Xem mẫu

  1. cho riêng mình thưởng thức hoặc chia sẻ với bạn chat. Ngoài các background mặc định, họ còn tải được ảnh riêng lên cửa sổ này, bằng cách bấm vào biểu tượng Select a background... > Show all > Browse đến ảnh cần thay > OK. Nếu không muốn chia sẻ nền này cho người khác, bỏ đánh dấu ở ô Share backgrounds. Error! Ảnh nền riêng của người dùng được tải lên cửa sổ chat. YM cũng có thể đổi ảnh nền (Environment) nhưng tốc độ chậm, buộc cả hai người chat phải dùng và họ không tự đổi được hình nền riêng như ý thích. Skype và Google Talk mới cho phép đổi màu của chương trình (theme). Ngoài cách gõ chữ thông thường, WLM còn tích hợp khả năng "vẽ chữ" rất thú vị, bằng cách chọn biểu tượng cây bút thay cho biểu tượng chữ A. Khả năng chat "liên dịch vụ" Hiện nay mới chỉ có WLM phát triển tính năng add nick của YM. Gõ abc@yahoo.com vào cửa sổ thêm danh sách bạn bè của WLM, người dùng có thể trò chuyện thoải mái bằng văn bản, smiley, buzz..., trừ một số tính năng như gửi file, xem webcam... Còn từ YM, bạn cũng có thể add như vậy. Tùy biến trên dòng trạng thái (status) WLM, Skype và Google Talk đều cho phép viết status bằng tiếng Việt một cách dễ dàng mà không phải cài đặt thêm, chỉ cần bạn dùng Unicode để gõ. YM đòi hỏi khá nhiều công đoạn mới làm được điều này nhưng kết quả là một số chữ có dấu cũng không hiển thị đẹp và chuẩn. WLM, Skype còn thể hiện được cả hình smiley lên dòng status, trong khi YM chỉ hiển thị bằng ký tự. Google Talk còn hiển thị luôn cả bài hát mà bạn đang nghe, trong khi YM phải dùng đến một phần mềm của bên phát triển thứ 3. Error! Error! Error! Error!
  2. Các dấu báo bận, đi vắng... của YM khó kết hợp với dòng chữ trên status nhưng các phần mềm khác đều làm được việc này. WLM và YM có thể đưa link vào một câu trên status, bằng cách viết dòng chữ, sau đó copy link trên một trình duyệt > quay lại cửa sổ status và nhấn Ctrl_V. Khi bạn nhìn, các ký tự của URL trên status vẫn hiển thị nhưng bạn chat chỉ nhìn thấy dòng chữ có gạch màu xanh, thể hiện liên kết link. Từ chối người quấy rối YM có khả năng từ chối các tin nhắn của một người không thích, bằng cách vào menu Messenger > Preferences > Ignore list nhưng bạn phải nhập lại nick này trong cửa sổ, đồng thời xóa nó trong sổ địa chỉ (nếu bạn cần đến nó trong tương lai thì việc này hơi bất tiện). WLM, Skype và Google Talk đều có chức năng Block rất tiện dụng. Chỉ cần bấm chuột phải vào một nick, người dùng sẽ chặn được các tin nhắn và cuộc gọi từ nó, trong khi vẫn giữ được danh sách. Người bị khóa sẽ không nhìn được trạng thái của bạn và luôn thấy bạn offline. 10 điều cần biết về Windows Defender - 12/7/2007 9h:10 Windows Vista được tích hợp sẵn chương trình anti-spyware mang tên Windows Defender để ngăn ngừa các phần mềm độc hại xâm nhập và đánh cắp thông tin người dùng. Sau đây là 10 điều cần biết để sử dụng Windows Defender tốt hơn, tăng cường mức độ bảo mật cho Windows Vista. Windows Defender được phát hành vào tháng 10-2006 như là một chương trình chống spyware bổ sung cho Windows XP hay Windows Server 2003, cho phép người dùng tải về miễn phí. Trong phiên bản Windows Vista mới nhất thì Windows Defender trở thành một tiện ích bảo mật tích hợp sẵn tăng cường khả năng bảo vệ máy tính. 1. Windows Defender là một phần của một chiến lược bảo mật nhiều lớp Defender được thiết kế để dò tìm, gỡ bỏ hoặc cách ly những chương trình được nhận dạng hoặc tình nghi là phần mềm độc hại (spyware, malware) đã được cài đặt lên máy tính nhưng không được sự cho phép từ người dùng. Windows Defender nên được dùng kết hợp với các cơ chế bảo mật khác như tường lửa, chương trình chống virus và mã hóa dữ liệu.
