Tom tat Luan an Tien sy Kinh te: Nghien cuu he thong tai khoan ke toan ap dung trong cac doanh nghiep san xuat - kinh doanh o Viet Nam

  • 29/11/2019 02:37:01
  • 2 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Muc tieu co ban, xuyen suot cua de tai la ung dung khung ly thuyet ve tai khoan ke toan, he thong tai khoan ke toan ap dung trong cac doanh nghiep san xuat - kinh doanh va su dung du lieu ve he thong tai khoan ke toan doanh nghiep san xuat - kinh doanh; phan tich, danh gia he thong tai khoan ke toan ap dung trong cac doanh nghiep san xuat - kinh doanh o Viet Nam hien hanh. Moi cac ban tham khao!

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : 0.37 M, số trang : 24 ,tên

Xem mẫu

Chi tiết

  1. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hệ thống kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, có vai trò tích cực phục vụ cho việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, đòi hỏi hệ thống kế toán doanh nghiệp cần thiết phải được hoàn thiện một cách đồng bộ và phù hợp trong việc cung cấp thông tin nhằm đáp ứng những yêu cầu quản lý mới. Hệ thống kế toán doanh nghiệp có nhiều nội dung, trong đó hệ thống TKKT là nội dung quan trọng, có liên quan và có ảnh hưởng quyết định đến tất cả các nội dung còn lại của hệ thống kế toán doanh nghiệp đó. Thông qua hệ thống tài khoản kế toán (TKKT) doanh nghiệp, kế toán tiến hành phân loại, phản ánh, ghi chép và xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh rõ ràng, kịp thời và đầy đủ. Từ đó giúp cho việc cung cấp, kiểm tra và phân tích đầy đủ các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, nhằm giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế và điều hành quản lý kịp thời. Đồng thời, thông qua hệ thống TKKT doanh nghiệp, kế toán tiến hành thu thập các thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC), sẽ là căn cứ đáng tin cậy để các nhà quản lý đánh giá đúng tình trạng tình hình tài chính, dự báo được nhu cầu tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Vì vậy, hệ thống TKKT đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng, thông tin kế toán cũng như chất lượng công tác kế toán. Do vậy, trong quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp thì yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp được đặt lên hàng đầu. Thực tế cho thấy, bên cạnh hệ thống TKKT quy định trong CĐKT doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 15) của Bộ trưởng Bộ Tài chính, còn có hệ thống TKKT áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày 14/9/2006. Ngoài ra, trên cơ sở Quyết định 15, các ngành và doanh nghiệp kinh doanh đặc thù còn được phép xây dựng và ban hành hệ thống tài khoản kế toán riêng (Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, Tập đoàn Dầu khí, Tổng Công ty Hàng không, ...). Mặt khác, do những qui định của chế độ tài khoản kế toán không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế nên Bộ Tài chính phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung hệ thống tài khoản kế toán (các thông tư Thông tư số 138/2011/TT -
  2. 2 BTC ngày 4/10/2011 về sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa; Thông tư số 244/2009/TT - BTC ngày 31/12/2009 bổ sung, sửa đổi CĐKT doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006; ...). Việc tồn tại nhiều hệ thống TKKT áp dụng cho các doanh nghiệp và phải thường xuyên bổ sung, cập nhật như quy định hiện hành sẽ gây ra khó khăn trong việc vận hành hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp. Mặt khác, việc bắt buộc phải thực hiện hệ thống TKKT các cấp như hệ thống TKKT đang áp dụng cho các doanh nghiệp hiện nay chưa linh hoạt và chưa tăng cường tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp do chưa cho phép doanh nghiệp được chủ động mở chi tiết TKKT các cấp, chưa yêu cầu doanh nghiệp phải tự thiết kế và thực hiện hệ thống TKKT và phương pháp kế toán trên cơ sở đảm bảo tuân thủ CMKT và các quy định có liên quan đến lập và trình bày BCTC cũng như đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp. Việc quy định để áp dụng thống nhất TKKT và phương pháp kế toán sẽ không còn phù hợp khi thực tế các chính sách, chế độ kinh tế, tài chính, thuế luôn được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung hoặc hoạt động kinh doanh đa dạng trong xu thế hội nhập kinh tế. Từ những phân tích cơ bản như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài với tên gọi “Nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu sinh tiến sĩ của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là ứng dụng khung lý thuyết về tài khoản kế toán, hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh và sử dụng dữ liệu về hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh; phân tích, đánh giá hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam hiện hành; từ đó tìm ra giải pháp phù hợp để hoàn thiện và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kế toán và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh hiện hành ở Việt Nam. Với đối tượng này, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản và tiến hành khảo sát thực trạng chế độ kế toán
