) cân xứng với giá trị đã được giao (Contract with consideration). Ðối tượng của hợp đồng này là tài sản; do được đem ra mua bán tài sản này biến thành hàng hoá. Hàng hoá này có thể là hàng đặc tính (Specific goods) và cũng có thể là hàng đồng loại (Generic goods). khách thể của hợp đồng này là sự di chuyển quyền sở hữu hàng hoá (chuyển chủ hàng hoá). Ðây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê mướn (vì hợp đồng thêu mướn không tạo ra sự chuyển chủ), so với hợp đồng tặng biếu (vì hợp đồng tặng biếu không có sự cân xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi). 2. Ðiều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán quốc tế . Theo điều 81 của . Hợp đồng mua bán quốc tế có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: (a) Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lý. (b) Hàng hoá theo hợp đồng là hàng hoá được phép mua bán theo quy định của pháp luật. (c) Hợp đồng mua bán quốc tế phải có các nội dung chủ yếu mà luật pháp đã quy định. (d) Hình thức của hợp đồng phải là văn bản.
  12. Dưới đây chúng ta phân tích bốn (04) điều kiện nói trên. Về điều kiện (a) : Chủ thể của hợp đồng mua bán quốc tế. Về phía Việt Nam, theo nghị định 57/1998/ NÐ - CP ngày 31/7/1998, phải là doanh nghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đã đăng ký mã số kinh doanh XNK tại cục hải Quan tỉnh, thành phố. Doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu. Ðối với mặt hàng được phép NK, XK có điều kiện, họ phải xin được hạn ngạch (trường hợp hàng thuộc nhà nước quản lý bằng hạn ngạch) hoặc được giâý phép (trường hợp hàng thuộc diện nhà nước quản lý bằng giấy phép kinh doanh XNK). Về điều kiện (b) đối tượng hợp đồng phải là hàng được phép xuất nhập khẩu theo các văn bản pháp luật hiện hành. Về điều kiện (c) nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản, mà theo điều 50 của Luật thương mại, buộc phải có. Ðó là: - Tên hàng - Số lượng; - Quy cách chất lượng; - Giá cả; - Phương thức thanh toán; - Ðịa điểm và thời gian giao nhận hàng. Ngoài ra các bên có thể thoả thuận thêm những nội dung, những điều khoản cho hợp đồng. Về điều kiện (d) hình thức hợp đồng phải là hình thức văn bản. Ðó có thể là bản hợp đồng (hoặc bản thoả thuận ) có chữ ký của hai bên, cũng có thể là những thư từ, điện tín, điện chữ, thư điện tử bao gồm: Chào hàng + Chấp nhận chào hàng = Hợp đồng đã giao kết Hoặc Ðặt hàng + Xác nhận đặt hàng = 3. Nội dung chủ yếu của một hợp đồng mua bán quốc tế Một hợp đồng mua bán quốc tế thường gồm có hai phần: Những điều trình bày (representations) và các điều khoản và điều kiện (terms and conditions) · Trong phần những điều trình bày, người ta ghi rõ: a. Số hợp đồng (contract No.). b. Ðịa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng. Ðiều này có thể được ghi ngay trên cùng như: Hà Nội June 20th 2003 hoặc “The present contract was made and entered into at Hanoi on this June 20th 2003 by and between”. Cũng có nhiều trường hợp, người ta lại ghi địa điểm và ngày tháng ký kết ở phần cuối hợp đồng. Ví dụ: The present contract was made at Hanoi on June 20th 2003 in quadruplicate of equal force, two of which are kept by each party”.a. Tên và địa chỉ của các đương sự. d. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng. Những định nghĩa này có thể rất nhiều, ví dụ hàng hoá có nghĩa là thiết kế có nghĩa là. Chí ít, người ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây: “ABC company, address…, Tel … represented by Mr. … herein-after referred to as the Seller (or the Buyer)” e. Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Ðây có thể là hiệp định chính phủ ký kết ngày tháng , cũng có thể là Nghị định thư ký kết giữa Bộ nước với Bộ.. nước. Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của hai bên khi ký kết hợp đồng. Ví dụ: “It has been mutually agreed that the Seller commits to sell and the Buyer commits to buy the undermentioned goods on the following terms and conditions”.*Trong phần các điều khoản và điều kiện người ta ghi rõ các điều khoản thương phẩm (như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì); Các điều khoản tài chính (như giá cả và cơ sở của giá cả, thanh toán, trả tiền hàng, chứng từ thanh toán);
