Tóm tắt Luận án Tiến sỹ Kinh tế: Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm...

  • 2 months ago
  • 0 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Luận án được nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục đích cơ bản: (1) Hệ thống hoá và phát triển cơ sở lý luận về chăm sóc, chất lượng chăm sóc NCT. (2) Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về chăm sóc, chất lượng chăm sóc NCT và các yếu tố ảnh hưởng. (3) Đề xuất phương hướng, một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam trong các năm tới. Mời các bạn tham khảo!

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : , số trang : 27

Xem mẫu

Chi tiết

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN PHẠM VŨ HOÀNG PHẠM VŨ HOÀNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản trị nhân lực (Kinh tế lao động) Mã số: 62340404 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Hà Nội, 2013
  2. CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Trần Xuân Cầu 2. TS. Nguyễn Bá Thủy Phản biện 1: PGS. TS. Mai Quốc Chánh Phản biện 2: TS. Bùi Sỹ Lợi Phản biện 3: PGS. TS. Mạc Văn Tiến Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Trƣờng Họp tại Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân Vào hồi ...... giờ .... ngày ...... tháng ...... năm 2013 Có thể tìm hiểu luận án tại: Thƣ viện Quốc gia Thƣ viện Đại học Kinh tế Quốc dân
  3. DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1. TS. Nguyễn Quốc Anh, TS. Nguyễn Thế Huệ, ThS. Phạm Minh Sơn, Nguyễn Văn Liệu, Nguyễn Tuấn Ngọc, ThS. Phạm Vũ Hoàng (Tham gia viết Chƣơng 2) (2007) “Người cao tuổi Việt Nam”, NXB Hồng Đức, Hà Nội. 2. ThS. Phạm Vũ Hoàng (2007) “Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước ngành DSGĐTE: thực trạng và khuyến nghị”, Tạp chí Dân số và Phát triển, Số 2 (71), tháng 2/2007. 3. ThS. Phạm Vũ Hoàng (2011) “Xu hướng già hóa trên thế giới và các vấn đề đặt ra với các nước đang phát triển”, Tạp chí Dân số và Phát triển, Số 9 (126), tháng 9/2011. 4. ThS. Phạm Vũ Hoàng (2011) “Đời sống vật chất người cao tuổi Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị” Tạp chí Dân số và Phát triển, Số 10 (127), tháng 10/2011. CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ
  4. 1 MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Liên Hợp Quốc đã dự báo, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hoá. Già hoá dân số một hiện tƣợng mang tính toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới và ảnh hƣởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang quan tâm đến vấn đề già hoá dân số. Ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 tỷ lệ NCT (60 tuổi trở lên ) đã tăng từ 7,1%, 7,25, 8,2% và 8,9% trong tổng dân số. Theo kết quả Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2011, tỷ lệ NCT (60+) là 9,9%, đặc biệt tỷ lệ NCT (65+) là 7% (quy định già hóa là 7%). Nhƣ vậy, Việt Nam đã chuyển sang cơ cấu “già hóa dân số” từ năm 2011. Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, dân số già hoá nhanh tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, hệ thống dịch vụ sức khoẻ, giao thông đi lại, hệ thống hƣu trí cho NCT cũng nhƣ quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống đặc biệt đặt ra nhiều vấn đề trong công tác chăm sóc NCT. Tại Việt Nam, vấn đề chăm sóc NCT ngày càng đƣợc chú trọng hơn qua các chính sách và hành động cụ thể song việc chăm sóc và phát huy vai trò NCT còn nhiều hạn chế. Với các điều kiện khăn nói trên, công tác chăm sóc NCT Việt Nam đã thực sự đƣợc quan tâm chƣa, chất lƣợng chăm sóc NCT