  3. 3 về hệ thống tài khoản kế toán cũng như thực trạng vận dụng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh cùng với việc đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam và giải pháp hoàn thiện kết hợp xây dựng hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. Cụ thể: + Về nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. + Về không gian: Giới hạn nghiên cứu chế độ kế toán về hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam và thực tiễn vận dụng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. + Về thời gian: Nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam từ năm 1954 đến nay, trong đó chú trọng giai đoạn từ tháng 3/2006 đến nay là giai đoạn áp dụng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. 4. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án tập trung giải đáp câu hỏi tổng quát: Hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả và hiệu quả hoạt động kế toán nói chung và chất lượng thông tin kế toán nói riêng của doanh nghiệp? Từ đó, luận án phải giải đáp được các câu hỏi cụ thể sau: - Những đặc trưng của tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh? - Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh? - Những giải pháp và đề xuất nào thích hợp để hoàn thiện và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh? 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Công trình nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng
  4. 4 với phương pháp định tính. Phương pháp nghiên cứu định lượng được được luận án vận dụng từ cách thức tiếp cận diễn giải, còn phương pháp nghiên cứu định tính được vận dụng từ cách thức tiếp cận qui nạp. 6. Những đóng góp mới của đề tài Luận án có các đóng góp chủ yếu sau: - Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp. - Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. - Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. 7. Kết cấu của đề tài Với tên gọi “Nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam", ngoài mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 4 chương: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp; Chương 2: Cơ sở lý luận về tài khoản kế toán và hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD; Chương 3: Kết quả nghiên cứu về hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam; Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước và các doanh nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý tài chính, trong đó
  5. 5 có hệ thống kế toán. Một hệ thống kế toán doanh nghiệp là sự kết hợp của nhiều thành phần, yếu tố khác nhau, trong đó hệ thống TKKT có thể được coi như là thành phần quan trọng của hệ thống kế toán doanh nghiệp, có ảnh hưởng chi phối tới các thành phần khác của hệ thống kế toán đó. Hệ thống TKKT luôn giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý vốn, tài sản, quản lý hoạt động SXKD trong từng doanh nghiệp; đồng thời kế toán cũng cung cấp các thông tin cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có liên quan như nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp,… Thông tin do kế toán cung cấp là căn cứ để Nhà nước thực hiện chức năng thanh, kiểm tra hoạt động SXKD của doanh nghiệp và quản lý Nhà nước về kế toán doanh nghiệp, góp phần thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nghiên cứu về hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở các nước đã và đang phát triển, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán, trong đó có hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD, do các doanh nghiệp tự xây dựng trên cơ sở các CMKT. Hệ thống TKKT doanh nghiệp thường xuyên được nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin cho quản lý. Việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp được triển khai ở các cơ quan, tổ chức và ở các doanh nghiệp SXKD phụ thuộc vào việc nghiên cứu, xây dựng để ban hành hệ thống kế toán doanh nghiệp của từng quốc gia. Hiện tại, trên thế giới đang có hai xu hướng xây dựng hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD phổ biến như sau75: - Xu hướng 1: Các doanh nghiệp SXKD tự xây dựng hệ thống TKKT dựa trên cơ sở CMKT (tạm dịch “Standard Based Accounting”). - Xu hướng 2: Nhà nước xây dựng và ban hành hệ thống TKKT thống nhất áp dụng trong các doanh nghiệp (tạm dịch “Uniform Accounting Plan”). Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu, đánh giá về hệ thống TKKT doanh nghiệp của các nhà khoa học trong nước khá đa dạng, có thể khái quát việc nghiên cứu hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh SXKD trên các mặt sau: - Về tác giả của các công trình nghiên cứu: Tác giả của các đánh giá này phần lớn là giáo viên giảng dạy về kế toán ở các cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng có đào tạo kế toán, các chuyên gia xây dựng CĐKT; những người trực tiếp làm kế toán, quản trị doanh nghiệp, các cá nhân, doanh nghiệp xây dựng để bán phần mềm kế toán
  6. 6 doanh nghiệp. Các nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu, đào tạo và trong thực tế tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp. - Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Các nghiên cứu hệ thống TKKT bao gồm cả những nghiên cứu về mặt lý luận cũng như những công trình đã khảo sát ở các doanh nghiệp SXKD. - Về tính chất và ý nghĩa của các công trình nghiên cứu: Do đối tượng nghiên cứu đa dạng nên nên tính chất và ý nghĩa của các công trình nghiên cứu này cũng rất khác nhau như các nghiên cứu mang tính khoa học được đăng trên các tạp chí chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu của các Bộ, ngành. - Về các quan điểm và giải pháp đề cập: Các công trình đã công bố có thể phân ra 2 nhóm: Nhóm các giải pháp và quan điểm cụ thể và nhóm các quan điểm và giải pháp tổng thể. Bên cạnh các nghiên cứu mang tính cụ thể, ở Việt Nam cũng đã có một vài công trình nghiên cứu về tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh mang tính tổng thể, hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. Trước tiên, có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp bộ (Bộ Tài chính) “Đổi mới hệ thống TKKT thống nhất”56 do PGS.TS Võ Đình Hảo chủ nhiệm nghiệm thu năm 1989. Do công trình này được nghiên cứu từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước nên chỉ đề cập đến hệ thống TKKT thống nhất trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. PGS.TS Nguyễn Văn Công và các cộng sự trong đề tài cấp bộ (Bộ Giáo dục & Đào tạo) “Hoàn thiện hệ thống TKKT thống nhất áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam”40 lại đề cập đến hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh trong giai đoạn kinh tế thị trường với mục đích hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp theo Quyết định số 1141 - TC/QĐ/CĐKT 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp. Nhiều giải pháp hoàn thiện của tác giả đã được tiếp thu, chỉnh sửa trong Quyết định số 15/2006 (thay thế cho Quyết định số 1141/1995) như tên của loại TK, nhóm TK, bổ sung các TK và nội dung của các TK. Tóm lại, thông qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD ở trong và ngoài nước cho thấy các công trình nghiên cứu trong nước đã đưa ra được nhiều kiến nghị có giá trị lý luận và thực tiễn