  13. Các điều khoản vận tải (như: điều kiện giao hàng, thời gian và địa điểm giao hàng); Các điều khoản pháp lý (như: Luật áp dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất khả kháng, trọng tài) Các bạn có thể tham khảo hợp đồng mẫu , những chỗ chữ màu đỏ trong hợp đồng đã bị thay đổi. Contracts, Invoice and Packing List Samples , and Ivoice , phiếu đóng gói và hoá đơn mẫu. Chúc các bạn gặp nhiều may mắn. B.W Vũ Đức Hoàn YM: michaelhoan sưu tập bài giảng của Giảng viên cao cấp, Nhà giáo ưu tú Vũ Hữu Tửu - Đại học Ngoại Thương P/S: Tranh chấp: " Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giả quyết chung thẩm tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam, the Qui tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này" "All disputes arising out of or in relation to this contract shall be finally setted by the Vietnam International Arbitration Center at the Vietnam Chamber of Commerce and Industry in accordance with its Arbitration Rules" BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI DƯỚI GIÁC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM[1] (Bài viết đăng trong Tạp chí luật học - ĐH Luật HN số tháng 5/2008) “Cũ người mới ta” - khi câu chuyện về licensing (hợp đồng li- xăng), rồi chuyển giao công nghệ đã dần trở nên quen thuộc với Việt Nam thì vài ba năm lại đây giới thương nhân, những nhà nghiên cứu luật học, kinh tế học lại sôi nổi luận bàn về nhượng quyền thương mại (Franchising) - được coi như “người anh em” của hai hoạt động nói trên[2]. Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc nhận quyền thương mại từ các doanh nghiệp - những thương hiệu mạnh của nước ngoài đã, đang và chắc hẳn vẫn còn là một xu hướng chủ đạo. Một vài doanh nghiệp lớn của Việt Nam cũng đã và sẽ dùng nhượng quyền thương mại như
  14. một công cụ hữu dụng để mở đường ra thế giới. Đặt trong bối cảnh đó, tạm chấp nhận với những gì đang có của pháp luật Việt Nam dành cho hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung để đi tìm khuôn khổ pháp lý và chia sẻ vài suy nghĩ bước đầu về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài (International Franchise Agreement)[3] dưới giác độ pháp luật Việt Nam chính là mục tiêu của bài viết này. 1. Đôi nét về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung Như “cây phải có gốc”, bàn luận về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài rõ ràng và dứt khoát phải trên cái nền hiểu biết về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung. Trong bối cảnh mà quan niệm về nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam vẫn còn nhiều khác biệt và mới mẻ thì lẽ dĩ nhiên cũng nên khởi đầu bằng những suy nghĩ mang tính cốt lõi về loại hợp đồng này. Với sự xuất hiện ở Mỹ từ những năm 1850 và bắt đầu lan rộng từ năm 1980 thì những định nghĩa về nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại dĩ nhiên cũng hết sức đa dạng[4]. Trong khi đó, cho dù nhượng quyền thương mại đã “chớm nở” từ năm 1990 ở Việt Nam với sự xuất hiện thậm chí của những nhà nhượng quyền nội địa như Cà phê Trung Nguyên (1996), AQ Silk (2002)... nhưng dưới góc độ pháp lý thì phải sau một thời gian náu mình với cái tên “cấp phép đặc quyền kinh doanh”[5] nhượng quyền thương mại mới chính thức được thừa nhận trong Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (LTMVN 2005). Đáng tiếc rằng, dù Điều 285 LTMVN 2005 đã có được cái tên là “hợp đồng nhượng quyền thương mại” và tại Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định 35) đã có hai định nghĩa khá rõ về “hợp đồng phát triển quyền thương mại” và “hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp” nhưng rốt cuộc nội dung của Điều 285 chỉ nói về hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Dẫu
  15. vậy, dựa vào định nghĩa về hoạt động nhượng quyền thương mại tại Điều 284 LTMVN 2005 và các quy định pháp luật liên quan có thể gián tiếp rút ra quan niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam như sau: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: 1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền được nhận một khoản tiền nhượng quyền, có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh” . Nếu tham khảo định nghĩa của pháp luật các nước, các hiệp hội, các nhà khoa học trên thế giới và thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại thì có thể nhận ra cách quan niệm của Việt Nam chưa thực sự lột tả hết nội dung của loại hợp đồng này. Điều dễ nhận ra nhất là đối tượng của hợp đồng này có thể còn bao hàm nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khác chứ không chỉ là một vài đối tượng được chỉ ra tại Điều 284. Chẳng hạn, tại sao đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại không thể gồm cả nhãn hiệu dịch vụ mà chỉ là nhãn hiệu hàng hóa?