Việt Nam nhƣ thế nào? Để trả lời câu hỏi này cần phải làm rõ các đặc điểm của đối tƣợng đƣợc chăm sóc là NCT Việt Nam, nghiên cứu đánh giá thực trạng chăm sóc NCT Việt Nam toàn diện trên 3 nội dung chăm sóc (Sức khỏe, vật chất và tinh thần). Do đó, tác giả chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Luận án sẽ nghiên cứu, đánh giá thực trạng chăm sóc, chất lƣợng chăm sóc NCT và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới. 2. Mục đích nghiên cứu Luận án đƣợc nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục đích cơ bản: (1) Hệ thống hoá và phát triển cơ sở lý luận về chăm sóc, chất lƣợng chăm sóc NCT. (2) Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về chăm sóc, chất lƣợng chăm sóc NCT và các yếu tố ảnh hƣởng. (3) Đề xuất phƣơng hƣớng, một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT Việt Nam trong các năm tới. 3. Các tiếp cận và giả thuyết nghiên cứu Luận án tiếp cận việc chăm sóc NCT theo khía cạnh chăm sóc NCT là đáp ứng các nhu cầu cơ bản của NCT trong cuộc sống để NCT sống vui, sống khỏe và sống có ích. Nghiên cứu đánh giá thực trạng chăm sóc NCT toàn diện
  5. 2 trên 3 nội dung chăm sóc (Sức khỏe, vật chất và tinh thần và phát huy vai trò NCT) để chứng minh các giả thuyết nghiên cứu sau: (1) Công tác chăm sóc NCT Việt Nam đã thực sự đƣợc quan tâm. (2) Với các điều kiện chăm sóc còn hạn chế, chất lƣợng chăm sóc NCT Việt Nam chƣa đƣợc đảm bảo. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chăm sóc, chất lƣợng chăm sóc NCT trong bối cảnh Việt Nam đang bƣớc vào giai đoạn “già hoá dân số”. Phạm vi nghiên cứu: Theo không gian: trên phạm vi cả nƣớc về chăm sóc NCT; theo thời gian: Giai đoạn 1979-2009 và dự báo giai đoạn 2009-2049. Nghiên cứu thực trạng đến năm 2010, đề xuất kiến nghị đến năm 2020. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp thống kê phân tích; Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá; Phƣơng pháp chuyên gia; Phƣơng pháp điều tra xã hội học: bằng quan sát, phỏng vấn sâu (4 cuộc) và bảng hỏi (60 NCT) tại Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ NCT Thiên Đức thuộc Công ty Thiên Phúc tại Đông Ngạc-Từ Liêm-HN lựa chọn đại diện mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng do tƣ nhân quản lý. 6. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Đến những năm 50 của thế kỷ XX, nghiên cứu dân số NCT ở các quốc gia và các tổ chức quốc tế mới đƣợc đƣợc quan tâm. Đầu tiên là ở những nƣớc phát triển, sau này mới đƣợc thực hiện cả ở những nƣớc đang phát triển. Tại Việt Nam, vấn đề NCT cũng đã đƣợc quan tâm chú ý nhƣ thông tin về NCT trong các cuộc Tổng điều tra dân số, các nghiên cứu nhƣ: Nghiên cứu Hoàn cảnh của NCT nghèo ở Việt Nam (2001) của Help Age International; Nghiên cứu một số đặc trƣng của NCT và đánh giá mô hẵình chăm sóc sức khoẻ NCT đang áp dụng (2005) của Uỷ ban DS-GĐ-TE; Khảo sát thu thập xử lý thông tin về NCT (2007) của Bộ LĐ-TB-XH; Các nghiên cứu điều tra về thực trạng ngƣời cao tuổi Việt nam (2004), ngƣời cao tuổi từ 80 tuổi (2009) của Viện nghiên cứu Ngƣời cao tuổi Việt Nam; Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu chất lƣợng cuộc sống ngƣời cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng (2010) của Dƣơng Huy Lƣơng. Các nghiên cứu về NCT chủ yếu thu thập thông tin về NCT, tập trung nghiên cứu một số đặc thù về NCT hoặc nghiên cứu NCT ở một số địa bàn đặc thù nhằm đƣa ra thực trạng về NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT cụ thể. Thực tế chƣa có công trình nghiên cứu toàn diện nào về chất lƣợng chăm sóc NCT Việt Nam.
