Xem mẫu

  1. TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 5(30) - Thaùng 7/2015 Vai trò của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa dưới góc độ chính trị (1954 – 1975) The American’s role to the republic of Vietnam in political perspective (1954 – 1975) TS. Lê Tùng Lâm Trường Đại học Sài Gòn Ph.D. Le Tung Lam Sai Gon University Tóm Tắt Năm 1956, dưới sự giúp đỡ, chỉ đạo từ Mỹ, Ngô Đình Diệm đã thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại miền Nam Việt Nam để thực hiện chiến lược toàn của Mỹ. Sự tồn tại, hoạt động của chính quyền VNCH hoàn toàn lệ thuộc vào “thái độ” của Mỹ. Những cuộc đảo chính liên tiếp trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cùng những lần “thay ngựa giữa dòng” của Mỹ tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho vai trò quyết định của Mỹ dưới góc độ chính trị đối với miền Nam Việt Nam. Chính quyền VNCH ra đời xuất phát từ “nhu cầu” của Mỹ, phục vụ cho Mỹ. Do đó, chính quyền này không thể tồn tại và sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. Từ khóa: Việt Nam Cộng hòa, Mỹ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… Abstract In 1956, with helps and guidances from the US, Ngo Dinh Diem was established by the Republic of Vietnam government in the South of Vietnam to implement the global strategy of the US. The existence and operation of the Republic of Vietnam government were dependent on the US’s attitude. The successive coups within the Saigon government and the times “instead of horses mid-stream” by the US in Vietnam were clear evidence for the US's role in the politics of the South Vietnam. The Republic of Vietnam was born from “needs” of the US and serving them. Therefore, Saigon government could not survive and completely collapsed on April 30, 1975. Keywords: Republic of Vietnam, US, Ngo Dinh Diem, Nguyen Van Thieu… 1. Ngô Đình Diệm và sự lựa chọn rằng “có một mối quan hệ rất trực tiếp giữa của Mỹ (1954-1963) chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ Dương. Triều Tiên và Đông Dương được thực hiện Chiến lược toàn cầu nhằm ngăn Mỹ xem là “trận đánh sinh đôi” (twin chặn chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế battles) trong cùng một nỗ lực của Cộng giới. Đối với châu Á, Mỹ dành ưu tiên sản quốc tế nhằm chiếm châu Á” [6, tr.98]. hàng đầu trong vấn đề Triều Tiên, Trung Ngày 21-8-1953, Tổng thống (TT) Eisenhower Quốc và Đông Dương. Năm 1950, chiến cho rằng “mất Việt Nam hoàn toàn sẽ ảnh tranh Triều Tiên bùng nổ. G.Marshall cho hưởng tai hại tới các vị trí của Mỹ trong 59
  2. các nước láng giềng với Việt Nam tựa như trọng đến mức ngoài việc mang đến mọi sự quân bài Domino xếp thành hàng có thể bị giúp đỡ công khai và bí mật… tổng thống ngã hết quân này đến quân khác” còn xem xét ngay lập tức khả năng yêu cầu [7, tr.1281]. Quan điểm này được người Quốc hội có hành động thích đáng… có Mỹ gọi là Thuyết Domino (Domino thể, bao gồm việc sử dụng lực lượng quân Theodry) và nó đã chi phối giới cầm quyền sự Mỹ” [5, tr.205]. Rõ ràng, NSC 5429/5 Mỹ sau này. Mỹ lo ngại hậu quả dây đã trao cho Chính phủ Mỹ quyền tự do chuyền của Thuyết Domino nếu không có giúp đỡ về kinh tế, quân sự vào bất cứ nơi sự can thiệp cần thiết vào Đông Nam Á.Vì nào cần thiết để thực hiện chiến lược toàn vậy, Chính quyền Eisenhower phải tìm một cầu của Mỹ. Trong