Xem mẫu

  1. TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 9 - Thaùng 4/2012 VĂN HOÁ – MỘT CÔNG CỤ TRONG CHÍNH SÁCH THỰC DÂN MỚI CỦA MĨ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1954 ĐẾN 1975 TRẦN THỊ KIM OANH(*) TÓM TẮT Trong quá trình tiến hành chiến tranh tại Việt Nam, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, đế quốc Mĩ đã sử dụng văn hoá như một công cụ đắc lực và hữu hiệu để tạo ra nơi đây một lối sống “gấp”, sống chỉ biết hưởng thụ, nhằm nô dịch về văn hoá và hủy hoại những giá trị văn hoá truyền thống. Giá trị văn hoá được Mĩ áp dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là thứ văn hoá mị dân, chính yếu tố văn hoá đó đã tác động không nhỏ đến xã hội miền Nam Việt Nam thời kì bấy giờ. Từ khoá: văn hoá, giá trị truyền thống, công cụ, nô dịch, miền Nam Việt Nam ABSTARCT During the Vietnam war, with the purpose of turning Vietnam into a new colony, the U.S.A used culture as a capable and effective tool which created a rushing “quick” lifestyle of enjoying life to subjugate and destroy the values of the traditional culture. They also used a kind of demagogic culture whose impact on Vietnamese society in the South of Vietname at that time was considerable. Key words: culture, traditional values, tool, neocolonialism, subjugate, Southern Vietnam Văn hoá là một khái niệm rộng, là nền hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa tảng tinh thần của xã hội, là một mặt trận, hẹp. Văn hoá mang nghĩa rộng được hiểu là mục tiêu phát triển của xã hội. Theo Hồ “là toàn bộ phức hệ bao gồm hiểu biết, tín Chí Minh, văn hoá được hiểu “Vì lẽ sinh ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài phong tục tập quán và những khả năng và người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn tập quán khác mà con người có được với tư ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa cách là một thành viên của xã hội”- theo học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những Taylor. Giá trị văn hoá theo nghĩa hẹp công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt được hiểu là những giá trị tinh thần đặc thù ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ của một quốc gia dân tộc nhằm có sự phân những sáng tạo và phát minh đó tức là văn biệt giữa quốc gia dân tộc này với dân tộc hoá”(Hồ Chí Minh toàn tập,tr.431). Theo khác. Theo đó, văn hoá ở góc độ nghĩa hẹp đó, văn hoá ở đây được hiểu là sự phát được UNESCO định nghĩa như sau: “Văn triển, là sản phẩm con người tạo ra trong hoá đó là tổng thể sống động các hoạt động quá trình lao động và hưởng thụ cuộc sống, sáng tạo của con người diễn ra trong quá nhằm mục đích sinh tồn. Văn hoá được khứ cũng như diễn ra trong hiện tại. Qua hàng thế kỉ các hoạt động sáng tạo ấy đã (*) CN, Trường ĐH Kĩ thuật Công nghệ Thành phố cấu thành nên một hệ thống các giá trị, Hồ Chí Minh 62