  6. 3 7. Những đóng góp khoa học của luận án  Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận Luận án nêu và làm rõ một số luận điểm mới về học thuật, cụ thể: - Bản chất chăm sóc ngƣời cao tuổi (NCT) là đáp ứng 8 nhu cầu cơ bản của NCT (sức khoẻ, ăn mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi giải trí, thông tin, giao tiếp) để NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích. - Bốn nguồn lực chăm sóc NCT (1) NCT/Gia đình/Ngƣời thân; (2) Khu vực Nhà nƣớc và dịch vụ công; (3)Tổ chức tự nguyện và các tổ chức phi chính phủ; (4) Khu vực tƣ nhân không độc lập mà tác động hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, chăm sóc không chính thức của NCT/Gia đình/Ngƣời thân đóng vai trò trung tâm, chăm sóc chính thức của Nhà nƣớc và cộng đồng đóng vai trò hỗ trợ. Cùng với quá trình phát triển, sự thu hẹp quy mô gia đình truyền thống làm suy yếu hình thức chăm sóc không chính thức đòi hỏi tăng cƣờng vai trò chăm sóc chính thức của Nhà nƣớc và cộng đồng. - Chất lƣợng chăm sóc NCT là mức độ tổng thể những kết quả mong muốn trong hoạt động chăm sóc NCT trên các mặt sức khỏe, vật chất và tỉnh thần đáp ứng nhu cầu NCT. Luận án chỉ ra 5 nhân tố ảnh hƣờng: (1) Nhu cầu chăm sóc của NCT; (2) Nguồn lực chăm sóc; (3) Cấu trúc và quy mô gia đình; (4) Tính bền vững của hệ thống ASXH; (5) Tốc độ già hóa dân số. Đề xuất hệ thống 10 tiêu chí đánh giá thực trạng chất lƣợng chăm sóc NCT phân theo 3 nhóm: Chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất, chăm sóc đời sống tinh thần và phát huy vai trò NCT.  Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu Việt Nam cần quá trình tổng thể để nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT đáp ứng nhu cầu NCT, phù hợp với xu thế già hóa dân số nhanh, điều kiện và trình độ phát triển KT-XH. Cụ thể: - Tăng cƣờng sự giám sát của các bộ ngành trong quá trình triển khai chƣơng trình, chính sách chăm sóc NCT. Đẩy mạnh sự tham gia của Hội NCT tại địa phƣơng trong quá trình giám sát thực hiện Luật NCT. - Đổi mới phƣơng thức tuyên truyền nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT từ phƣơng thức truyền thông giáo dục sang phƣơng thức truyền thông chuyển đổi hành vi theo nhóm đối tƣợng đích và hành vi cụ thể. - Khi hệ thống ASXH mới tập trung hỗ trợ cho một bộ phận NCT qua BHXH và trợ giúp xã hội, bên cạnh việc cải cách BHXH và đầu tƣ có hiệu quả Quỹ BHXH, tổ chức ”Qũy tiết kiệm cho tuổi già” trên đóng góp bắt buộc của mỗi công dân sẽ tăng cƣờng trách nhiệm cá nhân, đảm bảo ASXH và nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT. - Tổ chức triển khai mô hình “Trung tâm chăm sóc NCT ban ngày” tại cộng đồng đặc biệt tại các thành phố lớn, khuyến khích hình thức chăm sóc
  7. 4 NCT hỗn hợp kết hợp giữa chăm sóc lâu dài tại nhà và chăm sóc ngắn hạn tại các mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng. - Đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc NCT trong mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng nhằm xác định chuẩn mực về dịch vụ cung cấp. 8. Kết cấu của Luận án Ngoài phần mở đầu , kết luận, mục lục, các phụ lục và danh mục tài liê ̣u tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1 – Cơ sở lý luận về chăm sóc NCT và chất lượng chăm sóc NCT Chƣơng 2 – Đánh giá thực trạng chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam Chƣơng 3– Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam Chƣơng 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI VÀ CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI 1.1. NGƢỜI CAO TUỔI VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI 1.1.1. Các khái niệm Người cao tuổi: Ngƣời cao tuổi (NCT) hay còn gọi là ngƣời già/ngƣời cao niên là ngƣời sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này đƣợc pháp luật của từng nƣớc quy định. Tại Việt Nam, Luật NCT quy định “NCT là công dân nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Già hoá dân số: Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ ngƣời trƣởng thành và NCT tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị của dân số. Có thể chia theo 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn “già hóa dân số” (Aging population); (2) Giai đoạn “dân số già” (Aged population); (3) Giai đoạn “Dân số siêu già” (Super aged population). 1.1.2. Các đặc điểm của NCT 1.1.2.1. Các đặc điểm về nhân khẩu học của NCT (1) Quy mô NCT trên thế giới ngày càng lớn, tốc độ gia tăng dân số cao tuổi ngày càng mạnh và nhanh hơn các nhóm tuổi khác và số NCT tại các nƣớc nghèo tăng nhanh; (2) Trên thế giới, già hóa dân số còn đang tiến triển ngay trong bản thân nhóm dân số cao tuổi; (3) Có sự khác biệt lớn về phân bố của dân số cao tuổi giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển.