  3. 2. Defender mặc định đã được kích hoạt trong Windows Vista Người dùng có thể tắt / mở Windows Defender hay cấu hình hoạt động cho nó thông qua Windows Defender Control Panel hoặc truy xuất từ Security Center trong Windows Vista. Giao diện Windows Defender đơn giản, với một cái click chuột có thể quét tìm spyware hoặc định thời khóa biểu để quét theo ngày. 3. Windows Defender có thể thực hiện 3 kiểu quét Phần Quick Scan giúp tiết kiệm thời gian tìm kiếm spyware. Phần Full Scan tận tụy tìm kiếm trong từng ổ đĩa và thư mục của hệ thống. Thời gian quét sẽ tùy thuộc dung lượng ổ đĩa và số lượng tập tin. Phần quét theo tùy chọn (Custom Scan) cho phép bạn chọn ổ đĩa hay thư mục nào để quét. Nếu Defender dò tìm được spyware khi dùng Custom Scan thì nó sẽ thực hiện Quick Scan để gỡ bỏ hay cách ly chúng. 4. Bạn có thể xác định cách thức Windows Defender thực hiện dò tìm Người dùng có thể xác định cách thức Windows Defender nhận diện một phần mềm bị tình nghi là spyware dựa trên các khuôn mẫu hay cách hoạt động, hoặc dựa vào việc nhận dạng những tập tin được cho là spyware. Bạn cũng có thể tạo điểm khôi phục hệ thống (restore point) trước khi gỡ bỏ các tập tin dò tìm được để khi cần thiết có thể khắc phục được lỗi hệ thống. Cuối cùng, Defender có thể bỏ qua các thư mục hay tập Giao diện Windows Defender. tin mà người dùng chỉ định. 5. Chức năng bảo vệ thời gian thực Mặc định được kích hoạt, chức năng bảo vệ thời gian thực (real-time) có thể được thiết lập để quan sát những nhân tố bảo mật nào trên hệ thống như: các chương trình khởi động cùng windows, các thiết lập cấu hình bảo mật, các thành phần bổ sung cho trình duyệt Internet Explorer, những thiết lập cho IE, tải tập tin, chương trình, dịch vụ hay driver, các tiện ích Windows và bất kỳ chương trình nào được khởi động.