  2. truyền thống thị hiếu thẩm mĩ và lối sống ngày càng phát triển phù hợp với xã hội mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định Việt Nam. Cuối cùng, giá trị văn hoá bản sắc riêng của mình”. truyền thống của dân tộc là phải đảm bảo Như vậy, xét ở góc độ văn hoá theo cả được tính ổn định, nghĩa là giá trị văn hoá định nghĩa rộng và hẹp, văn hoá ở đây truyền thống như Việt Nam nói riêng phát được hiểu ở mỗi dân tộc dù có trình độ triển qua nhiều thế hệ khác nhau càng được phát triển cao hay thấp thì đều có những tinh lọc và phát triển, hướng đến những giá giá trị đặc trưng riêng của mình. Việt Nam trị cao nhất là chân thiện mĩ và được thừa mặc dù trải qua quá trình dài đấu tranh nhận. Như vậy, lúc này giá trị văn hoá chống chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhưng truyền thống ở đây đóng vai trò khuôn mẫu giá trị văn hoá truyền thống không vì thế có định hướng dưới dạng phong tục tập mà nhạt phai, ngược lại ngày càng dày lên quán, giá trị nghệ thuật hay các nghi lễ dân theo thời gian. Yếu tố truyền thống trong tộc, yếu tố luật pháp. Tóm lại, giá trị văn văn hoá Việt Nam là một yếu tố giàu giá trị hoá truyền thống vốn có của Việt Nam mà giống như giáo sư Trần Văn Giàu đã phải là những yếu tố văn hoá đảm bảo các từng nói “Giá trị truyền thống được hiểu là đặc tính trên, trong đó giá trị truyền thống là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới đóng vai trò vừa là góp phần gìn giữ suy được gọi là giá trị. Thậm chí không phải tôn các giá trị mang tính nền tảng cho sự bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị mà phát triển dân tộc, theo đó giá trị truyền phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều thống chính là thước đo mang tính tích cực tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự cho sự phát triển của xã hội. Ngược lại, yếu hướng dẫn nhất định, đánh giá và dẫn dắt tố văn hoá truyền thống Việt Nam còn là hành động của một dân tộc thì mới mang nơi dung dưỡng, duy trì các giá trị bảo thủ đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị trì trệ, làm chậm đi sự phát triển của một truyền thống”. Khái quát lại, yếu tố văn yếu tố thức thời ồ ạt. Yếu tố truyền thống hoá truyền thống của Việt Nam nói riêng của dân tộc Việt Nam đựơc đánh giá ở đây phải được ra đời trên một nền tảng dân tộc, chính là một bộ phận tích cực đối với từng bền lâu và phải đảm bảo được các đặc tính giai đoạn lịch sử nhất định. như: Tính giá trị, tức là đánh giá được các Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt giá trị chuẩn mực, thước đo cho hành vi Nam, Mĩ sử dụng nhiều chính sách về văn đạo đức và giá trị ứng xử giữa con người hoá, nhằm biến văn hoá thành một trợ thủ với nhau trong một cộng đồng dân tộc. đắc lực cho mục tiêu của mình. Tuy nhiên, Trong quá trình phát triển của Việt Nam, những giá trị văn hoá thực dân được Mĩ áp giá trị văn hoá truyền thống này đã đóng dụng là thứ văn hoá “ăn xổi ở thì”, văn hoá một vai trò lớn, phân biệt cho con người ở đây chỉ mang tính chất hưởng thụ tức thời Việt Nam biết phải trái, đúng sai hướng và mị dân cao cấp, điều đó hoàn toàn đi đến cuộc sống cộng đồng chung. Giá trị ngược với nguồn gốc, giá trị văn hoá truyền tiếp theo là tính lưu truyền. Tức là, cùng thống của người Việt. Là một đất nước phát với sự phát triển của dân tộc là sự ra đời triển về kinh tế và tự do trong cuộc sống, của các giá trị truyền thống phát triển song Mĩ đang mang trong mình nhiều giá trị văn song với chiều dài phát triển lịch sử. Giá trị hoá tiến bộ từ tư tưởng đến hệ thống giáo đó được truyền tiếp qua nhiều thế hệ và dục cho tới vận dụng những giá trị thành 63