  8. 5 1.1.2.2. Các đặc điểm về sức khỏe của NCT NCT có sự đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần theo độ tuổi. NCT thƣờng gặp những thay đổi về tâm sinh lý. 1.1.2.3. Các đặc điểm về kinh tế và xã hội của NCT NCT thƣờng trở lại giai đoạn phải lệ thuộc vào gia đình vì khi tới tuổi cao, khả năng làm việc của NCT giảm bớt do cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh liên hệ tới tuổi già, khiến NCT mất khả năng tự túc, tự tồn, thậm chí mất cả khả năng hiểu biết. 1.2. CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI 1.2.1. Chăm sóc NCT Chăm sóc NCT thực chất là đáp ứng 8 nhu cầu cơ bản của NCT (sức khỏe, ăn mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi giải trí, thông tin, giao tiếp) để NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích. Chăm sóc NCT và phát huy vai trò NCT là hai hoạt động gắn bó chặt chẽ với nhau. vb Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow Nguồn: Abraham Maslow , Abraham Maslow's hierarchy of needs Motivational Model, http://www.businessballs.com/maslow.htm 1.2.2. Nội dung, nguồn lực và các hình thức chăm sóc NCT Các nội dung chăm sóc NCT: (1) Chăm sóc sức khỏe: Để NCT già khoẻ mạnh, ít tàn tật và thƣơng tật; (2) Chăm sóc đời sống vật chất: Thông qua viê ̣c ổn định thu nhập bằng các chế độ an sinh xã hội và việc làm phù hợp ; (3) Chăm sóc đời sống tinh thần và phát huy vai trò NCT: Để NCT hoà nhâ ̣p với
  9. 6 cuô ̣c sống, tham gia đóng góp cho gia đình và cô ̣ng đồng tƣ̀ kinh nghiê ̣m sống phong phú. Các nguồn lực chăm sóc NCT: Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, việc phân chia trách nhiệm và nguồn lực chăm sóc NCT đƣợc căn cứ vào các yếu tố khác nhau nhƣ: Phúc lợi, chính sách… Nhƣng nhìn chung đều bao gồm bốn nhân tố trong "kim cƣơng phúc lợi"- Pijl:  NCT/Gia đình/Ngƣời thân  Khu vực Nhà nƣớc và dịch vụ công.  Tổ chức tự nguyện và các tổ chức phi chính phủ (NGO)  Khu vực tƣ nhân Gia đình/ngƣời thân/bạn bè Thi trƣờng/ Nhà nƣớc Tƣ nhân TNV/Các tổ chức phi chính phủ Sơ đồ 1.3. Nguồn lực chăm sóc NCT Nguồn: Pijl’s “welfare diamond” – “Kim cƣơng phúc lợi” của Pijl Sự đóng góp của mỗi nhân tố vào việc chăm sóc NCT ở mỗi quốc gia là khác nhau.Phụ thuộc vào truyền thống, luật pháp, chính sách chăm sóc sức khỏe, tài chính quốc gia, xu hƣớng nhân khẩu học… Các hình thức chăm sóc NCT: (1) Tự chăm sóc và chăm sóc không chính thức từ NCT/gia đình/ngƣời thân: Là hình thức NCT tự chăm sóc mình và nhận sự chăm sóc từ con cháu, ngƣời thân trong gia đình và tại gia đình; (2) Chăm sóc chính thức của Nhà nƣớc và xã hội, các hình thức chăm sóc chính thức nhƣ: Mô hình chăm sóc NCT tại nhà; Mô hình chăm sóc NCT hỗn hợp: Chăm sóc tại nhà kết hợp với chăm sóc tại các Trung tâm chăm sóc theo ngày hoặc chăm sóc định kỳ tại Nhà dƣỡng lão, Khu điều dƣỡng NCT rồi lại về nhà; Mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng: Nhà dƣỡng lão, Khu điều dƣỡng, Nhà xã hội, Khu bảo trợ xã hội.