  7. 7 cao. Các kiến nghị này có hai loại: (i) Các kiến nghị mang tính cụ thể nhìn chung chỉ đem lại những thay đổi nhỏ trong hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD hiện hành và chưa tạo ra được sự chuyển biến mang tính đột phá. Hầu hết các tác giả chỉ tập trung vào việc hoàn thiện các TKKT, còn có các nội dung chưa phù hợp, chưa hoàn chỉnh trong hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành như bổ sung, sửa đổi các TK hoặc phương pháp kế toán cho phù hợp và thống nhất giữa chế độ và thực tiễn, thống nhất giữa CMKT và chế độ tài chính và các CMKT hiện nay; (ii) Có ít công trình nghiên cứu mang tính tổng thể. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Chương 1 tập trung làm rõ những nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tài khoản kế toán và hệ thống tài khoản kế toán nói chung và hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh nói riêng. Từ đó, chỉ rõ khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu và xác lập vấn đề nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam". CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI KHOẢN KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - KINH DOANH 2.1. Kế toán, khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán doanh nghiệp 2.1.1. Mô hình kế toán Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động[62], nhưng kế toán không phải là lĩnh vực khoa học thuần túy mà nó thuộc loại khoa học xã hội về quản lý kinh tế. Trong thực tế, kế toán chịu sự chi phối của rất nhiều các yếu tố như: hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị và luật pháp của mỗi quốc gia qua mỗi thời kỳ khác nhau. Nghiên cứu lịch sử phát triển của kế toán qua các thời kỳ khác nhau trên thế giới, đến nay có thể khái quát mô hình kế toán thành 6 loại như sau: mô hình kế toán tiền mặt; mô hình kế toán dồn tích; mô hình kế toán động; mô hình kế toán tĩnh; mô hình kế toán vĩ mô; mô hình kế toán hiện tại hóa78. Sáu loại hình kế toán cơ bản này tương ứng với các cách thức kế toán khác nhau, tương ứng với các hệ thống kinh tế khác nhau. Việc xác định sự khác biệt này nhằm xây dựng CĐKT cho phù
  8. 8 hợp. Nhận diện mô hình kế toán Việt Nam Phân biệt các mô hình kế toán như đã nêu trên, nghiên cứu các đặc điểm biểu hiện của kế toán doanh nghiệp Việt Nam cho thấy kế toán Việt Nam không chỉ phản ánh giá trị tài sản của doanh nghiệp mà còn có cả tài sản đi thuê (thuê tài chính); giá trị tài sản được ghi chép và phản ánh theo giá gốc với giả định là doanh nghiệp hoạt động liên tục ; nguồn vốn ghi nhận theo số vốn đã huy động v.v... Từ những đặc điểm nêu trên có thể nhận thấy kế toán Việt Nam mang nhiều đặc điểm của mô hình kế toán động, loại kế toán chủ yếu phục vụ nhu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế doanh nghiệp và thực hiện theo kế toán dồn tích. Do vậy hệ thống CĐKT nói chung và hệ thống TKKT nói riêng áp dụng cho doanh nghiệp SXKD phải được xây dựng theo các nguyên tắc sau: (i) Tuân thủ các nguyên tắc và CMKT; (ii) Tất cả các tài sản tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc mà không ghi nhận theo giá thị trường và việc hạch toán thiên về quan điểm sử dụng tài sản mà không hạch toán tài sản theo quyền sở hữu, do vậy hạch toán tăng hay giảm tài sản là khi nhận hay chuyển tài sản hoặc phát sinh quyền và trách nhiệm đối với tài sản đó; (iii) Nguồn vốn được ghi nhận theo số vốn đã nhận chứ không ghi nhận theo số vốn đăng ký; (iv) Khấu hao TSCĐ được tính một cách có hệ thống trên giá phí (nguyên giá TSCĐ) căn cứ vào cách thức thu hồi lợi ích kinh tế của từng TSCĐ và bỏ qua sự khấu hao tĩnh; (v) Các BCTC chính được lập định kỳ; (vi) Doanh thu và chi phí không ghi nhận theo nguyên tắc tiền mà được ghi nhận theo nguyên tắc dồn tích theo từng thời kỳ, phù hợp với khả năng sinh lời thực tế từ việc sử dụng tài sản; (vii) Về phương pháp kế toán là phương pháp ghi kép theo phương pháp kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ. Với đặc điểm cơ bản của kế toán Việt Nam, khi nghiên cứu hệ thống TKKT doanh nghiệp để đưa ra các giải pháp hoàn thiện phải đảm bảo tuân thủ Luật Kế toán, CĐKT và hệ thống CMKT Việt Nam. Đồng thời, để đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống TKKT doanh nghiệp Việt Nam cũng phải phù hợp với thông lệ chung của các nước. 2.1.2. Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán doanh nghiệp Kế toán không phải là lĩnh vực khoa học thuần túy mà thuộc khoa học xã hội về quản lý kinh tế. Là công cụ của hệ quản luật, kế toán chịu sự chi phối của rất nhiều các yếu tố như: hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị và luật pháp của mỗi