đó, Việt Nam nhanh giải pháp khác cho vị trí, vai trò của họ tại chóng trở thành “hòn đá tảng” trong chính Việt Nam. Tổ chức “Những người bạn Mỹ sách của Mỹ. của Việt Nam” (AFV) gồm các nhân vật Dưới sự ủng hộ, giúp đỡ của Mỹ, ngày nổi bật như Mansfield, Spellman và Joseph 4-3-1956, Ngô Đình Diệm đã tổ chức bầu Kennedy đã thông qua Ngoại trưởng cử Quốc hội riêng lẻ ở Nam Việt Nam. J.F.Dulles và giám đốc CIA A.Dulles đã Ngày 30-4-1956, J.Dulles cho rằng “Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền Thủ phải giữ lấy miền Nam Việt Nam y như đã tướng và từng bước loại người Pháp khỏi giữ Nam Triều Tiên và Đài Loan” Việt Nam. Đây là động thái quan trọng [13, tr.15]. Triều Tiên và Đài Loan đang chuẩn bị cho quá trình can dự lâu dài vào nhận được sự bảo trợ trực tiếp từ Mỹ để Việt Nam của Mỹ. duy trì sự tồn tại của mình. Điều này đồng Ngày 20-8-1954, Hội đồng An ninh nghĩa từ nay, sự tồn vong của Nam Việt Quốc gia Mỹ thông qua Nghị quyết NSC Nam cũng sẽ phải gắn liền với sự hậu 5429/2 và xác định “những thắng lợi của thuẫn của Mỹ. Ngày 20-10-1956, Ngô cộng sản ở Đông Dương, mà đỉnh cao là Đình Diệm công bố Hiến pháp Việt Nam Hiệp định Genève đã kéo theo những hậu Cộng hòa. Như vậy, chính phủ Eisenhower quả nghiêm trọng gây tổn hại cho an ninh đã “thành công” trong việc triển khai chủ của Mỹ” [8, tr.771]. Do đó, Mỹ phải làm nghĩa thực dân mới của Mỹ tại miền Nam việc với “Thủ tướng” Ngô Đình Diệm và Việt Nam. Vĩ tuyến 17 chỉ là Giới tuyến giúp đỡ bằng mọi giá cho chính quyền này. quân sự tạm thời theo Hiệp định Genève Đồng thời, Mỹ giúp Ngô Đình Diệm xây nay lại trở thành ranh giới chia cắt hai miền dựng một chính phủ “dân chủ” ở miền Nam - Bắc Việt Nam. Nam Việt Nam để thực hiện mục tiêu chiến Tháng 1-1961, Tổng thống J.F. Kennedy lược của họ. Nhận định về sự kiện này, thực hiện chiến lược “phản ứng linh hoạt” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Mỹ đã do M.Taylor đề xướng gồm ba loại hình “biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến kiểu mới, một căn cứ quân sự của Mỹ, để tranh cục bộ, chiến tranh tổng lực. Miền chia cắt lâu dài nước ta”[11, tr.276]. Nam Việt Nam trở thành nơi lý tưởng để Để công khai ủng hộ, can thiệp vào thử nghiệm chiến lược toàn cầu mới của miền Nam Việt Nam, tháng 12-1954, Mỹ Mỹ. TT Kennedy tán thành đề nghị của Sứ đã thông qua Nghị quyết NSC 5429/5 và quán Mỹ trong kế hoạch chống nổi dậy, cho rằng “nếu được yêu cầu bởi một chính giúp VNCH tăng quân số từ 15 lên 17 vạn phủ bản địa hợp pháp…, Mỹ sẽ xem xét quân, giúp cải thiện chất lượng dân vệ ở một tình thế như vậy một cách nghiêm nông thôn [15, tr.256]. Đồng thời, Mỹ cũng 60
  3. tăng cường viện trợ kinh tế, lực lượng quân Diệm mất lòng dân, độc tài, đàn áp Phật đội và cảnh sát của chính quyền Sài Gòn giáo tàn bạo. Chỉ trích chính phủ Kennedy (CQSG), tăng số lượng cố vấn quân sự Mỹ đã không sử dụng áp lực thích đáng với ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11-5-1961, Diệm. Trước tình hình này, Mỹ đã tính đến Kennedy đã thông qua Bị vong lục Hành giải pháp thay thế Ngô Đình Diệm bằng động An ninh quốc gia NSAM 52 (National cuộc đảo chính của nhóm tướng lĩnh quân Security Action Memorandum 52), xác định đội VNCH. nhiệm vụ của Mỹ là “giúp Diệm xây dựng Cuối tháng 8-1963, chính quyền lực lượng đặc biệt, chốt chặn biên giới, Kennedy gửi