Xem mẫu

  1. Nghiên cứu - Trao đổi VĂN BIA QUẢNG NAM THEO DÒNG NGHIÊN CỨU, HỌC THUẬT ? Nguyễn Hoàng Thân * Văn bia là tư liệu có giá trị trên nhiều phương diện của dân tộc trong quá khứ. Văn bia Quảng Nam đa dạng về văn tự, phong phú về nội dung. Song, văn bia Quảng Nam chưa được quan tâm, nghiên cứu, khai thác hiệu quả. Bài viết này bước đầu điểm kê, bình giá quá trình học thuật, nghiên cứu về văn bia Quảng Nam. 1. Văn bia Quảng Nam - Từ khởi nguyên định danh 1.1. Văn bia Văn bia là chỉ bài văn khắc trên bia đá [20: 7] [1: 23], hoặc có thể hiểu là khắc trên một diện tích bằng đá [20: 7]. Bia vốn là âm “bi” xuất hiện cùng những chiếc bia đầu tiên vào thời nhà Chu [23: 78] [1: 23], mà chính xác là vào thời Đông Chu (777 - 384 TCN) [22: 210]. Ban đầu bia chỉ là những cột đá được dựng ở cửa miếu dùng để buộc vật tế sinh và đo bóng mặt trời [1: 23] [19: 9] [10: 18] [23: 78] hay những cột gỗ chôn bên huyệt mộ để buộc dây thả quan tài [19: 9], [10: 18] [23: Ngoài ra, người xưa còn khắc chữ trên đồ đồng 78]. Bia này ban đầu vốn không có chữ, về sau được như đỉnh, chuông, khánh, vạc… được gọi là “kim khắc bài văn trên bia - Đinh Khắc Thuân cho rằng bắt thạch lục” hoặc “minh văn” (khoa học nghiên cứu về đầu từ thời Đông Hán [19: 9], tuy nhiên Lữ Thế Thông loại văn này là Kim thạch học hoặc Minh văn học) [20: và Hồng Nghị Hàn (Singapore) lại cho rằng bắt đầu từ 7] [1: 23] thời Tây Hán [23: 78]. Nhà kim thạch học Diệp Xương Xí 叶 昌 炽cuối Đối với tên gọi văn bia, ở Việt Nam văn bia còn đời Thanh chia văn bia thành 42 loại. Dương Điện Tuân được gọi là “bi” hoặc “bi văn” hoặc “bi ký” (khoa học 杨 殿 珣 (Trung Quốc) phân loại văn bia đơn giản hơn nghiên cứu về văn bia gọi là Bi ký học); ở Trung Quốc, Diệp Xương Xí, còn 7 loại (có loại lại phân thành một văn bia được gọi bởi các tên “bi” hoặc “bi chí” hoặc “bi số tiểu loại) [22: 214]. Theo Chu Kiếm Tâm 朱 剑 心 bản” (khoa học nghiên cứu về văn bia là Bi bản học) (Trung Quốc), văn bia khắc trên đá được phân thành 11 [20: 7]. loại (10 loại chính và 01 tạp loại). Kim thạch học 金 石 * ThS., Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng. Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng 53
  2. Nghiên cứu - Trao đổi 学 của ông đã liệt kê: Khắc thạch, bi kiệt, mộ chí, tháp Một số tác giả, tác phẩm có đề cập đến văn bia của minh, phù đồ, kinh chàng, tạo tượng, thạch khuyết, ma Trung Quốc hoặc công trình nghiên cứu về vấn đề này nhai, địa biệt, tạp loại (trụ cầu, thành giếng, bài vị, lư như Trương Hoài Quán 张 怀 瓘, Đậu Kí 窦 臮, Hàn hương…) [10: 16 - 21]. Dũ 韩 愈, Vi Ứng Vật 韦 应 物 (đời Đường), Đổng Du 董 逌, Trình Đại Xương 程 大 昌 (đời Tống), Mục 1.2. Văn bia Quảng Nam Thiên tử truyện 穆 天 子 传, Thạch cổ ca 石 鼓 歌 (Vi Văn bia Quảng Nam trước hết mang trong nó Ứng Vật, Hàn Dũ), Thạch cổ ca (Tô Đông Pha), Lí triều thuộc tính văn bia và được hạn định bởi danh xưng - bát phân tiểu truyện ca 李 潮 八 分 小 篆 歌 (Đỗ địa danh Quảng Nam, tức là những văn bia được hình Phủ), Tập cổ lục 集 古 录 (Âu Dương Tu), Kim thạch lục thành trên vùng đất Quảng Nam, không phân biệt 金石录 (Triệu Minh Thành 赵 明 诚), Bát Quỳnh thất không - thời và chủ thể sáng tác. kim thạch hạt ngụy (Lục Tăng Tường 陆 增 祥, đời Danh xưng - địa danh Quảng Nam được xác định Thanh), Ngữ thạch 语石 (Diệp Xương Xí, cuối Thanh), ở đây là địa danh hành chính - tỉnh Quảng Nam dưới Kim thạch học (Chu Kiếm Tâm, 1955), Thạch cổ vi Tần thời vua Minh Mạng, bao gồm tỉnh Quảng Nam và khắc thạch khảo 石 鼓 为 秦 刻 石 考 (Mã Hành 马 thành phố Đà Nẵng hiện nay. Chủ thể sáng tác văn 衡, 1977), Thạch khắc đề bạt sách dẫn 石 刻 提 拔 册 bia Quảng Nam chính là cư dân hay tộc người Việt, 引 (Dương Điện Tuân), Kim thạch tùng thoại 金 石 丛 Chăm, Hoa, Nhật, châu Âu đã từng cư