  9. 9 quốc gia qua các thời kỳ. Ngoài việc phải chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật nói chung, kế toán còn đòi hỏi phải có những quy định cho riêng mình. Để tổ chức và quản luật kế toán ở các doanh nghiệp, các quốc gia đều có những văn bản pháp quy và hình thành nên khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán mà các doanh nghiệp phải tuân thủ. Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán là hệ thống đồng bộ các văn bản về kế toán, chi phối đến công tác tổ chức và thực hiện các công việc kế toán của doanh nghiệp trong đó có các quy định do Nhà nước ban hành mang tính pháp luật và có các quy định không phải do Nhà nước ban hành (có thể do tổ chức nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán ban hành). Ở các quốc gia, pháp luật và các quy định về kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp bao gồm: (i) Luật Kế toán; (ii) Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kế toán; (iii) Chuẩn mực kế toán; (iv) Chế độ kế toán doanh nghiệp; (v) Các quy định của thị trường chứng khoán. Như vậy, để đảm bảo cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và các quy định về kế toán, hệ thống TKKT doanh nghiệp phải được nghiên cứu, xây dựng để có thể phân loại, hệ thống hóa tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để cung cấp đầy đủ các thông tin cho doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của pháp luật và các quy định về kế toán. Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán của các nước có sự khác nhau về cơ quan ban hành, về phạm vi các vấn đề Nhà nước phải quy định thống nhất và cho phép doanh nghiệp chủ động, linh hoạt. Đây là thực tiễn quan trọng mà Việt Nam cần nghiên cứu xem xét để triển khai nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD. 2.2. Tài khoản kế toán và hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh 2.2.1. Tài khoản kế toán Kế toán hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Sự hình thành của kế toán là cần thiết khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình, kế toán đã sử dụng một hệ thống các phương pháp khoa học nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản tại doanh nghiệp, qua đó kiểm tra giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính tại doanh nghiệp. Một trong những phương pháp đó là phương pháp TKKT hay còn gọi là phương pháp đối ứng tài khoản và hình thức biểu hiện cụ thể của phương pháp này là TKKT. Qua các quan điểm về TKKT có thể khẳng định rằng: TKKT là phương pháp
  10. 10 phân loại, hệ thống hóa để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng đối tượng hạch toán kế toán cụ thể. 2.2.2. Hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh Hệ thống TKKT doanh nghiệp là danh mục các TKKT mà doanh nghiệp sử dụng trong hạch toán kế toán để phản ánh được toàn bộ tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của chúng trong quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp để làm cơ sở lập và trình bày BCTC đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng sử dụng thông tin do kế toán cung cấp47. Hệ thống TKKT là nội dung quan trọng trong quá trình triển khai công tác kế toán của doanh nghiệp SXKD. Do vậy, TKKT và hệ thống TKKT doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý kinh tế tài chính nói chung cũng như trong công tác kế toán của từng doanh nghiệp nói riêng. Cụ thể là: - TKKT và hệ thống TKKT giúp cho người làm kế toán tại doanh nghiệp có thể phân loại và hệ thống hoá được thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp phục vụ cho công tác quản lý của Nhà nước, của các ngành và của từng doanh nghiệp. Thông qua các TKKT và phương pháp ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào các TKKT mà các nhà quản lý có thể nắm bắt được các thông tin kinh tế tài chính, là cơ sở để đưa ra các quyết định kinh tế và điều hành quản lý có hiệu quả. - TKKT và hệ thống TKKT giúp cho việc hệ thống hoá các thông tin cụ thể, chi tiết về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản tại doanh nghiệp phục vụ cho yêu cầu quản trị kinh doanh, yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế trong doanh nghiệp, cũng như yêu cầu quản lý tài sản trong doanh nghiệp. - TKKT và hệ thống TKKT giúp cho việc hệ thống hoá các số liệu theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính để lập được các báo cáo định kỳ theo yêu cầu của kế toán tài chính và kế toán quản trị. 2.2.3. Nguyên tắc, yêu cầu và nội dung phản ánh của hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh Việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam là hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu tác động của hệ thống TKKT tới nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin, nhu cầu của các đối tượng quản lý với hệ thống TKKT, các yếu tố tác động tới hoạt động xây dựng hệ thống TKKT áp dụng cho doanh nghiệp, tác giả đề xuất các nguyên tắc, yêu cầu nghiên cứu để
  11. 11 hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD như sau: 2.2.3.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh Để thực hiện được vai trò phân loại thông tin và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn và các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh ở các doanh nghiệp, quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng cho các doanh nghiệp SXKD phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, bao gồm: (1) Nguyên tắc toàn diện Nguyên tắc này đòi hỏi hệ thống TKKT doanh nghiệp phải đầy đủ về số lượng các loại TK, nhóm TK và số lượng TK các cấp trong từng nhóm TK; nguyên tắc kế toán trong từng loại TK và nhóm TK; kết cấu và nội dung phản ánh và phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu. Từ đó mới có thể triển khai thực hiện việc phân loại, hệ thống hóa tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại doanh nghiệp nhằm đảm bảo cung cấp thông tin đáng tin cậy, đầy đủ cho tất cả các đối tượng sử dụng với các mục đích khác nhau. (2) Nguyên tắc tuân thủ Việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định