  10. 7 Bảng 1.3. Hình thái chăm sóc NCT Chăm sóc Chăm sóc Nguồn lực không chính chính thức thức Khu Khu vực tư nhân Nội dung vực Vì Không NCT/Gia đình/ Nhà lợi vì lợi người thân nước nhuận nhuận Chăm sóc sức khỏe • Chăm sóc tại nhà Chăm sóc đời sống vật chất Hình thức • Chăm sóc hỗn hợp CS • Chăm sóc tại cộng đồng Chăm sóc đời sống tinh thần và phát huy vai trò NCT Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Việc phát triển các hình thức chăm sóc phù hợp với một quốc gia bị ảnh hƣởng rất nhiều từ chính sách của Chính phủ và đạo lý văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia. 1.3. CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI 1.3.1. Chất lƣợng chăm sóc NCT Chất lƣợng chăm sóc NCT là mức độ tổng thể những kết quả mong muốn trong hoạt động chăm sóc NCT trên các mặt sức khỏe, vật chất và tỉnh thần (chăm sóc NCT gồm cả việc phát huy vai trò NCT) nhằm đáp ứng 8 nhu cầu cơ bản về sức khoẻ, ăn mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi giải trí, thông tin, giao tiếp của NCT. 1.3.2. Tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc NCT Hiện tại, Việt Nam chƣa quy định hệ thống tiêu chí để đánh giá chất lƣợng chăm sóc NCT, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc NCT do tác giả đề xuất gồm 10 tiêu chí trong 3 nhóm (1) Nhóm tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc sức khỏe NCT  Sức khỏe/bệnh tật của NCT  Nhu cầu khám chữa bệnh/dịch vụ y tế của NCT  Chăm sóc sức khỏe NCT  Mức độ hài lòng của NCT về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế (2) Nhóm tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc đời sống vật chất NCT  Đời sống vật chất của NCT  Chăm sóc đời sống vật chất cho NCT  Khó khăn của NCT trong cuộc sống (3) Nhóm tiêu chí đánh giá về chăm sóc tinh thần và phát huy vai trò NCT  Đời sống tinh thần của NCT
  11. 8  Chăm sóc đời sống tinh thần cho NCT  Phát huy vai trò NCT 1.3.3. Nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT và sự cần thiết nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT 1.3.3.1. Nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT là một quá trình chủ động nhằm chuyển đổi mức độ tổng thể những kết quả mong muốn trong hoạt động chăm sóc NCT trên các mặt sức khỏe, vật chất và tỉnh thần lên một mức độ mong muốn cao hơn. Việc nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT ở mỗi quốc gia phải phù hợp với văn hóa, truyền thống cũng nhƣ bị chi phối bởi điều kiện và trình độ phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. 1.3.3.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Già hoá dân số song hành cùng phát triển, đây là xu thế chung và không thể đảo ngƣợc trong quá trình phát triển của mọi quốc gia. NCT với đặc điểm là đặc thù là sức khỏe về thể chất và tinh thần NCT giảm theo tuổi già nên nhu cầu lớn nhất của NCT là nhu cầu đƣợc chăm sóc. Các nƣớc đang phát triển với điều kiện kinh tế, y tế, ASXH…. còn chƣa phát triển đầy đủ, toàn diện trƣớc sự tăng nhanh của nhóm dân số già vừa đặt ra thách thức lớn và cũng đặt ra vấn đề tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lƣợng chăm sóc NCT. 1.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc NCT có thể kể đến nhƣ:  Nhu cầu chăm sóc NCT thay đổi và ngày càng tăng.  Nguồn lực tham gia chăm sóc NCT.  Kiểu hộ gia đình NCT sinh sống.  Sự bền vững của Hệ thống an sinh xã hội. 1.5. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC TRONG VIỆC ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc trong khu vực nhƣ: Hàn Quốc,Thái Lan, Sigapore, Myanma về đảm bảo chất lƣợng chăm sóc NCT.  Xây dựng và hoàn thiện chính sách, chương trình kế hoạch về công tác NCT:Xây dựng các chính sách riêng, chính sách toàn diện về NCT; ban hành chính sách chuẩn bị cho tuổi già, qui định mọi ngƣời dân đến một độ tuổi nhất định phải đóng Quĩ “Chuẩn bị cho tuổi già’’ để đƣợc hƣởng chăm sóc sau này; Hỗ trợ ngân sách kết hợp XHH công tác NCT.  Huy động nguồn lực lựa chọn hình thức chăm sóc NCT phù hợp: Nỗ lực duy trì kiểu gia đình nhiều thế hệ. Chăm sóc không chính thức của gia đình/con cháu là trọng tâm, chăm sóc không chính thức của Nhà nƣớc và