  4. 6. Quản trị viên có thể điều khiển cách Defender hoạt động trên máy người dùng Các quản trị viên (Administrator) có thể cho phép người dùng sử dụng Windows Defender để quét hệ thống, chọn lựa những hành động cho Defender khi tìm thấy spyware. Các quản trị viên có khả năng giới hạn việc sử dụng các quyền hạn quản trị Defender của người dùng vì theo mặc định, tất cả mọi người đều được phép dùng Windows Defender. 7. Bạn có thể xem các hoạt động đã thực hiện trong trang History Ở trang History, người dùng sẽ xem được thông tin về các hoạt động đã thực hiện của Defender. Những mô tả về hoạt động này, vị trí và thông tin của tập tin, phần mềm được tìm thấy khi quét, và kể cả những khóa registry có liên quan đến chúng. Các cảnh báo bảo mật, thời gian khi có cảnh báo, trạng thái bảo mật. Người có thể xem các phần mà họ đã thiết lập ngăn không cho thực thi. 8. Windows Defender có bốn cấp độ cảnh báo - Severe: Chương trình này là mã độc hại, có thể làm tổn hại đến máy tính của bạn. - High: Chương trình có thể chọn lọc thông tin cá nhân của bạn hay thay đổi các thiết lập. - Medium: Chương trình có thể chọn lọc thông tin cá nhân nhưng là một phần của một chương trình đáng tin cậy. - Low: Chương trình có thể chọn lọc thông tin, thay đổi thiết lập nhưng được cài đặt theo sự chấp thuận, cho phép từ người dùng. Các phần mềm, chương trình được đánh dấu là Severe và High thì bạn nên gỡ bỏ chúng ra khỏi hệ thống. Medium và Low thì tùy thuộc vào người dùng có muốn gỡ bỏ chúng hay không. 9. Người dùng nên cập nhật Defender thường xuyên Để sử dụng hiệu quả, phần mềm anti-spyware cần được cập nhật cơ sở dữ liệu
  5. mới thường xuyên. Tốt nhất, người dùng nên cập nhật CSDL spyware trước khi tiến hành quét. Có thể tiến hành kiểm tra các CSDL cập nhật mới bằng cách thủ công hoặc qua chức năng cập nhật Windows Update. 10. Microsoft phản hồi người dùng Defender từ cộng đồng SpyNet Không bắt buộc người dùng phải là thành viên của SpyNet. Tuy nhiên, nếu là thành viên SpyNet và sử dụng Defender thì Defender sẽ gởi thông tin đến Microsoft về spyware được tìm thấy và các hoạt động mà bạn thực hiện trên spyware. Bạn có thể tham gia SpyNet bằng cách vào Tools - Settings rồi chọn các cấp bậc thành viên từ cơ bản đến cao cấp. Với loại thành viên cao cấp, bạn sẽ nhận một cảnh báo khi Defender tìm thấy phần mềm chưa được phân tích và nhiều thông tin chi tiết hơn nữa được gởi đến Microsoft về phần mềm tìm được. Thanh Trực Các bước để tạo một blog hoàn chỉnh - 8/7/2007 12h:20 Như chúng ta đã biết, hiện nay, phong trào làm blog đang rất phổ biến và phát triển tại nước ta. Để tạo một blog hoàn chỉnh, bạn cần thiết lập một tài khoản tại Yahoo Mail hoặc Yahoo Messenger (nếu đã có, bạn hãy dùng tài khoản hiện tại của mình). Các bước làm “nhật ký trên mạng” như sau: Đầu tiên, hãy click vào biểu tượng hình người ngoài cùng bên phải ở phía trên giao diện của Yahoo Mesenger hoặc vào trang http://360.yahoo.com rồi dùng username và password của mình để đăng nhập (sign in). Khi đã sign in thành công, giao diện của blog sẽ xuất hiện và yêu cầu bạn thiết lập từng phần một. Bước đầu sẽ là My Page, có thể hiểu “nôm na” đây sẽ là trang chủ của bạn, hãy click vào ô đó và làm theo hướng dẫn của nhà điều hành (ở phần này có ba bước). Ở ô Create a Nickname, hãy điền tên tuỳ thích mà bạn muốn. Bất cứ ai khi “ghé thăm” blog của bạn sẽ đều thấy tên đó . Ô Choose a Background: đây là ô làm phông, nền (theme) cho blog. Người chủ sở hữu “nhật ký trên mạng” có thể chọn những phông có sẵn hoặc tự tạo cho mình một theme riêng. Khi đã họn xong, hãy click vào chữ Continue. Ô And Your Interests and Favorites: tại đây, có các ô My interests: những vấn đề bạn quan tâm, sở thích của bạn,
  6. Music I like: loại nhạc, ca sĩ bạn thích… Hãy điền đầy đủ thông tin và cũng kết thúc bằng thao tác nhấn vào Continue.