về kế toán bao gồm Luật Kế toán, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kế toán, CMKT. Trong đó, phải có đầy đủ các hướng dẫn về TKKT sử dụng, phương pháp kế toán để hướng dẫn thực hiện các CMKT. Ngoài ra, hệ thống TKKT phải đầy đủ các nội dung cụ thể về nội dung phản ánh và phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong từng TKKT để doanh nghiệp đảm bảo tuân thủ các chế độ, chính sách kinh tế, tài chính, thuế có liên quan, đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin cung cấp. (3) Nguyên tắc phù hợp và linh hoạt Hệ thống TKKT doanh nghiệp phải phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, phù hợp với từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc thù; phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia và phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế và quản lý trong từng quốc gia. (4) Nguyên tắc hội nhập và phát triển Kế toán là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý nền kinh tế. Các thông tin kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp SXKD cung cấp không chỉ sử dụng trong nước mà còn được sử dụng cho các đối tượng bên ngoài lãnh thổ
  12. 12 trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với các hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển đa dạng, đan xen mang tính khu vực và toàn cầu. Vì vậy, hệ thống TKKT doanh nghiệp phải phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới kinh tế của từng quốc gia. Nguyên tắc này đòi hỏi việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD phải dựa trên sự nghiên cứu, học tập, tiếp thu, vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các nước cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. 2.2.3.2. Yêu cầu xây dựng hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh Để tuân thủ các nguyên tắc nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD như đã nêu trên, đặt ra các yêu cầu phải thực hiện trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD như sau: (1) Bảo đảm tính thống nhất Theo yêu cầu này cần có sự nghiên cứu để Nhà nước xây dựng và ban hành một hệ thống TKKT để áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong phạm vi từng quốc gia. Việc ban hành một hệ thống TKKT doanh nghiệp thống nhất sẽ tạo thuận lợi hơn cho cả cơ quan nghiên cứu, ban hành và cho cả khi triển khai thực hiện. Từ đó khắc phục được hạn chế do quá phức tạp, gây khó khăn khi triển khai thực hiện nếu Nhà nước ban hành nhiều hệ thống TKKT cho các doanh nghiệp nói chung và cho từng lĩnh vực kinh doanh đặc thù hoặc cho từng quy mô, loại hình doanh nghiệp. (2) Bảo đảm tính “mở” Hệ thống TKKT xây dựng phải có tính mở và thích ứng đối với các nghiệp vụ, các quá trình kinh tế sẽ phát sinh trong tương lai, đảm bảo được tuân thủ cao khi ứng dụng vừa có tính khả thi trong thực tiễn nhằm đáp ứng được nhu cầu cung cấp các thông tin kinh tế tài chính đầy đủ, trung thực, kịp thời phục vụ đắc lực cho việc quản lý, điều hành hoạt động SXKD của bản thân doanh nghiệp cũng như cho tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin ở bên ngoài doanh nghiệp. Ngoài ra, hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD phải phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và được quốc tế thừa nhận. Việc xây dựng hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD phải tính đến vai trò của Nhà nước; đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước về kế toán; phải tính đến ảnh hưởng trên tất cả các mặt: nhận thức, con người, thủ tục hành chính, cách thức quản lý và đặc biệt là phải phù hợp với trình độ
  13. 13 quản lý, công nghệ thông tin và phải có tính khả thi trong thực tiễn. 2.2.3.3. Nội dung hệ thống TKKT áp dụng trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh Để đáp ứng được các nguyên tắc và yêu cầu như đã nêu trên, hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD phải bao gồm các nội dung cơ bản như sau: (i) Danh mục các loại TK, các nhóm TK cần phải được Nhà nước quy định rõ để áp dụng thống nhất và các nội dung cho phép doanh nghiệp được chủ động, linh hoạt và tự chịu trách nhiệm. (ii) Trong từng loại TK, từng nhóm TK cần quy định rõ nội dung phản ánh, nguyên tắc kế toán, kết cấu và phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu và mối quan hệ với BCTC và báo cáo quản trị. (iii) Các quy định với loại TK và nhóm TK cần có quy định của Nhà nước để làm cơ sở pháp lý thực hiện thống nhất cho các doanh nghiệp. Việc mở TKKT các cấp và nội dung của từng TKKT nên để doanh nghiệp chủ động, linh hoạt xây dựng cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý. Với mục tiêu nghiên cứu để góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam theo định hướng xác định rõ tính thống nhất và tăng cường tính chủ động, linh hoạt cho doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện để khắc phục các hạn chế của hệ thống TKKT doanh nghiệp theo quy định hiện hành cần nghiên cứu, khảo sát, thông lệ quốc tế nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 2.3. Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh của các nƣớc trên thế giới và bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam 2.3.1. Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán trong đó có hệ thống TKKT doanh nghiệp của quốc gia chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, các nhân tố ảnh hưởng rõ nét nhất là mô hình thiết kế hệ thống luật pháp, hệ thống thuế và thị trường chứng khoán. Các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau, tạo nên tính đa dạng của khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán của doanh nghiệp. Hệ thống luật pháp các quốc gia hiện nay được xây dựng theo hai trường phái: Trường phái Luật La Mã (Roman Law) và trường phái Luật Chung (Common Law).