  16. Bỏ qua những hạn chế về quan niệm của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại, cũng cần nhận diện chủ thể, hình thức và nội dung của loại hợp đồng này theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại, quy định của LTMVN 2005 và Nghị định 35 cho thấy để trở thành chủ thể của loại hợp đồng này thì trước hết phải là thương nhân (thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài). Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam còn đòi hỏi các điều kiện kèm theo đối với chủ thể nhượng quyền và nhận quyền. Cụ thể là thương nhân nhượng quyền phải hội đủ các điều kiện như[6]: thứ nhất, hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được ít nhất 01 năm (nếu thương nhân Việt Nam là bên nhận quyền sơ cấp từ bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại); thứ hai, đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Trong khi đó, điều kiện đối với bên nhận quyền là phải có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với hoạt động nhượng quyền thương mại. Về hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại, Điều 285 LTMVN 2005 quy định hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản gồm có điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Dù pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa cụ thể về hợp đồng nhượng quyền thương mại, nhưng cũng đã khuyến cáo những nội dung cần có của hợp đồng này, đó là[7]: nội dung của quyền thương mại; quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền; quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền; giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán; thời hạn hiệu lực của hợp đồng; gia hạn, chấp dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Cũng
  17. với những quy định từ Nghị định 35 thì một trong những vấn đề then chốt của nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại đã được đề cập - đối tượng của hợp đồng. Theo đó, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại” và nội hàm của quyền thương mại được xác định bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau[8]: a) Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền; b) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung[9]; c) Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; d) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại. Trong đó, cần thấy rằng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không phải bất kỳ loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng được phép tiến hành nhượng “quyền thương mại”. LTMVN 2005 và Nghị định 35 quy định hàng hóa, dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại phải là hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh. Đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh, Danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành
  18. cấp Giấy phép kinh doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện kinh doanh. 2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài Tìm về nội hàm khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài Khi mà định nghĩa về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung không tồn tại, thì đương nhiên việc pháp luật Việt Nam không chỉ rõ thế nào là hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng là điều dễ hiểu! Đặt trong bối cảnh hợp đồng nhượng quyền thương mại là một loại hợp đồng thương mại, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 (BLDSVN 2005) chính thức được xây dựng với vai trò là một “đạo luật mẹ” bao trùm cả về thương mại, lao động, hôn nhân gia đình thì hoàn toàn có thể vận dụng Điều 758 BLDSVN 2005 quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài để làm rõ nội hàm khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài. Điều đầu tiên dễ nhận ra đó là để trở thành một hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài thì: thứ nhất, phải là hợp đồng nhượng quyền thương mại; và thứ hai, phải có yếu tố nước ngoài. Nếu theo quy định mang tính chung cho mọi