cho các tướng lĩnh trong chống miền Bắc thâm nhập; tăng cường mở nhóm đảo chính gồm Dương Văn Minh, rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Trần Thiện đội” [4, tr.181]. Sự kiện này đã đánh dấu Khiêm một mật điện rằng “Mỹ sẽ ủng hộ quá trình can thiệp sâu hơn của Mỹ vào một cuộc đảo chính nếu cuộc đảo chính đó Việt Nam. Đối với Kennedy, giải pháp có cơ may thành công, nhưng không cho quan trọng là xây dựng CQSG vững mạnh phép quân đội Mỹ tham dự vào cuộc đảo để đảm nhận trách nhiệm chống lại quân chính này” [9, tr.35-36]. Ngày 3-10-1963, giải phóng miền Nam. Dương Văn Minh báo cho Conein biết Ngày 8-2-1962, Mỹ thành lập Bộ chỉ cuộc đảo chính sắp xảy ra và yêu cầu Mỹ huy viện trợ quân sự tại miền Nam ủng hộ sau khi đã thành công. Ngày 28- (MACV) để điều hành chiến lược Chiến 10, tướng Trần Văn Đôn bảo Conein nói tranh đặc biệt tại Việt Nam. Với ưu thế về với Đại sứ C.Lodge là các tướng không lực lượng quân đội, vũ khí hiện đại, Mỹ hi thay đổi kế hoạch của mình. Trưa ngày 1- vọng sẽ giúp cho CQSG giành thắng lợi 11-1963, cuộc đảo chính đã diễn ra. Nền đệ quyết định trên chiến trường miền Nam nhất cộng hòa đã kết thúc cùng với sự kết Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế không như liễu của hai anh em Ngô Đình Diệm và Mỹ mong đợi. CQSG càng gặp nhiều khó Ngô Đình Nhu. Cuộc đảo chính này đã khăn. Ngô Đình Diệm ngày càng tỏ ra nhận được sự chỉ đạo, hỗ trợ từ phía Mỹ. chuyên chế, độc tài gia đình trị và bị nhân Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Hội dân chống đối ngày càng mạnh mẽ. Vì vậy, đồng Quân nhân cách mạng (HĐQNCM) Mỹ phải tìm giải pháp phù hợp với tình do Dương Văn Minh đứng đầu và tiến hình thực tế chiến trường Việt Nam. hành củng cố lại bộ máy chính quyền và 2. Sự “thay ngựa giữa dòng” của những hoạt động quân sự tại Nam Việt Mỹ (1963-1965) Nam. Ngày 24-11-1963, TT Johnson đã Năm 1963, sự khủng hoảng của triệu tập cuộc họp với các cố vấn của mình CQSG ngày càng trầm trọng. Mùa hè năm về Việt Nam và nhấn mạnh với các cố vấn 1963, Ngô Đình Diệm đã công khai phát của mình là ông “muốn giành thắng lợi động cuộc tấn công vào Phật giáo, một tôn trong cuộc chiến tranh này” [14, tr.112- giáo của đại đa số người Việt Nam. Đêm 113]. TT Johnson muốn nhìn thấy là một 20 rạng 21-8-1963, Ngô Đình Diệm cho chiến thắng cần thiết của Mỹ tại Việt Nam mở một loạt các cuộc tấn công vào các nên phải tăng cường sự ủng hộ cho chùa trên khắp miền Nam Việt Nam, bắt HĐQNCM. Ngày 26-11-1963, NSAM 273 1.426 tăng ni, Phật tử và gây ra những được thông qua và khẳng định rằng, thương vong lớn. Ngày 22-8-1963, The “nhiệm vụ trọng tâm của Mỹ tại miền Nam New York Times kịch liệt lên án chính phủ Việt Nam là hỗ trợ người dân và Chính phủ 61
  4. của quốc gia ở đó để giành chiến thắng Đại sứ C.Lodge cũng cho rằng “chế độ cai trong cuộc chiến chống lại các âm mưu của trị độc tài có thể tốt hơn là một nhóm Cộng sản có sự chỉ đạo và hỗ trợ từ bên tướng lĩnh chia rẽ” và chẳng có gì làm cho ngoài” [9, tr.638]. NSAM 273 là một minh Mỹ hài lòng hơn là “nhìn thấy một quốc chứng cho sự ủng hộ của Mỹ đối với trưởng phương Đông muốn đi nhanh và VNCH trong cuộc chiến chống lại sự phát không ngần ngại đá đít những người khác” triển của phong trào giải phóng dân tộc ở [3, tr.125]. Như vậy, Mỹ chuyển từ việc Đông Nam Á. ủng hộ HĐQNCM sang ủng hộ chính Dù có sự