  14. 14 Ở các nước Anglo – Saxon, gồm Mỹ, Anh, … hệ thống luật pháp được thiết lập theo mô hình Luật Chung. Theo đó, hệ thống thuế có ảnh hưởng không nhiều đến kế toán. Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến pháp luật và các quy định về kế toán doanh nghiệp. Ở các nước khác, hệ thống luật pháp được thiết lập theo mô hình Luật La Mã như Nhật Bản, Pháp, Đức, … Theo đó, hệ thống thuế có ảnh hưởng sâu sắc đến kế toán và thị trường chứng khoán có ảnh hưởng ít đến kế toán doanh nghiệp. Việc hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp trước tiên cần phải xem xét kinh nghiệm triển khai nghiên cứu, xây dựng khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán doanh nghiệp (trong đó có hệ thống TKKT) của các nước cụ thể. Để rút ra những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới trong việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, cần nghiên cứu khái quát quan điểm nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán, trong đó có hệ thống TKKT của các nước trên thế giới và của các nước phát triển hoặc có nhiều điểm tương đồng về kinh tế chính trị với Việt Nam (như Mỹ, Pháp, Trung Quốc). 2.3.2. Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam Qua nghiên cứu về khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán, mà trọng tâm là hệ thống TKKT doanh nghiệp của các nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD như sau: Thứ nhất, nhận thức đúng sự cần thiết phải nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành. Do chất lượng thông tin tài chính được phản ánh đầy đủ, kịp thời, rõ ràng, đáng tin cậy thông qua hệ thống BCTC và báo cáo quản trị để đáp ứng yêu cầu của kế toán tài chính và kế toán quản trị là mục đích cuối cùng của mà Nhà nước và doanh nghiệp hướng tới. Để nâng cao chất lượng thông tin tài chính, một trong các công việc phải làm là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD. Thứ hai, kế toán là vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay, nên khi nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp các quốc gia phải xem xét trong mối quan hệ tổng thể toàn bộ khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán đứng trên quan điểm hội nhập và kế thừa các ưu điểm trong các quy định hiện hành theo lộ trình phù hợp. Mặt khác, một hệ thống kế toán doanh nghiệp, trong đó có hệ thống TKKT
  15. 15 doanh nghiệp, thường gắn liền với một hệ thống kinh tế nhất định và chịu sự chi phối của thể chế kinh tế, chính trị của từng quốc gia. Vì vậy, quá trình nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp vừa phải đảm bảo tính hội nhập, vừa phải phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia. Đồng thời phải nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT đồng bộ với khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán. Thứ ba, hệ thống TKKT cần hoàn thiện theo hướng xây dựng một hệ thống TKKT thống nhất, đảm bảo tính “đóng” và tính “mở” hay còn gọi là đảm bảo tính thống nhất và phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Về tính “đóng”, cần xác định rõ phạm vi Nhà nước quy định thống nhất về loại TK, nhóm TK và nguyên tắc, phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu để thuận lợi cho việc hướng dẫn, đào tạo; cho công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và quản lý Nhà nước về kế toán. Đồng thời có cơ sở pháp lý để tất cả các doanh nghiệp thống nhất thực hiện. Điều này phù hợp với điều kiện và trình độ kế toán và quản lý của Việt Nam hiện nay. Về tính “mở”, do thực tiễn kinh doanh rất đa dạng, liên tục phát triển, CMKT luôn được cập nhật hoàn thiện ở tất cả các quốc gia, vì vậy để giảm các công việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể, thường xuyên phải làm của Nhà nước, tránh tình trạng có nhiều hệ thống TKKT trong một quốc gia cho từng lĩnh vực kinh doanh, hệ thống TKKT doanh nghiệp cần hoàn thiện theo hướng cho phép doanh nghiệp chủ động thiết kế và thực hiện cho phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp. Cần xác định rõ các nội dung liên quan đến hệ thống TKKT mà doanh nghiệp được chủ động trên cơ sở CMKT và các quy định có liên quan. Muốn vậy, cần nghiên cứu lý luận, thông lệ quốc tế và khảo sát, đánh giá thực tiễn hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt nam để đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cho phù hợp. KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Kế toán hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Sự hình thành của kế toán là cần thiết và tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Trong đó, TKKT và hệ thống TKKT doanh nghiệp là bộ phận quan trọng của hệ thống kế toán. Trên cơ sở những nội dung lý luận cơ bản về hệ thống TKKT doanh nghiệp, khái quát chung và kinh nghiệm của các nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung khi xây dựng hệ thống