  3. tựu vật chất vào đời sống con người để làm đấu và tạo sự đồng tình ủng hộ đối với giàu lên giá trị hưởng thụ. Đó là sự phát chính quyền tay sai. Vì thế, yếu tố văn hoá triển những loại hình văn học, nghệ thuật, Mĩ đưa vào là rất khôn khéo, kiên trì và tôn giáo, tư tưởng, tính dân chủ… Đi theo công phu. Cụ thể, Mĩ cho du nhập vào miền sự phát triển nên Mĩ dễ dàng áp dụng Nam Việt Nam tất cả các trào lưu văn hoá, những bề nổi của thành tựu văn hoá đó vào hình thành nên một loại hình văn hoá gọi là một đất nước còn nghèo nàn lạc hậu như “văn hoá chợ trời”, trong đấy mỗi người có Việt Nam lúc bấy giờ. thể tự tìm thấy cho mình một món ăn tinh Với tư tưởng nổi trội của người Mĩ là thần mà mình thích nhất. Ngoài ra, dựa trên thực chứng, những giá trị tin dùng của họ là lối suy nghĩ điều kiện vật chất có thể điều những lí thuyết đã qua sự kiểm chứng, đó là khiển được con người và cột chặt con người lí do vì sao Mĩ rất khôn khéo khi sử dụng vào guồng quay của nó, vậy nên Mĩ cũng ra văn hoá như là công cụ đắc lực cho việc sức đầu tư của cải vật chất dưới hình thức thôn tính Việt Nam. Quy luật chung của các viện trợ kinh tế phát triển đất nước. Như nước trong chiến tranh là mang toàn bộ sức vậy, song song với các chính sách như diệt mạnh vào cuộc chiến từ sức mạnh quân sự chủng về mặt quân sự, áp đặt về mặt chính cho đến kinh tế chính trị và văn hoá. Bởi trị, Mĩ còn tiến hành cả chính sách diệt vậy, thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược chủng về văn hoá, nghĩa là bằng những thực dân mới tại Việt Nam, Mĩ cũng không chiêu sách văn hoá đưa ra, Mĩ muốn biến nằm ngoài quy luật đó. Mĩ đã sử dụng các những con người miền Nam Việt Nam giá trị văn hoá của họ như một công cụ đắc thành nô lệ tự nguyện. lực và hữu hiệu, như một biện pháp chiến Áp đặt văn hoá tự do kiểu Mĩ vào lược giống quân sự, phối hợp cùng các biện trong văn hoá Việt Nam, phổ biến lối sống pháp kinh tế, các chiêu sách về chính trị dân chủ vào đời sống vốn bình dị của họ, trong chiến tranh. Nếu quân sự, chính trị, cũng chính là mở ra một cuộc “chiến tranh kinh tế là các biện pháp tác chiến chiến cục bộ” về văn hoá, tạo nên một cuộc chiến lược đánh trực tiếp đối phương, thì văn hoá tranh mang dáng dấp ý thức hệ mới bằng là biện pháp tác chiến chiến lược lợi hại tác những công cụ và vũ khí văn hoá. Vì vậy, động đến tinh thần, tư tưởng nhận thức của Mĩ ồ ạt đổ vào miền Nam Việt Nam ngày phần đông người dân trong xã hội, nó là càng nhiều vật phẩm văn hoá không chỉ là nhu cầu cuộc sống phù hợp với sự phát sách vở, tài liệu, ấn phẩm, mà còn cả khối triển tự nhiên của con người. lượng lớn và chủng loại phong phú các Xét cho cùng, mục đích chính của cuộc hàng hoá tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu đời chiến tranh mà Mĩ thực hiện tại Việt Nam sống vật chất và tinh thần của người dân. nhằm chống lại sự phát triển của Chủ nghĩa Một khối lượng hàng hoá khổng lồ được đổ Cộng sản, thôn tính được Việt Nam và biến vào miền Nam Việt để nô dịch về kinh tế, Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ thông qua đó để tạo cái bóng văn hoá của tại khu vực Đông Nam Á. Mĩ muốn xóa Mĩ. Nghĩa là bằng hình thức nô dịch về văn nhoà ý thức dân tộc bao đời nay của người hoá thông qua giá trị kinh tế Mĩ đã tạo nên Việt Nam, làm lu mờ giá trị giữa ý thức dân khu vực này một sự phồn vinh mang tính tộc và giai cấp, gieo rắc tư tưởng tôn sùng chất giả tạo, sự phát triển văn hoá xã hội sức mạnh vật chất, làm tê liệt ý chí chiến gắn liền với kinh tế Mĩ vì nếu Mĩ ngừng 64