ủng hộ của Mỹ nhưng CQSG quyền quân sự độc tài tại Việt Nam để có lại rơi vào giai đoạn khủng hoảng trầm thể ổn định lại tình hình và thực hiện âm trọng, HĐQNCM đều là những người từng mưu của Mỹ. Rõ ràng, sự tồn tại của các làm việc cho Ngô Đình Diệm trước đây. CQSG đều phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ Các tướng lãnh, chính trị gia và các lực của Mỹ. lượng xã hội dân sự sau Ngô Đình Diệm đã Sau khi lên cầm quyền, Nguyễn Khánh phải đối mặt với những khó khăn và tỏ ra nhận được sự ủng hộ về kinh tế lẫn quân sự bất lực trước một nền dân chủ hỗn loạn. từ Mỹ. Ngày 8-3-1964, TT Johnson cử Thực trạng này cũng được phía Mỹ thừa Mc.Namara sang Việt Nam và không quên nhận rằng “nhóm tướng lĩnh lên cầm quyền dặn dò rằng “tôi (Johnson) muốn thấy hảng ở Nam Việt Nam sau vụ đảo chính cũng ngàn bức ảnh anh (McNamara) chụp chung chẳng làm được gì nhiều để chặn đứng sự với tướng Khánh, mỉm cười, vẫy tay để chỉ suy sụp này. Họ thiếu kinh nghiệm, không cho nhân dân ở đó (Nam Việt Nam) rằng xây dựng được cương lĩnh và không giành đất nước này (Mỹ) hoàn toàn đứng đằng được sự ủng hộ của các tổ chức chống Diệm sau Khánh” [14, tr.122-123]. Hành động trước đây. Giới lãnh đạo Mỹ kết luận rằng này của Nguyễn Khánh và McNamara đã “ngay cả chính quyền mới Nam Việt Nam chứng minh sự bất lực và lệ thuộc hoàn cũng không đủ sức kiểm soát tình hình”[1, toàn vào Mỹ của chính phủ Nguyễn tr.327]. Đến lúc này, Mỹ đã phần nào nhận Khánh. Nó làm cho làn sóng chống chính thấy sự sai lầm khi để cho nhóm tướng lĩnh phủ ngày càng dâng cao ở miền Nam. Từ đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Do đó, đó, phong trào đấu tranh chống lại chính Mỹ phải tìm một người khác thay thế để ổn phủ độc tài Nguyễn Khánh bùng nổ mạnh định lại tình hình Nam Việt Nam. mẽ hơn. Hàng ngàn người dân Sài Gòn Dưới sự chỉ đạo của Mỹ - đứng đầu là xuống đường phản đối và hô to “đả đảo Paul Harkins, tướng Nguyễn Khánh - Tư chế độ độc tài”. Đại sứ Maxwell Taylor đã lệnh Quân đoàn I, cầm đầu cuộc đảo chính báo cho Washington vào giữa tháng 8-1964 lần thứ hai nhằm lật đổ nhóm tướng lĩnh đã rằng “điều hay nhất có thể nói về chính đảo chính Ngô Đình Diệm ba tháng trước quyền của Nguyễn Khánh là nó đã tồn tại đó. Sáng sớm ngày 30-1-1964, Nguyễn được 6 tháng và khả năng tồn tại tiếp cho Khánh đã làm chủ Sài Gòn mà không tốn đến hết năm chỉ là 50/50”[3, tr.132]. Như một phát súng nào. Nguyễn Khánh báo cho vậy, Mỹ cũng không dám đảm bảo cho sự C.Lodge rằng “đảo chính đã hoàn toàn tồn tại lâu dài của chính quyền quân sự thành công”. Sau đó, Nguyễn Khánh tự Nguyễn Khánh. Vì vậy, Mỹ phải tìm một xưng là Chủ tịch HĐQNCM, kiêm Tổng giải pháp phù hợp cho Việt Nam. Tư lệnh quân đội và thiết lập một chế độ 3. Mỹ và “giải pháp Thiệu - Kỳ” độc tài quân sự tại miền Nam Việt Nam. (1965-1975) 62
  5. Sự cai trị độc tài của Nguyễn Khánh, Thiệu làm Chủ tịch (tương đương Quốc sự bất lực, chia rẻ trong nội bộ CQSG cùng trưởng). Ngày 19-6-1965, Ủy ban Hành sự lớn mạnh của Quân giải phóng miền pháp Trung ương (tức Chính phủ) được Nam đã làm cho “giải pháp Nguyễn Khánh” thành lập do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch. đứng trước nguy cơ phá sản. Mỹ phải tính Tuy nhiên, CQSG vẫn không thể thoát tình đến giải pháp “lật đổ Nguyễn Khánh”. hình ngày càng khủng hoảng. Ngày 30-11- Ngày 19-2-1965, nhóm