  16. 16 TKKT doanh nghiệp là định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu thực trạng áp dụng hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD hiện nay ở Việt Nam nhằm đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam. CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN HIỆN HÀNH ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - KINH DOANH Ở VIỆT NAM 3.1. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh ở Việt Nam Với vai trò là cơ sở để chuẩn hóa các quy trình báo cáo thông tin trong doanh nghiệp, làm tăng tính hữu dụng của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng, hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện nhằm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và cơ chế quản lý nền kinh tế Việt Nam trong từng thời kỳ (giai đoạn) phát triển của đất nước. Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế, hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh nói riêng và chế độ kế toán Việt Nam nói chung đã có những bước phát triển đáng kể. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam có thể khái quát qua ba giai đoạn: Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1995; Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 3/2006, và giai đoạn từ tháng 3/2006 đến nay. 3.2. Thực trạng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam Theo qui định của chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh tùy theo qui mô, đặc điểm sở hữu có thể vận dụng hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/03/2006 ban hành “Chế độ Kế toán doanh nghiệp” (đã sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 244/2009/TT - BTC ngày 31/12/2009) và Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày 14/9/2006 ban hành “Chế độ Kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa” (đã sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 138/2011/TT - BTC ngày 4/10/2011) của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Kết quả nghiên cứu chế độ TKKT hiện hành (ban hành theo các Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC và Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC và các thông tư hướng dẫn, bổ sung liên quan)
  17. 17 cùng với kết quả khảo sát tại 105 doanh nghiệp về tình hình vận dụng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam đã cho thấy khá nhiều bất cập, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải sớm nghiên cứu để hoàn thiện và xây dựng một hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tăng cường tính tự chủ, sáng tạo của doanh nghiệp. Có thể khái quát kết quả khảo sát trên các mặt sau: Về đối tượng vận dụng; Về số lượng, mã hiệu và tên gọi tài khoản; Về khả năng cung cấp thông tin; Về nội dung phản ánh; Về khả năng vận dụng; Về độ linh hoạt của hệ thống tài khoản Nguyên nhân của những hạn chế Thứ nhất, mỗi doanh nghiệp SXKD thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có những đặc điểm riêng về hệ thống quản lý, về yêu cầu cung cấp thông tin trên thương trường. Vì vậy, cách thức quản lý và trình độ quản các thông tin liên quan đến hoạt động kinh tế - tài chính của doanh nghiệp cũng có sự khác biệt đáng kể. Mặc dù các CĐKT doanh nghiệp, cụ thể là hệ thống TKKT, do Bộ Tài chính ban hành đã có sự phân biệt theo lĩnh vực hoạt động SXKD, theo quy mô vốn của doanh nghiệp nhưng khi khi vận dụng thì thấy cồng kềnh và kém hiệu quả. Nguyên nhân là do Nhà nước đã ban hành và quy định hệ thống TKKT quá cứng nhắc trong việc vận dụng, điều này đã gây khó khăn đáng kể cho các doanh nghiệp khi vận dụng. Thứ hai, sự hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát về chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan hữu quan cũng như Hội nghề nghiệp chưa được thường xuyên và kịp thời. Hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có hệ thống TKKT đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều vấn đề mới của thực tiễn kinh doanh phát sinh đòi hỏi cần phải được bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và cung cấp thông tin. Song, việc hướng dẫn cụ thể các văn bản pháp lý về kế toán của các cơ quan Nhà nước tuy đã có nhưng chưa kịp thời và cụ thể. Thứ ba, các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam mới có sự phát triển mạnh mẽ trong vài năm gần đây, nhận thức của các doanh nghiệp về kế toán và tổ chức vận dụng hệ thống TKKT trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý còn hạn chế. Hơn nữa, hầu hết tại các doanh nghiệp thiếu một hệ thống kiểm soát nội bộ nên thực hiện phương pháp kế toán trên hệ thống TKKT không có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên. Điều này dẫn đến có nhiều thông tin được cung cấp trên BCTC là chưa đúng theo quy định của các CMKT có liên quan.