  4. cung cấp thì ở nơi đó lại nhanh chóng trở các loại hình văn hoá ấy, đó chính là các lại tình trạng đói rách tiêu điều. Đó là một phương tiện thông tin đại chúng và truyền sự phát triển đi ngược với quy luật của xã thông. Ngoài những giá trị hưởng thụ vật hội và sự phát triển văn hoá truyền thống chất thiết thực như ăn, mặc… thì Mĩ hướng khi sự phát triển văn hoá không đi đôi với người dân vào những thứ văn hoá tinh thần một nền kinh tế bền vững. mới như: đọc, xem, ca kĩ, giải trí thông qua Lối sống Mĩ được thổi vào Việt Nam vô tuyến, truyền hình, truyền thanh. làm bùng lên sự ham thích tiêu dùng về vật Nếu như những giá trị văn hoá giải trí chất, hướng tính cách con người Việt vào tinh thần đều mang ý nghĩa tốt đẹp, thì đó guồng quay của sự đam mê hưởng thụ, là điều không phải bàn, tuy nhiên điều biến tiện nghi vật chất từ chỗ phục vụ lợi đáng nói ở đây chính là sự luồn lách rất ích con người thì lại trở thành mục tiêu khéo, không mang tính lộ liễu hay áp đặt khẳng định mình buộc con người phải một thứ văn hoá “phản văn hoá”, đã tác hướng tới dù bằng mọi giá. So sánh với động mạnh đến những con người nhẹ dạ, yếu tố truyền thống thì điều này đã làm đua đòi tiếp thu “lối sống Mĩ” một cách băng hoại giá trị con người Việt Nam. Yếu kệch cỡm. Quần chúng nhân dân bị “Mĩ tố văn hoá Mĩ áp dụng đang đánh vào tâm hoá” thông qua thế giới ca nhạc, điện ảnh lí chung của con người, tức là khi thoả mãn là một thủ đoạn tinh vi mà đạt hiệu quả một số nhu cầu về vật chất mà nhu cầu đó cao. Như vậy, mặt trái của các loại hình chỉ là ảo tưởng, chỉ thoả mãn giá trị ham văn hoá ấy đã tác động mạnh mẽ đến xã muốn nhất thời thì kết quả con người sẽ hội miền Nam Việt Nam, làm ảnh hưởng biến thành một thứ “phản xạ có điều kiện” tiêu cực đến một bộ phận dân cư rất lớn, phụ thuộc vào thứ vật chất ảo tưởng đó. biến nơi đây trở thành nơi xảy ra nhiều tệ Như vậy, đời sống người dân ở miền Nam nạn xã hội như cướp bóc, đĩ điếm. Nói một Việt Nam càng đi sâu vào cuộc sống hưởng cách sâu xa hơn, những yếu tố văn hoá ấy thụ hào nhoáng càng bị cột chặt vào viện ít nhiều đã làm làm băng hoại những giá trị trợ Mĩ, tạo điều kiện tâm lí “thích Mĩ” và văn hoá truyền thống của người Việt. mất đi tính độc lập vốn có. Mô hình chung Cũng nhằm mục đích phục vụ cho các kinh tế đi đôi với văn hoá đã trở thành một chiến lược của Mĩ trong thời kì chiến tranh thứ xiềng xích, một thứ nô lệ kiểu mới làm Việt Nam, Mĩ lập ra nhiều tập đoàn cố vấn mê muội con người và băng hoại ý thức về quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá tại dân tộc, lí tưởng và đạo đức, buộc người Việt Nam. Cụ thể, Mĩ cho xây dựng nhiều dân miền Nam Việt Nam hòa nhập vào chế tổ chức văn hoá thông tin như: sở thông tin độ thực dân mới nằm trong chiến lược Hoa Kì (U.S.I.S), cơ quan phát triển quốc “chiến tranh không súng đạn” của Mĩ. tế Hoa Kì (U.S.A.I.D), trung tâm tình báo Ngoài ra, để làm lu mờ các giá trị văn Hoa Kì (C.I.A), bộ phận tiếp vận đài tiếng hoá truyền thống Việt Nam, Mĩ còn thực nói Hoa Kì… Mỗi bộ phận đảm nhận một hiện trên đất nước này chính sách văn hoá chức năng riêng, nhưng không nằm ngoài tư tưởng theo kiểu “cách mạng nhàn rỗi đi mục tiêu chung là sử dụng nó như một theo cách mạng tiêu dùng”(3, tr.143). Bởi công cụ để xâm chiếm về mặt văn hoá. khi nói đến nô dịch về văn hoá, không thể Ngoài các trung tâm đó, Mĩ còn thực hiện không nói đến các phương tiện chuyên chở tác động trên lĩnh vực văn hoá thông tin 65