quan hệ dân sự thì yếu tố nước ngoài có thể rơi vào chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc đối tượng của quan hệ. Liệu điều đó có xảy ra với hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài? Trước hết, về chủ thể, hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có yếu tố nước ngoài khi có sự tham gia của ít nhất một trong các bên chủ thể là thương nhân nước ngoài. Với quy định tại khoản 1 Điều 16 LTMVN 2005 thì thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận. Theo đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa Cà phê Trung Nguyên với Daisu Corporation (Nhật Bản) năm 2001, giữa AQ Silk với một thương
  19. nhân Mỹ vào năm 2002,... đều là những hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài. Về sự kiện pháp lý của quan hệ, nếu theo Điều 758 BLDSVN 2005 thì hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có yếu tố nước ngoài khi sự kiện xác lập, sự kiện thay đổi hoặc sự kiện chấm dứt quan hệ nhượng quyền thương mại diễn ra ở nước ngoài. Trường hợp này hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại. Chẳng hạn, hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa Phở 24 cho các bên nhận quyền là thương nhân Việt Nam nhưng hợp đồng được ký ở Singapore thì hợp đồng nhượng quyền thương mại đó cũng được coi là có yếu tố nước ngoài... Nhưng với trường hợp đối tượng của hợp đồng có yếu tố nước ngoài, mà theo như Điều 758 là “tài sản liên quan đến quan hệ nằm ở nước ngoài”, thì liệu có xảy ra đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài? Như đã phân tích ở trên, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại”, dĩ nhiên đã là quyền thì thuộc về “tài sản vô hình” - nghĩa là không thể xác định được nó đang ở đâu. Vì lẽ đó, không thể xảy ra tình huống hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài xuất phát từ việc đối tượng của nó có yếu tố nước ngoài. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, một hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có yếu tố nước ngoài khi xuất hiện một trong các yếu tố sau: thứ nhất, chủ thể của hợp đồng có sự tham gia của thương nhân nước ngoài; thứ hai, khi sự kiện xác lập hoặc sự kiện thay đổi hoặc sự kiện chấm dứt hợp đồng diễn ra ở nước ngoài. Vấn đề chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài Xem xét về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài trước hết cần xác định chủ thể của nó cần thỏa mãn những điều kiện gì. Điều này không hề đơn giản, bởi lẽ nó phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật của mỗi nước. Theo pháp luật Việt Nam, vấn đề năng lực chủ thể của hợp đồng nói chung được xác định theo Điều 761, Điều 762 (dành cho cá nhân) và Điều
  20. 765 BLDSVN 2005 (dành cho pháp nhân). Tuy nhiên, cần lưu ý là khác với hợp đồng nói chung, đối với năng lực chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài thì Nghị định 35 đã quy định rõ điều kiện dành cho thương nhân nhượng quyền và thương nhân nhận quyền dù đó là thương nhân Việt Nam hay thương nhân nước ngoài [10]. Theo đó thì chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng cần thỏa mãn các điều kiện giống như chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung (đã nói ở phần trên). Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài Do Nghị định 35 xác định đối tượng áp dụng là cả thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền nên rõ ràng các quy định về hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung được hiểu là dành cho cả hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài. Nghĩa là hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Tham khảo thêm Điều 12 Nghị định 35 thì “Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập bằng tiếng Việt. Trường hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận”. Như vậy, về nguyên tắc mọi hợp đồng nhượng quyền thương mại trong đó bao hàm cả hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài phải được lập bằng văn bản dưới ngôn ngữ là tiếng Việt. Duy chỉ có trường hợp đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài mà bên nhượng quyền là thương nhân Việt Nam và bên nhận quyền là thương nhân nước ngoài thì ngôn ngữ có thể theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên. Nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
nguon tai.lieu . vn