  18. 18 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Từ những năm 70, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống TKKT đã được ban hành và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với Luật Kế toán Việt Nam và hệ thống CMKT Việt Nam. Từ việc khảo sát (khảo sát qua phiếu và khảo sát trực tiếp) và phân tích thực trạng vận dụng hệ thống TKKT trong các doanh nghiệp SXKD trên 2 giác độ là quy định của Nhà nước và thực tế vận dụng tại các doanh nghiệp, để từ đó, tác giả đưa ra những đánh giá về tính khả thi việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật về kế toán của Nhà nước và đánh giá hiệu quả thực tế triển khai các chính sách đó tại doanh nghiệp. Trên cơ sở lý luận ở chương 2 và thực trạng của chương 3, luận án đưa ra một số những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng hệ thống TKKT thống nhất áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam. CHƢƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN HIỆN HÀNH ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT –KINH DOANH Ở VIỆT NAM 4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu về hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam 4.1.1. Về quy định của chế độ kế toán Hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành theo Quyết định số 15/2006 về cơ bản đã đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu và và đặc điểm nền kinh tế nước ta hiện nay, phù hợp với cơ chế tài chính, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa cơ chế tài chính với công cụ quản lý trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó, đã tạo thuận lợi cho công tác đào tạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và triển khai trong thực tế công tác kế toán của các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Với hệ thống TKKT doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, trình độ kế toán ở nước ta đã được nâng lên một bước, tiếp cận dần với kế toán quốc tế, các thông lệ, nguyên tắc kế toán phổ biến của kinh tế thị trường đã được nghiên cứu và từng bước được vận dụng. Mặc dù hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành đã đáp ứng được nhu cầu
  19. 19 quản lý tài chính doanh nghiệp trong thời kỳ mở cửa nền kinh tế nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. 4.1.2. Về tình hình vận dụng hệ thống tài khoản kế toán tại các doanh nghiệp Kết quả khảo sát trên thực tế tại các doanh nghiệp phần nào cho thấy hệ thống TKKT doanh nghiệp do Bộ Tài chính hướng dẫn chỉ đáp ứng được yêu cầu quản lý của doanh nghiệp ở mức độ tổng thể. Đa số các doanh nghiệp đều có nhu cầu tự theo dõi chi tiết các đối tượng kế toán tùy theo yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp, vì vậy mà họ sẽ tự mở thêm TK chi tiết. Có khá nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng nội dung kinh tế trên các tài khoản kế toán đã quy định. Trong hạch toán một số phần hành, một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở một số tài khoản kế toán còn lẫn lộn và chưa thống nhất giữa các doanh nghiệp. Kết quả khảo sát chuyên gia cũng cho thấy, phần lớn các chuyên gia kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều có ý kiến cho rằng Bộ Tài chính chỉ nên ban hành một hệ thống TKKT duy nhất. Bởi lẽ các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn (chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn, là ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. Do đó, trong tương lai gần, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào hoạt động của thị trường chứng khoán là một tất yếu. Dựa vào thực trạng của hệ thống TKKT đang áp dụng cho các doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề SXKD khác nhau đã bộc lộ những bất cập, những khuyết điểm cần phải khắc phục, cần thiết phải hoàn thiện hệ thống TKKT theo hướng mở, linh hoạt, áp dụng phù hợp cho các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực SXKD, thuộc mọi hình thức sở hữu vốn, quy mô vốn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc vận hành hệ thống thông tin kế toán. Việc làm này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự tham gia quản lý của Nhà nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế (trong đó có sự hội nhập về thông tin kế toán), phù hợp với chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. 4.1.3. Về quan điểm hoàn thiện và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh mới Để kế toán thật sự là "ngôn ngữ" chung của mọi hoạt động kinh doanh và phát huy tốt vai trò của mình trong điều kiện hiện nay, góp phần đẩy mạnh tiến trình hội
  20. 20 nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam thì việc xác định đúng đắn quan điểm hoàn thiện là một vấn đề không kém phần quan trọng. Việc hoàn hệ thống TKKT hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD sẽ được thực hiện theo các hướng sau đây: Quan điểm kế thừa; Quan điểm quy định bắt buộc áp dụng và linh hoạt vận dụng; Quan điểm hội nhập và phát triển; Quan điểm cung cấp thông tin. 4.2. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh ở Việt Nam Trong chương ba, tác giả đã đánh giá những ưu điểm và những tồn tại của hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam. Từ thực trạng này, hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành sẽ được nghiên cứu và hoàn thiện theo giải pháp cụ thể như sau, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi hệ thống TKKT hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam. Cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng cho các doanh nghiệp SXKD là Luật Kế toán (năm 2003), CMKT Việt Nam (VAS), CMKT quốc tế (IAS), CĐKT doanh nghiệp, vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, vào sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện tại và tương lai, ... Trên thực tế, toàn bộ 26 CMKT Việt Nam đã ban hành theo 5 đợt từ năm 1999 đến 2001 được xây dựng dựa theo CMKT quốc tế. Cho đến nay, các CMKT quốc tế đã được bổ sung, sửa đổi đồng thời có các CMKT mới ban hành. Những năm qua có rất nhiều thay đổi quan trọng trong công tác kế toán và BCTC, các tổ chức ban hành CMKT quốc tế đang cố gắng hài hoà các nguyên tắc kế toán được thừa nhận của Mỹ (USGAAP) và các Chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế (IFRS). Liên minh Châu Âu đang yêu cầu tất cả các công ty được niêm yết của các nước là thành viên của EU phải áp dụng IFRS trước năm 2005 và nhiều quốc gia ban hành CMKT quốc gia của mình theo hướng gần với IFRS. Với mục tiêu hoàn thiện hệ thống TKKT phù hợp với thực tiễn tại các doanh nghiệp SXKD trước xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các giải pháp mà tác giả luận án đề xuất sau đây được xây dựng dựa trên quan điểm: Nhà nước xây dựng một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất mang tính “mở” trên cơ sở CMKT; trong đó, chỉ bao gồm các loại và nhóm TK cùng với hướng dẫn chung về nội dung phản ánh, các doanh nghiệp được phép chủ động xây dựng, lựa chọn, bổ sung thêm các tài khoản các cấp (cấp 1, cấp 2,...) sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh cụ thể và yêu cầu quản lý của đơn vị mình trên cơ sở tuân thủ các qui định chung của chế độ và chuẩn

Download

Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