trú, sinh hoạt ở 话 (Thi Trập Tồn 施 蛰 存, 1991), Thạch học tùng thư vùng đất Quảng Nam với cấp độ hành chính như đã 石 学 丛 书 (Trình Chương Xán 程 章 灿), Cổ khắc nêu ở trên. Song, trong bài viết này, chúng tôi vi hạn tân thuyên 古 刻 新 诠 (Trình Chương Xán, 2009)… văn bia Quảng Nam chỉ là những văn bia đơn loại chữ [22: 209-214]. Công trình nghiên cứu văn bia ở Trung Hán - Nôm và những văn bia đa văn tự có chữ Hán - Quốc có thể xếp thành “tùng thư”. Nôm, mà không xét đến những văn bia thuần túy văn Nghiên cứu văn bia ở Trung Quốc đã trở thành tự khác. học thuật từ đời nhà Tống [22: 214], ngày càng được 2. Văn bia Quảng Nam - Theo dòng nghiên cứu nhiều người “dấn thân” và có những đóng góp quan ở Trung Quốc và Việt Nam trọng cho nền khoa học xã hội nhân văn của Trung Quốc. Văn bia được hình thành một cách “tự nhiên” theo công năng vốn có. Sau khi văn bia được tạo tác, bản 2.2. Nghiên cứu văn bia ở Việt Nam thân tác phẩm tự thân trở thành đối tượng để người Giới hạn nghiên cứu ở đây tức là lấy văn bia làm ta tiếp cận, giải mã với nhiều mục đích khác nhau. đối tượng/mục đích chứ không phải lấy văn bia làm tư Nghiên cứu về văn bia cũng là một dạng trong số đó. liệu/phương tiện để nghiên cứu cho một vấn đề hay Việc nghiên cứu văn bia dường như có ở tất cả các một khoa học chuyên ngành nào đó. Vấn đề nghiên nước đồng văn - một thời cùng chung loại văn tự khối cứu, học thuật đối với văn bia ở Việt Nam được hiểu vuông. Nghiên cứu văn bia ở Trung Quốc bắt đầu sớm bao gồm các lĩnh vực: sưu tầm, sao lục, lập thư mục, hơn cả và có ảnh hưởng đến nghiên cứu văn bia ở biên dịch, nghiên cứu đại cương, nghiên cứu chuyên Việt Nam. Nghiên cứu văn bia Quảng Nam nằm trong sâu đối với văn bia. mạch nghiên cứu văn bia ở Trung Quốc và Việt Nam. Công trình đề cập đến văn bia sớm nhất ở Việt Do vậy, để nghiên cứu thấu đáo văn bia Quảng Nam Nam có lẽ là bộ Đại Việt sử ký toàn thư chép tóm lược cần tìm hiểu về tình hình nghiên cứu văn bia ở Trung 2 bài văn bia Khai Nghiêm tự bi ký của Trương Hán Siêu Quốc và nghiên cứu văn bia ở Việt Nam. và Bắc Giang Bái thôn Thiệu Phúc tự bi ký của Lê Quát. 2.1. Nghiên cứu văn bia ở Trung Quốc Những công trình khác về sau như Kiến văn tiểu lục Từ thời tiên Tần, người Trung Quốc đã quan niệm của Lê Quý Đôn đã lập một danh mục gồm 17 bài muốn lưu truyền chữ viết được lâu đời thì phải khắc minh, bài ký thời Lí - Trần, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi vào kim thạch. Điều này đã được thể hiện trong các Huy Bích công bố nhiều bài văn khắc trên bia chuông, tác phẩm Mặc Tử, Lã thị Xuân Thu [22: 209], ghi lại hiện Lê triều lịch khoa tiến sĩ đề danh bi ký của Lê Cao Lãng tượng lập bia vốn có từ thời nhà Chu như đã nói ở đã sao lục 82 bài văn bia ở Văn Miếu (Hà Nội) [10: 8] và trên. Tuy nhiên, phải đến đời Tây Hán, việc nghiên cứu nhiều thư tịch khác. văn bia mới được bắt đầu, trên nhiều phương diện: Công việc sưu tầm gắn với các cá nhân hoặc các tổ nội dung, văn thái, mỹ thuật, thư pháp của văn bia chức ở từng cấp độ, từng lĩnh vực; ở mỗi địa phương, [23: 78]. mỗi thời gian khác nhau. Tổ chức sưu tầm văn bia Việt 54 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng
  3. Nghiên cứu - Trao đổi Nam quy mô đầu tiên phải kể đến Viện Viễn đông Bác Việt Nam thế kỉ XVI (Đinh Khắc Thuân, 1997), Văn bia cổ Pháp tại Hà Nội (EFEO) đầu thế kỷ XX hơn 40 tỉnh khuyến học Việt Nam (Nguyễn Hữu Mùi, 2006). Hay với 11.651 đơn vị văn khắc (20.980 mặt thác bản). Viện như các luận văn cao học: Văn bia đình làng Bắc bộ Nghiên cứu Hán Nôm tiếp tục công việc này từ những thế kỉ XVII (Trần Thu Hường, 2003), Nghiên cứu văn năm cuối thế kỉ XX cho đến nay. Phạm vi không gian bia chợ (Đỗ Bích Tuyển, 2003), Nghiên cứu văn bia chữ sưu tầm được mở rộng, hơn 2/3 diện tích của cả nước. Nôm (Nguyễn Thị Hường, 2005)… [10: 13-14]. Ngoài Kết quả bổ sung thêm được nhiều văn bản văn bia ra, năm 2007, Nguyễn Văn Nguyên đã công bố công có giá trị [10: 9]. Từ “sản phẩm” sưu tầm văn bia, Viện trình nghiên cứu chuyên sâu Khảo sát giám định niên Nghiên cứu Hán Nôm đã tiến hành các công trình thư đại thác bản văn bia. Đây là công trình chuyên khảo mục. Đó là Thư mục văn bia (1970 - 1976), Thư mục hết sức có ý nghĩa về việc nhận chân chính xác niên bia giản lược (1984 - 1986), Danh mục thác bản văn đại của thác bản văn bia cũng như phương pháp để khắc Hán Nôm Việt Nam (1991), Văn khắc Hán Nôm khảo sát giám định niên đại văn bia trong các thác Việt Nam (1993), Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm bản. (2006), Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam Các công trình nghiên cứu về văn bia Việt Nam (2007) [10: 10-11]. hẹp về nội dung và hạn về dung lượng như các bài Những công việc trên mang tính “lưu trữ” - giữ gìn báo khoa học, tham luận khoa học chủ yếu được cho muôn đời sau. Song, lớp hậu sinh không phải ai công bố trên các tạp chí khoa học hoặc hội thảo khoa cũng thông thục Hán Nôm. Để tinh hoa trí tuệ của cha học tương đối nhiều, mà bài viết này tạm không liệt ông qua văn bia được tục truyền, các công trình biên kê. Ngoài ra, còn có các bài báo thông tấn về văn bia dịch, giới thiệu văn bia lần lượt ra đời. Đó là Thơ văn Việt Nam được đăng tải, lưu phát trên các phương Lý - Trần (1977 - 1978 - 1989), Tuyển tập văn bia Hà Nội tiện thông tin truyền thông. Những sản phẩm nghiên (1978), Văn bia xứ Lạng (1993), Văn bia thời Mạc (Đinh cứu này góp phần bổ sung, điểm túc cho bức tranh Khắc Thuân, 1996), Văn bia Hà Tây (1993), Văn khắc Hán tổng thể nghiên cứu văn bia ở Việt Nam càng hoàn Nôm Việt Nam thời Lý (1999), Văn khắc Hán Nôm Việt bích và thêm phổ cập. Nam thời Trần (2002), Văn bia Quốc tử giám Hà Nội (Đỗ 3. Văn bia Quảng Nam - Diễn trình nghiên cứu, Văn Ninh, 2000), Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia Tiến học thuật sĩ (Ngô Đức Thọ, 2002), Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh, 2006) [10: 12-13] và một số công 3.1. Tình hình sưu tập, sao lục, thác bản, số hóa, trình khác như Văn bia văn miếu Bắc Ninh (Nguyễn lập phiếu, biên dịch Quang Khải, 2000), Văn bia Nghệ An (Ninh Viết Giao, - Tình hình sưu tập - sao lục 2004), Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh (Litana - Nguyễn Cẩm Thúy, 1999), Văn bia Quảng Nam “trơ gan cùng tuế nguyệt”, Văn bia và văn chuông Hán Nôm dân gian ở Thừa Thiên lặng lẽ giữa cõi thiên nhiên. Huế (2006)… Một số nhà nho hay người có chút chữ nghĩa cảm Công trình nghiên cứu đại cương/khái luận về văn khái trước những bài văn hay trên đá, bởi khôn văn tế bia Việt Nam đầu tiên có lẽ là Văn bia Việt Nam của dại văn bia, hay có ý thức sưu tầm để lưu cho đời mình Trần Văn Giáp công bố năm 1969 trên tạp chí Nghiên hoặc/và truyền cho đời sau, đã sao lục những bài văn cứu lịch sử. Kế tiếp là Bước đầu tìm hiểu văn bản bia bia này. Văn bản một số bài văn bia Quảng Nam hiện của Trịnh Khắc Mạnh in trong Một số vấn đề văn bản còn trong các thư tịch Hán Nôm. Ví như, tổng tập học Hán Nôm (1983). Các công trình khác theo lịch đại Giá Viên toàn tập (khắc in cuối thế kỷ XIX) có sao lục như Cơ sở ngữ văn Hán Nôm - tập 4 (1987), Ngữ văn những bài văn bia Bi minh của Nguyễn Tư Giản, Trà Hán Nôm - tập 4 (2004), Cơ sở văn bản học Hán Nôm Kiệu Nguyễn Thái thường Tự khanh bi minh, Tư vụ Phạm (2007), Các thể văn chữ Hán Việt Nam (2010)… phủ quân hành trạng, Chung Đức hầu Chánh thất Nguyễn Thục nhân hành thuật… của Phạm Phú Thứ. Công trình nghiên cứu chuyên