tướng lĩnh do Lâm 1965, McNamara đã gởi TT Johnson một Văn Phát, Tôn Thất Đính và Phạm Ngọc Bị vong lục rằng “chính phủ của các tướng Thảo lãnh đạo đã tiến hành cuộc đảo chính lĩnh của Kỳ vẫn tồn tại nhưng không nhận lật đổ Nguyễn Khánh. Tuy nhiên, nhóm được sự ủng hộ rộng rãi hoặc có được đảo chính không nhận được sự ủng hộ của những hành động có tính chất táo bạo. Mỹ và quân đội nên bị thất bại. Ngay trong Công tác bình định đang dẫm chân tại chỗ ngày 19-2, M.Taylor đã đề nghị Nguyễn nghiêm trọng” [12, tr.488]. Rõ ràng, sự bất Cao Kỳ triệu tập một cuộc họp khẩn cấp ổn và kém hiệu quả của CQSG làm cho của Hội đồng Quân lực tại Biên Hòa vào người Mỹ lo lắng. Ngày 8-2-1966, Mỹ tối nay nếu có thể, nếu không, sớm nhất buộc Nguyễn Cao Kỳ phải cải cách chính vào sáng ngày mai (20-2)[10, tr.329] để phủ khi TT Johnson không thỏa mãn với giải quyết tình hình rối ren trong nội bộ những lời hứa hoặc bằng “những từ ngữ CQSG. Ngày 20-2-1965, Hội đồng Quân nghe rất kêu” mà phải “có những kết quả lực họp và quyết định cử Trần Văn Minh cụ thể” [3, tr.174]. giữ chức Tổng tư lệnh thay Nguyễn Khánh. Ngay khi về Sài Gòn, Kỳ đã vấp phải Ngày 22-2-1965, Nguyễn Khánh được bổ một thách thức nội bộ rất quyết liệt. Tháng nhiệm làm Đại sứ lưu động và rời khỏi 3-1966, cuộc “khủng hoảng miền Trung” Việt Nam, thực chất là bị trục xuất khỏi nổ ra đòi Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Việt Nam. Sau đó, hàng loạt vụ đảo chính Cao Kỳ từ chức và nhường chỗ cho một khác, các chính quyền dân sự do Trần Văn chính phủ dân sự. Cuộc “khủng hoảng Hương rồi Phan Huy Quát đứng đầu lần miền Trung” bộc lộ rõ những yếu kém của lượt được thành lập rồi sụp đổ. Nhưng tình CQSG và thế yếu của Mỹ ở Việt Nam. hình vẫn không ổn định được. Tháng Theo sự sắp xếp của Mỹ, ngày 15-5-1966, 5-1965, một cuộc khủng hoảng mới đã nổ cuộc “khủng hoảng miền Trung” đã được ra, Phan Huy Quát xin từ chức. Dưới sự dập tắt. Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ trọng đồng ý của Mỹ, ngày 11-6-1965, nhóm các vọng như một nhà lãnh đạo quân sự có tướng lĩnh họp tại Dinh Độc lập, chấp nhận năng lực và Taylor coi ông ta như một con sự từ chức của Phan Huy Quát, cử Trung người đầy “tự tin và sáng suốt” [3, tr.151]. tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Tháng 3-1967, trong lúc gặp Nguyễn Văn Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền điều hành Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ tại Guam, TT CQSG. Như vậy, thí nghiệm về các giải Johnson nói rằng “sinh nhật tôi vào cuối pháp chính phủ dân sự của Mỹ tại miền tháng 8. Món quà lớn nhất mà các bạn có Nam Việt Nam đã bị thất bại. Mỹ phải thể tặng tôi là một cuộc bầu cử toàn quốc” quay trở lại dựng lên một chính phủ quân [2, tr.475]. Do đó, Nguyễn Văn Thiệu và sự để phục vụ cho chiến lược chiến tranh Nguyễn Cao Kỳ đã xúc tiến cuộc bầu cử xâm lược tại miền Nam Việt Nam. vào tháng 9-1967. Ngày 14-6-1965, Ủy ban Lãnh đạo Sau thắng lợi của cuộc bầu cử đầy Quốc gia được thành lập do Nguyễn Văn gian lận ngày 3-9-1967, Nguyễn Văn Thiệu 63