  5. thông qua các tổ chức văn hoá tư nhân, như Một vài giá trị văn hoá như một cuốn trung tâm nghiên cứu quốc tế thuộc viện kĩ phim, một cuốn truyện có thể tạo ra sự phù thuật Mat-sa-su-set-tơ, Viện nghiên cứu phiếm trước mắt, một cuốn phim có thể Hút-sơn… Các tập đoàn này ra đời nhằm làm giảm mệt mỏi hay tạo sự giải trí thoát hướng hoạt động vào mục tiêu phục vụ ly trong chốc lát nhưng không dễ gì thay chính sách của Mĩ ở Việt Nam, bằng cách thế được những tuồng, cải lương, những kí kết hợp đồng thực hiện hoặc tài trợ cho giá trị văn hoá dân tộc đã trường tồn nhiều các công trình do chúng tiến hành. thế kỉ trong tâm thức của con người vốn rất Đồng thời, ngay từ khi vào Việt Nam, yêu nước và tự tôn dân tộc cao như người Mĩ thực hiện chính sách thu hồi chủ quyền Việt Nam. Bởi vậy, sự tẩy chay thứ văn đại học từ tay người Pháp, cải tổ chương hoá không phù hợp ấy để bảo vệ giá trị trình giáo dục, phát triển bình dân học vụ, truyền thống của dân tộc là hoàn toàn hợp phát triển chương trình du học tu nghiệp và lí, bởi lẽ đó là cả sinh mệnh văn hoá không du học ngoại quốc tại nhiều nước như Úc phải tức thời sản sinh ra được. đại lợi, Tây Đức, Nhật Bản, Đài Loan và Xét cho cùng, thực chất những biện nhất là Hoa Kì. Không phủ nhận nhiều giá pháp văn hoá mà thực dân Mĩ áp dụng tại trị văn hoá Mĩ đã đáp ứng được nhu cầu miền Nam Việt Nam thời kì chiến tranh thiết yếu và tạo giá trị thiết thực, ví dụ sự Việt Nam chỉ là yếu tố hình thức. Lấy yếu nâng cao về chất lượng giáo dục, cơ sở tố văn hoá che mờ cốt lõi và luồn vào đó là thông tin truyền thông, đưa người dân đến âm mưu thôn tính dân tộc một cách toàn gần hơn và tiếp cận được với những giá trị diện, áp đặt tư tưởng Mĩ lên toàn bộ hệ văn minh của cuộc sống. Tuy nhiên, xét thống xã hội miền Nam Việt Nam, bài trừ cho cùng những giá trị văn hoá Mĩ đưa vào những giá trị văn hoá truyền thống xây đó cũng chỉ là một công cụ, một chiến lược dựng bao đời của người dân nơi đây. Đối cấu thành hoàn chỉnh trong âm mưu thôn với một đất nước còn nghèo nàn lạc hậu và tính Việt Nam bên cạnh các chiến lược về chưa phát triển như Việt Nam thời kì bấy kinh tế, quân sự, chính trị. Sự phát triển về giờ, yếu tố văn hoá mới kiểu Mĩ với những văn hoá nhưng kèm theo những giá trị làm chính sách hiện đại được đánh giá như là tha hoá con người vì thế mà hướng con một luồng gió mới, làm tha hoá một bộ người chỉ biết đến những giá trị trước mắt, phận người dân. Điều quan trọng là đi cùng giá trị hào nhoáng bên ngoài là đi ngược – phối hợp cùng các biện pháp văn hoá đó, với yếu tố văn hoá truyền thống của dân Mĩ áp dụng nhiều biện pháp chiến lược tàn tộc. Lấy yếu tố văn hoá mới để làm lu mờ bạo về chính trị, quân sự. Bom đạn, chất hoặc xóa bỏ văn hoá cũ là hoàn toàn không độc hoá học, bắt bớ giam cầm, giết chóc thể chấp nhận. Những thứ văn hoá “phản tàn bạo… được