sâu về một phương Bản Hán Nôm chép tay Ngũ Hành Sơn lục của một vị diện nào đó của văn bia Việt Nam chủ yếu là các luận sư đất Quảng dưới thời Nguyễn ngoài phần nói về án như Văn bia Việt Nam và giá trị của nó trong nghiên danh thắng Ngũ Hành Sơn, tình hình phát triển Phật cứu văn học Việt Nam thời trung đại (Trịnh Khắc Mạnh, giáo ở Quảng Nam lúc bấy giờ, còn sao lục các bài văn 1990), Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh bia Phật giáo cũng như rất nhiều thơ văn đề vịnh trên hoạt làng xã (Phạm Thị Thùy Vinh, 1997), Văn bia núi Ngũ Hành. Những văn bia Phật giáo được sao lục thời Mạc và đóng góp của nó trong nghiên cứu lịch sử Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng 55
  4. Nghiên cứu - Trao đổi có thể kể Thái Bình tự thạch bi, Phổ Đà sơn linh trung Thư mục văn bia. Quyển 30 của công trình này (kí Phật, Ngũ uẩn sơn cổ tích phật tịch lạc bi. hiệu Vv 986) là thư mục về văn bia Quảng Nam, gồm khoảng 150 mục. Tất nhiên ở đây không kể ví dụ phong phú của trường hợp sao lục - chế bản văn bia trong thời gian Năm 1992, các tác giả công trình Văn khắc Hán gần đây vì một mục đích nào đó. Nôm Việt Nam lập thư mục một phần văn khắc Hán Nôm của cả nước, chia thành 4 phân mục lớn: đình, - Tình hình sưu tập - thác bản chùa, đền - miếu và từ đường - lăng mộ. Mỗi phân Năm 1944, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội mục lại chia theo địa danh hành chính cấp tỉnh, ở mỗi (EFEO) đã tiến hành điều tra và in rập bia Quảng Nam tỉnh có từng mục/phiếu văn khắc. Từng phiếu thư (hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Kết quả mục này có các nội dung: tên văn khắc, số hiệu lưu thu được khoảng 150 đơn vị tác phẩm. Văn bia Quảng trữ, lược giới nội dung của tác phẩm văn khắc. Chúng Nam sau điều tra còn được ghi chép trong bộ thư tịch tôi thống kê được 26 đơn vị tác phẩm văn bia Quảng Hán Nôm quan trọng: Quảng Nam xã chí. Nam. Vào những năm 90 của thế kỷ XX, Viện Nghiên Đến thập niên đầu của thế kỷ này, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức công tác thực địa điều tra cứu Hán Nôm tiếp tục xuất bản công trình Thư mục và thác bản bổ sung những bia trước đây chưa được thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam đồ sộ, đã in đến thu thập. Đến tháng 7 năm 2010, Viện Nghiên cứu quyển thứ 5 (trong tương lai sẽ có những quyển kế Hán Nôm lại một lần nữa vào Quảng Nam và Đà Nẵng tiếp). Đây cũng là quyển trình bày về thư mục văn bia để tiếp tục sưu tầm, in rập văn bia theo chương trình Quảng Nam. của Viện. Trước đó hai tháng, Phân viện Văn hóa Nghệ Giá trị đóng góp của ba công trình này là cung cấp thuật Việt Nam tại Huế cũng đã thành lập đoàn điền số hiệu lưu trữ, địa chỉ lưu trữ thác bản và nội dung dã sưu tầm, in rập văn bia ở đây để nghiên cứu lĩnh tóm tắt (theo kiểu thức của phiếu thư mục) của văn vực mỹ thuật đời Nguyễn. Ngoài ra, giảng viên và sinh bia cả nước nói chung và văn bia Quảng Nam nói viên ngành Hán Nôm của Trường Đại học Khoa học - riêng. Đại học Huế cũng có tổ chức một lần thực tập điền dã, sưu tầm tư liệu Hán Nôm nói chung và văn bia nói - Tình hình số hóa riêng ở Quảng Nam, Đà Nẵng vào những năm cuối Những năm đầu của thế kỷ XXI, Viện Nghiên cứu thế kỷ XX. Hán Nôm tiến hành số hóa toàn bộ thác bản văn bia Tháng 10 năm 2012, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di của cả nước để in bộ Tổng tập thác bản văn khắc Hán sản Văn hóa Hội An tổ chức điều tra, sưu tầm và in rập Nôm. Trong đó phần văn bia Hán Nôm Quảng Nam văn bia. Kết quả thu được 274 đơn vị thác bản văn bia cũng được số hóa. trên địa bàn thành phố. - Tình hình biên dịch - Tình hình lập phiếu thư mục, bảng tra Văn bia Quảng Nam được chuyển dịch đầu