  6. đắc cử Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ là Phó War: The United States and Vietnam, 1950- tổng thống VNCH. Nền Đệ Nhị cộng hòa 1975, Third Edition, McGraw-Hill, Inc. 4. Lê Mậu Hãn (cb, 2003), Đại cương Lịch sử được chính thức thành lập tại miền Nam Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, Hà Nội Việt Nam ngày 1-11-1967. Người Mỹ 5. Lê Phụng Hoàng (2008), Lịch sử Quan hệ mong đợi có một chính phủ VNCH ổn định quốc tế ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh tại miền Nam Việt Nam để có thể tiếp tục thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược. Từ (1945 – 1991), Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. đây, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và 6. Phan Văn Hoàng (2004), Việt Nam trong Nguyễn Cao Kỳ tiếp thực hiện chiến lược chính sách của Mỹ từ 1940 đến 1956, toàn cầu của Mỹ cho đến khi sụp đổ hoàn LATS, Trường ĐHSP TPHCM. toàn vào ngày 30-4-1975. 7. John P. Glennon (General Editor, 1982), 4. Kết luận Foreign Relations of the United States, 1952–1954. Indochina (in two parts): Từ năm 1956-1975, sự tồn tại của Volume XIII, Part 1, United States chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Government Printing Office, Washington. Nam Việt cùng sự xâm lược của Mỹ đã gây 8. John P.Glennon (General Editor, 1984), ra cuộc chiến tranh tàn khốc cho dân tộc Foreign Relations of the United States, Việt Nam. Trong 20 năm, chính quyền 1952–1954. East Asia and the Pacific (in two parts): Volume XII, Part 1, United VNCH liên tiếp có sự xáo động, thay đổi States Government Printing Office, liên tục trong giới cầm quyền của họ. Washington. Những cuộc đảo chính liên tiếp diễn ra và 9. John P.Glennon (General Editor, 1991), đều có “bàn tay” chỉ đạo từ Mỹ. Rõ ràng, Foreign Relations of The United States, chính quyền VNCH ra đời không phải xuất 1961–1963, Volume IV, Vietnam, August– December 1963, United States Government phát từ nhu cầu của đất nước, của dân tộc Printing Office, Washington. mà từ “nhu cầu” của Mỹ. VNCH chỉ là 10. John P.Glennon (General Editor, 1992), “quân bài” phục vụ cho mục đích chính trị Foreign Relations of the United States, của Mỹ. Do đó, VNCH không thể tồn tại 1964–1968, Volume II, Vietnam 1964, và sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. United States Government Printing Office, Washington. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi 11. Hồ Chí Minh (1976), Vì độc lập tự do, vì Chủ dậy Xuân 1975 đã đánh bại những thí nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội. nghiệm chiến lược chiến tranh kiểu mới 12. Neil Sheehan, H.Smith, E.W.Kenworthy, của Mỹ tại miền Nam Việt Nam và làm sụp and F.Butterfield (1971), The Pentagon đổ hoàn toàn VNCH - “chính quyền của Papers as Published by the New York Times. New York: Bantam Books. Mỹ” ở miền Nam Việt Nam. 13. Đặng Phong (1991), 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện nghiên cứu thị trường - giá TÀI LIỆU THAM KHẢO cả, Hà Nội. 1. Bogaturo Aleksey Demofenovich, Averkov 14. Robert S.Mc Namara (1995), Nhìn lại quá Viktor Viktorovich (2013), Lịch sử quan hệ khứ, Tấm thảm kịch và những bài học về quốc tế, Đặng Quang Chung, Lê Đức Mẫn Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. dịch, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà 15. William J. Duiker (1994), U.S. Containment Nội. Policy and the Conflict in Indochina, 2. Frances Fitzgerald (2004), Lửa trong lòng Standford University Press, California. Hồ, NXB CAND, HN. 3. George Herring (1996), America`s Longest Ngày nhận bài: 17/3/2015 Biên tập xong: 15/7/2015 Duyệt đăng: 20/7/2015 64