áp dụng trong suốt các thời văn hoá” đã bộc lộ rõ nét mục đích mị dân kì chiến tranh. Chính sự xâm lược của Mĩ và phản động của văn hoá thực dân mới Mĩ. càng làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân Đó là những lí do để người Việt Nam, dù ở tộc của phần lớn người dân ở miền Nam bên nào trong cuộc chiến, dù có lúc nhận Việt Nam. Vì vậy, tinh thần dân tộc, tinh thấy cái văn minh hơn, hiện đại hơn của thần đoàn kết dần được khôi phục sau văn hoá Mĩ, cuối cùng tất cả vẫn phải tẩy những năm bị văn hoá Mĩ càn quét nặng chay văn hoá Mĩ, vẫn chống Mĩ xâm lược. nề. Từ Sài Gòn đến Huế, xuống nhiều tỉnh 66
  6. miền Tây đã xuất hiện nhiều tổ chức quần dễ dàng thay đổi, không dễ dàng xóa và chúng công khai mang tinh thần bảo vệ văn cướp được của họ. Tính lưu truyền và tính hoá dân tộc, trong đó đặc biệt đã thu hút ổn định đã tạo nên dáng vẻ riêng của văn được nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, lực lượng hoá truyền thống dân tộc, dù là đối đầu với tiến bộ trong xã hội. kẻ thù tàn độc, mưu mô như Mĩ thì cuối Tóm lại, Mĩ có thể ồ ạt đổ quân chiến cùng dân tộc Việt vẫn tìm thấy sức mạnh vĩ đấu vào Việt Nam, có thể thực hiện nhiều đại trong giá trị văn hoá truyền thống, để biện pháp tàn bạo để chiếm đoạt và thôn biết phân biệt phải trái, đúng sai và giữ gìn tính, nhưng rõ ràng Mĩ không dễ và không giá trị truyền thống dân tộc, bảo vệ đất thể áp dụng được một tư duy văn hoá mới nước. Cuối cùng dù có sử dụng các biện của mình lên toàn bộ miền Nam Việt Nam pháp nào cho cuộc chiến tranh Việt Nam, và nói chung là lên một đất nước có nền Mĩ vẫn thất bại hoàn toàn bởi tinh thần yêu văn hoá sâu sắc của họ. Tuy rằng đó là một nước phát triển thành chủ nghĩa yêu nước luồng văn hoá trong một giai đoạn bị người đó không chỉ là một nét đẹp đạo đức mà Việt tẩy chay nhưng vết ố của nó vẫn còn còn là một nét văn hoá kết tinh thành giá trị để lại đến nhiều năm sau đó bởi những ấn bền vững của văn hoá truyền thống dân tộc phẩm văn hoá đó không nằm trong tay Việt Nam. Chính giá trị văn hoá này là cốt người bán hàng nhưng nó đã nằm trong lõi làm nên sức sống con người Việt Nam tâm trí của người sử dụng. Đối với người nói chung, quân dân miền Nam Việt Nam Việt, văn hoá là món ăn tinh thần, giá trị nói riêng. truyền thống, là yếu tố mà người Mĩ không TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Cb) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2. Đặng Ngọc Tiến Dũng (2001), Hoa Kì phong tục và tập quán, Nxb Trẻ TP.Hồ Chí Minh. 3. Phong Hiền (1984), Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mĩ ở Miền Nam Việt Nam (Khía cạnh tư tưởng và văn hoá 1954-1975), Nxb Thông tin Lí luận, Hà Nội. 4. Thành Lê (2001), Văn hoá và lối sống, Nxb Thanh Niên, Hà Nội. 5. Hồ Chí Minh (1995) toàn tập, in lần 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 6. Lữ Phương (1981), Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam, Nxb Văn hoá, Hà Nội. 7. Võ Nhân Trí (1978), Khía cạnh kinh tế của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ ở miền Nam Việt Nam, tuần báo Đại đoàn kết, số 18. 8. Viện lịch sử quân Việt Nam (tập 11) (2005), Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. * Nhận bài ngày 27/2/2011. Sửa chữa xong 30/3/2012. Duyệt đăng 5/4/2012. 67