tiên Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, Viện Nghiên không phải thành bản tiếng Việt mà có lẽ là thành cứu Hán Nôm tiến hành lập phiếu thư mục toàn bộ số bản tiếng Pháp từ thời Pháp thuộc. Ba bài văn bia thác bản của Viện Viễn đông Bác cổ, biên soạn thành Thái Bình tự thạch bi, Phổ Đà sơn linh trung Phật, Ngũ uẩn sơn cổ tích phật tịch lạc bi được ông Albert Sallet dịch thành bản tiếng Pháp và in trong tác phẩm Les montagnes demarbre (dịch: Ngũ Hành Sơn - NHT chú). Sau này, Nguyễn Sinh Duy đã sử dụng bản dịch văn bia bằng tiếng Pháp này để dịch sang bản tiếng Việt trong tác phẩm Ngũ Hành Sơn của ông. Đến nay, rất nhiều địa phương đã công bố công trình biên dịch văn bia của địa phương mình một cách hoàn bị, như Văn bia xứ Lạng, Văn bia Hà Tây, Văn bia văn miếu Bắc Ninh, Văn bia Nghệ An, Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh, Văn bia và chuông Hán Nôm dân gian ở Thừa Thiên Huế… Nhưng Quảng Nam, Đà Nẵng chưa có một công trình 56 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng
  5. Nghiên cứu - Trao đổi ý nghĩa và giá trị như vậy! Chỉ lẻ tẻ những văn bản cứu, tạo nên Hội quán đền đài người Hoa tại Hội An dịch kèm trong hồ sơ di sản, hồ sơ di tích của các cơ (2012). Đình làng Đà Nẵng do Hồ Tấn Tuấn chủ biên, quan văn hóa tại địa phương. Trong khi đó, văn khắc công bố năm 2012, cũng được hình thành từ những Chămpa cơ bản được biên dịch hoàn chỉnh thể hiện tấm bia đình trên mảnh đất Đà Nẵng với tư cách là tư qua công trình Văn khắc Chămpa tại Bảo tàng điêu liệu nghiên cứu. khắc Chăm - Đà Nẵng công bố vào cuối năm 2012. 3.3. Văn bia Quảng Nam từ giác độ đối tượng 3.2. Văn bia Quảng Nam từ giác độ tư liệu nghiên nghiên cứu cứu Văn bia Quảng Nam trở thành đối tượng nghiên Giáo trình Cơ sở ngữ văn Hán Nôm do Lê Trí Viễn cứu được thực hiện bởi những công trình mang tính chủ biên, đã tuyển chọn tác phẩm văn bia Phổ Đà sơn chỉnh thể, xứng danh. Một số khóa luận tốt nghiệp linh trung Phật để dạy và học về phần văn bia. Bài học của sinh viên cử nhân Khoa Ngữ văn - Đại học Sư gồm 14 trang, đi từ phần nguyên văn đến phiên âm, phạm - Đại học Huế nghiên cứu về văn bia ở Quảng chú giải từ ngữ và dịch nghĩa. Như vậy, văn bia Quảng Nam như Văn khắc Hán Nôm ở hai chùa Chúc Thánh Nam mà cụ thể là bài văn bia này trở nên phổ biến vì và Phước Lâm - Hội An - Quảng Nam của Nguyễn Lãm được tất cả “môn đệ” ngành Hán Nôm nói riêng và các Thắng (1998), Văn khắc Hán Nôm ở huyện Điện Bàn ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung được lĩnh tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Thị Xuân Hiền (2007). hội cho đến tận bây giờ! Nguyễn Minh Tuân và Vũ Xuân Hiển, trong bài Lưu Trang đã sử dụng một số văn bia ở Hội An để viết Tấm bia tổ nghề yến ở Thanh Châu (Thông báo thực hiện luận văn cử nhân lịch sử Tìm hiểu lịch sử Hội Hán Nôm học 2010), đã tìm hiểu các vấn đề về hình An qua văn bia trên thực địa vào năm 1985 tại Trường thức văn bia, niên đại và tác giả, nội dung của văn bia Đại học Khoa học - Đại học Huế (hiện không còn lưu đặt tại miếu thờ vị tổ nghề khai thác yến ở Hội An. trữ). Huỳnh Công Bá khai thác và sử dụng một số văn Tuy nhiên, như lời các tác giả “bài viết này (…) không bia có liên quan đến vấn đề khẩn hoang lập làng ở nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá… mà chỉ giới thiệu Quảng Nam trong khoảng thời gian từ thế kỷ XV đến (…) là sự mô tả bước đầu” (tr. 396). thế kỷ XVIII và trình bày trong luận án tiến sĩ sử học: Bài viết Vài nét về di sản Hán Nôm ở Quảng Nam Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng của Nguyễn Phước đăng tải trên tạp chí Văn hóa Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII (Đại học Quảng Nam (số 91, tháng 01, 02.2012) có một đoạn Quốc gia Hà Nội, 1996). ngắn trình bày sơ lược về văn bia của Quảng Nam. Một số bài viết, tham luận về con người và vùng Giá trị của đoạn nghiên cứu này là giới thiệu được số đất xứ Quảng công bố trên các tạp chí hoặc hội thảo lượng ước chừng của văn bia Hán-Nôm Quảng Nam, khoa học ít nhiều dựa trên tư liệu nghiên cứu là văn khoảng trên 350 bia đá. Đồng thời, bài viết này cũng bia Quảng Nam. Có thể kể đến Dòng họ Phan xã chỉ nêu tên một số văn bia mà tác giả cho có giá trị Phong Thử với cuộc khai phá vùng đất Quảng Nam qua lịch sử văn hóa, như bia Hương Quế xã, Phạm từ phả tư liệu văn bia của Phạm Thị Thùy Vinh trong Thông ký, tại xã Hương Quế, Quế Sơn (Tự Đức thứ 25 - 1872), báo Hán Nôm học 2001, Văn bia đình đối tại miếu Văn bia Phạm tộc từ đường, tại huyện Điện Bàn (Tự Đức Thánh Minh Hương và miếu Khổng Tử - một phức thể thứ 34 - 1881), bia Phạm Phú Thứ thần đạo bi (Tự Đức của tinh thần trọng Nho ở Hội An của Nguyễn Văn Sang thứ 35 - 1882, bia Duy Xuyên phủ Triều Châu, xã Triều - Lê Thị Thu Hiền trong Thông báo Hán Nôm học 2010. Châu, Duy Xuyên (Tự Đức thứ 13 - 1860), bia Phúc Hòa, xã Phúc Hòa, Phủ Tam Kì (Chính Hòa 18 - 1697), Những bài văn bia được ví như trang sử đá. Nên bia Văn thánh từ, xã Minh Hương, Hội An (Tự Đức thứ nhìn chung, văn bia Quảng Nam cũng chỉ mới được 24 - 1871) [13: 23]. Tuy nhiên, tác giả chưa có sự chỉ dùng làm tư liệu nghiên cứu cho ngành sử học mà ít xuất cũng như bình giá nào đối với giá trị của văn bia thấy được sử dụng để làm tư liệu nghiên cứu cho các Quảng Nam. ngành khoa học xã hội nhân văn khác như văn học, văn hóa…, trừ một vài công trình dưới đây. Hà Phước Mai lại “chỉ lựa chọn, giới thiệu văn bia đình làng và các đền miếu” (ở Đà Nẵng - Nguyễn Phạm Thúc Hồng sử dụng một ít văn bia Quảng Hoàng Thân chú) [9: 32-33] trong bài viết Vài nét về Nam để làm tư liệu nghiên cứu cho việc biên soạn di sản văn bia dân gian Đà Nẵng đăng trên tạp chí Văn học Hán Nôm trong di tích cổ ở Hội An (2008) hoặc Văn hóa - Du lịch Đà Nẵng. Với “lời thưa trước” như những tấm bia của người Hoa để làm tư liệu nghiên vậy, ông chỉ điểm diện về hình thức bia, về nội dung Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng 57
  6. Nghiên cứu - Trao đổi và trích dẫn một vài câu chữ dịch nghĩa trong bia để Dựa vào tấm bia mộ tiền hiền tộc Lê ở phường dẫn chứng cho bài viết, với các bia đình Bồ Bản, đình Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Thái Lai, đình Túy Loan, bia miếu Nam Hải Ngọc Lân chúng tôi đã chứng minh được danh xưng địa danh làng Thạc Gián, bia đình Thạch Nham. Bài viết này đã Mân Quang, thể hiện trong bài viết Thử đề xuất một nêu được một số giá trị của văn bia đình - miếu của giả thuyết về danh xưng “Mân Quang” [14]. Đà Nẵng như: biết được “lịch sử, quá trình trùng tu, Trong bài viết Văn hóa Hán Nôm Đà Nẵng - nghiên sửa chữa, xây dựng đình, miếu”; hiểu được “ý thức và cứu và giảng dạy, chúng tôi dành một mục trình bày tinh thần tự nguyện cùng nhau sửa sang, xây dựng khái lược về tình hình văn bia Đà Nẵng, đề xuất các đình miếu của làng mình” và “danh sách dài về những hướng nghiên cứu và giảng dạy đối với những bản người phụng cúng”; thấy được “hàng loạt các địa văn bia này [16]. danh ấp, xã ở Đà Nẵng mà đến nay phần nhiều đã không còn được nhắc đến. Nếu chúng ta tiếp tục Với nỗi bi hoài trước những di sản văn bia giá trị nghiên cứu kỹ hơn thì điều này sẽ rất có ý nghĩa”. bị bào mòn bởi thời gian, chúng tôi đã có bài viết Bia đá cũng tàn đăng trên báo Đà Nẵng cuối tuần để hầu 3.4. Văn bia Quảng Nam từ giác độ “tự cầu sở soi rõ, phản phóng thực trạng đáng buồn của văn bia đắc” thực địa Đà Nẵng. Dư âm bài viết này còn lưu ở Ẩn ngữ Văn bia luôn hiện diện trong cuộc sống. Mỗi người gửi nghìn sau của nhà báo Văn Thành Lê [17]. đều gắn với một tấm bia. Đời người là một tấm bia. Tựu trung, bản thân chúng tôi đã có những bài Bản thân chúng tôi từ sự thường xuyên nhìn thấy, dần viết, những công trình nghiên cứu về văn bia Quảng dần hình thành sự chú ý, quan tâm và đi đến tìm hiểu, Nam cũng như việc sử dụng văn bia Quảng Nam làm nghiên cứu văn bia Quảng Nam. tư liệu nghiên cứu khoa học liên quan, liên ngành, đạt Từ trước năm 2010, chúng tôi đã “lặn lội” Đi tìm bài số lượng khả quan. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ca trù khắc trên Ngũ Hành Sơn [2], mãi đến tết năm góp phần giới thiệu văn bia Quảng Nam vượt mở Canh Thìn (2010) mới có cơ hội công bố trên báo Lao phạm vi rộng hơn so với “vị trí” hiện tại. động - Miền Trung và Tây Nguyên. Chúng tôi đã tiến 4. Văn bia Quảng Nam - Chi lưu nghiên cứu, học hành truy tìm văn bia thực địa đó trên địa bàn Đà thuật kế tục Nẵng. Sau đó triển khai nghiên cứu đối với văn bia này. Điều khó khăn nhất trong quá trình nghiên cứu Số lượng văn bia Quảng Nam đứng vị trí thứ 2 ở là xác định tác giả và niên đại của bài văn bia. miền Trung, sau số lượng văn bia Thừa Thiên Huế - nơi có kinh đô của vương triều Nguyễn, nhiều hơn cả văn Phổ Đà sơn linh trung Phật - một văn bia quý của đất bia xứ Nghệ. Quảng là bài viết nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về một tấm văn bia Phật giáo trên Ngũ Hành Sơn. Bài Số lượng văn bia Quảng Nam nhiều là vậy, nhưng nghiên cứu gồm các phần: Văn bia Phổ Đà sơn linh công trình nghiên cứu về văn bia Quảng Nam chưa trung Phật trong diễn trình học thuật; Vấn đề văn bản tương xứng với số lượng của nó. Thử thống kê từ học của Phổ Đà sơn linh trung Phật (về hình thức, về mẫu Thông báo Hán Nôm học 2010 và Thông báo Hán tác giả, về niên đại, về bố cục, về chữ khắc bia); Giá trị Nôm học 2011 - công trình quy tụ nhiều nhất bài viết nội dung của văn bia Phổ Đà sơn linh trung Phật (Sử nghiên cứu về lĩnh vực Hán Nôm hay liên ngành - để liệu về danh xưng Ngũ Hành Sơn và các danh xưng thấy được tỷ lệ nghiên cứu văn bia Quảng Nam như làng xã đất Quảng, Sử liệu về người nước ngoài ở đất thế nào. Thông báo Hán Nôm học 2010 tổng cộng 62 Quảng, Sử liệu về hôn nhân người Việt với người nước bài viết, có 13 bài viết về lĩnh vực văn bia hoặc liên ngoài, Sử liệu về việc quyên góp xây dựng di tích, Sử quan đến văn bia trên cả nước (21,0%), có 2 bài viết liệu về Phật giáo ở Ngũ Hành Sơn) [15]. về văn bia Quảng Nam (chiếm 3,2% trên tổng số bài viết và chiếm 15,4% trên tổng số bài viết về văn bia). Ngoài hai bài viết nghiên cứu chuyên sâu trên, Thông báo Hán Nôm học 2011 tổng cộng 76 bài viết, chúng tôi còn truy tầm, phiên âm, dịch chú một văn có 11 bài viết về lĩnh vực văn bia trên cả nước (14,5%), bản văn bia không còn trên thực địa mà chỉ được sao có 1 bài viết về văn bia Quảng Nam (chiếm 1,3% trên lục trong một bộ toàn tập thơ văn. Đó là Giới thiệu văn tổng số bài viết và chiếm 9,1% trên tổng số bài viết về bản bài văn bia “Thái thường Tự khanh Trà Kiệu Nguyễn văn bia). Kết quả trên cho thấy tỷ lệ bài viết về văn bia tiên sinh bi minh” trong Giá Viên toàn tập của Phạm Quảng Nam ở mỗi năm tổ chức hội nghị Thông báo Phú Thứ, công bố trong Thông báo Hán Nôm học 2010 Hán Nôm học chỉ có 1 - 2 bài viết. - 2011 [18]. 58 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng
  7. Nghiên cứu - Trao đổi Như vậy, chỉ mới có một vài công trình nghiên cứu 4. Arlo Grffiths và tgk. 2012. Văn khắc Chămpa tại Bảo và khai thác văn bia ở Quảng Nam. Song, những công tàng điêu khắc Chăm - Đà Nẵng. Thành phố Hồ Chí Minh: trình này cũng chỉ mới lấy văn bia ở Quảng Nam (thậm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, chí chỉ là một địa phương của Quảng Nam) làm tư liệu 5. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên). 1992. Văn khắc Hán tham khảo, nghiên cứu cho chuyên ngành riêng hoặc Nôm Việt Nam. Hà Nội: Khoa học Xã hội, cũng chỉ làm đối tượng nghiên cứu văn bia, nghiên cứu Hán Nôm sơ lược, chứ chưa có một công trình nào 6. Phạm Thúc Hồng. 2012. Hội quán đền đài người Hoa tại Hội An. Đà Nẵng: Đà Nẵng. đi sâu nghiên cứu toàn bộ văn bia Quảng Nam một cách hoàn chỉnh và hệ thống. 7. Phạm Thúc Hồng. 2008. Văn học Hán Nôm trong di tích cổ Hội An. Đà Nẵng: Đà Nẵng. Từ những vấn đề nêu trên, có thể gợi mở những 8. Nguyễn Quang Khải. 2000. Văn bia văn miếu Bắc Ninh. hướng nghiên cứu tiếp tục đối với văn bia Quảng Hà Nội: Văn hóa Dân tộc. Nam trên các lĩnh vực sau: 9. Hà Phước Mai. 2012. “Vài nét về di sản văn bia dân gian 1. Nghiên cứu, phân loại, thống kê chất liệu của Đà Nẵng”. Tạp chí Văn hóa - Du lịch Đà Nẵng. Số 14. Tháng vật dùng để khắc văn bia (đá, gỗ, đồng, xi-măng hay 01. kim loại quý khác…); 10. Trịnh Khắc Mạnh. 2008. Một số vấn đề về văn bia Việt Nam. Hà Nội: Khoa học Xã hội. 2. Nghiên cứu, phân loại, thống kê sự phân bố văn bia Quảng Nam theo trục thời gian, không gian; 11. Litana - Nguyễn Cẩm Thúy (chủ biên). 1999. Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hà 3. Nghiên cứu, phân loại, thống kê chức năng của Nội: Khoa học Xã hội, văn bia (bia đình, bia chùa, bia cầu, bia từ đường, bia 12. Nguyễn Văn Nguyên. 2007. Khảo sát giám định niên lăng mộ…); đại thác bản văn bia. Hà Nội: Văn hóa Thông tin. 4. Nghiên cứu, phân loại, thống kê theo thể tài văn 13. Nguyễn Phước. 2012. “Vài nét về di sản Hán Nôm học của văn bia (thơ ca, văn bản hành chính, ký, tiểu ở Quảng Nam”. Tạp chí Văn hóa Quảng Nam. Số 91. Tháng sử…); 01, 02. 14. Nguyễn Hoàng Thân. 2010. “Thử đề xuất một giả 5. Nghiên cứu mỹ thuật của văn bia; thuyết về danh xưng Mân Quang”, Tạp chí Phát triển Kinh 6. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ văn bản của tế - Xã hội Đà Nẵng. Số 3+4. văn bia (văn tự, chữ húy, từ ngữ, ngữ pháp, liên kết 15. Nguyễn Hoàng Thân. 2010. “Phổ Đà sơn linh trung văn bản, chân - ngụy của văn bản…); Phật - một văn bia quý của đất Quảng”. Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng. Số 7+8. 7. Nghiên cứu, phân loại nội dung phản ánh của văn bia; 16. Nguyễn Hoàng Thân. 2010. “Văn hóa Hán Nôm Đà Nẵng - Nghiên cứu và giảng dạy”. Tạp chí Phát triển Kinh tế - 8. Nghiên cứu giá trị đóng góp của văn bia; đề Xã hội Đà Nẵng. Số 9+10. xuất các biện pháp bảo tồn, khôi phục những văn bia 17. Hoàng Thân. 2010. “Bia đá cũng tàn”. Báo Đà Nẵng thực địa không còn… cuối tuần. Số 4000. N.H.T. 18. Nguyễn Hoàng Thân. 2011. “Giới thiệu văn bản bài văn bia “Thái thường Tự khanh Trà Kiệu Nguyễn tiên sinh bi minh” trong Giá Viên toàn tập của Phạm Phú Thứ”, Thông báo Hán Nôm học 2010 - 2011. Hà Nội: Thế giới. 19. Đinh Khắc Thuân. 1996. Văn bia thời Mạc. Hà Nội: Khoa học Xã hội. 20. Lê Trí Viễn (chủ biên). 1987. Cơ sở ngữ văn Hán Nôm TÀI LIỆU THAM KHẢO (Tập 4). Hà Nội: Giáo dục. 1. Trần Thị Kim Anh - Hoàng Hồng Cẩm. 2010. Các thể 21. Trần Đại Vinh (chủ biên). 2006. Văn bia và văn chuông văn chữ Hán Việt Nam. Hà Nội: Khoa học Xã hội. Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế. Huế: Thuận Hóa, 2. Phan Anh Dũng - Nguyễn Hoàng Thân. 2010. “Đi tìm 22. 程 章 灿. 2009. 古 刻 新 诠,中 华 书 局. Trung bài ca trù khắc trên Ngũ Hành Sơn”, báo Lao động - Miền Quốc. Trung và Tây Nguyên. 23. 吕 世 聪 - 洪 毅 瀚 . 2008. 投 桃 之 报 - 万 山 3. Ninh Viết Giao (chủ biên). 2004. Văn bia Nghệ An. 港 福 德 祠 历 史 溯 源,石 叻 学 会 Selat Society. Vinh: Nghệ An. Singapore. Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi Ñaø Naüng 59