  12. 9 cộng đồng lá vai trò hỗ trợ (trợ giúp kinh tế, y tế, các mô hình chăm sóc NCT tại nhà và tại cộng đồng).  Đa dạng các mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng: Mô hình Nhà dƣỡng lão, phù hợp với một xã hội hiện đại và tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho NCT; Mô hình Nhà xã hội dành chăm sóc NCT yếu thế, cô đơn cung cấp bởi chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.  Ổn định thu nhập bằng việc làm phù hợp cho NCT: Qua hƣớng nghiệp và giới thiệu việc làm phù hợp cho NCT. Chƣơng 2 –ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI VIỆT NAM 2.1. PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ CỦA NGƢỜI CAO TUỔI VIỆT NAM 2.1.1. Các đặc điểm về nhân khẩu học của NCT Việt Nam  Qui mô và phân bố của NCT: Quy mô NCT đang tăng nhanh,năm 2009 tỷ lệ NCT (60+) chiếm 8,9%, đặc biệt là tỷ lệ NCT (65+) là 6,62%. Theo kết quả Điều tra biến động DS- KHHGĐ 1/4/2011, tỷ lệ NCT (60+) là 9,9%, đặc biệt tỷ lệ NCT (65+) là 7% (quy định già hóa là 7%). Nhƣ vậy là Việt Nam đã chuyển sang cơ cấu “già hóa dân số”, sớm hơn 5 năm so với dự báo là năm 2017 cơ cấu dân số Việt Nam chuyển sang cơ cấu “già hóa dân số”. Theo báo cáo của LHQ năm 2008, tỷ lệ NCT Việt Nam dự kiến đạt 26,6% (2050) thuộc vào mức cao trong khối ASEAN sau Xinh-ga-po (39,6%), Thái Lan (26,4%). NCT chủ yếu sống ở nông thôn (chiếm 70%) cao gấp 3 lần NCT ở khu vực thành thị nên đa sốNCT là nông dân và làm nông nghiệp. NCT phân bố không đều, tập trung tại 3 vùng đồng bằng: Đồng bằng sông Hồng (28,6%), Đồng bằng sông Cửu Long (18,7%) và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (25,4%). Tuy nhiên, tỷ lệ NCT thành thị ngày càng tăng do tác động của quá trình đô thị hoá.  Cơ cấu giới tính và tình trạng hôn nhân của NCT NCT nƣớc ta số đông là nữ, cứ 100 NCT nam thì có tới 141 NCT là nữ, Tỷ số giới tính (nữ/nam) của dân số cao tuổi tăng theo nhóm tuổi, từ 120 (nhóm 60-64) đến 290 (nhóm 80+). Tình trạng sống không có vợ/chồng của NCT chiếm tỷ lệ cao, đặc biện là phụ nữ. Trong đó tỷ lệ NCT nữ sống không có chồng chiếm 55,8% trên tổng số NCT nữ cao hơn nhiều so với tỷ lệ tƣơng ứng ở nam giới (15,1%).
  13. 10 2.1.2. Các đặc điểm về sức khỏe của NCT Việt Nam NCT nƣớc ta có tuổi thọ cao (73 tuổi) nhƣng nhƣng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh thấp (64 tuổi), xếp thứ 124/193 trên thế giới. NCT Việt Nam đang mang gánh nặng bệnh tật kép do xu hƣớng bệnh chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và các bệnh mãn tính. Bệnh thƣờng gặp nhất là bệnh về xƣơng khớp, huyết áp, các bệnh về mắt và bệnh suy giảm trí nhớ. Thời gian NCT phục hồi sau bệnh gấp 4-5 lần trẻ em và gấp 3 lần ngƣời trƣởng thành. 2.1.3. Các đặc điểm về kinh tế và xã hội của NCT Việt Nam  Trình độ học vấn chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ học vấn của NCT chƣa cao, 1,35 triệu NCT (18,1%) không biết đọc biết viết, trong số đó chủ yếu là NCT nữ, NCT ở nông thôn. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của NCT còn nhiều hạn chế, chênh lệch lớn giữa giới nam và nữ. Tuy nhiên có một số lƣợng nhỏ lao động NCT có trình độ chuyên môn cao.  Mức sống: Mức sống của NCT còn còn chƣa cao, 23% tổng số hộ NCT còn nghèo đối. Mức sống của hộ gia đình NCT chênh lệch lớn giữa 2 khu vực nông thôn và thành thị, tỷ lệ hộ NCT có mức sống giàu ở khu vực nông thôn bằng 1/2 so với khu vực thành thị (1.13% và 2.47%), còn đối với tỷ lệ hộ NCT có mức sống nghèo thì ngƣợc lại (13.56% và 27.6%). 2.1.4. Vai trò của NCT Việt Nam NCT Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong gia đình và xã hội Việt Nam. Trong chính trị, NCT Việt Nam là chỗ dựa quan trọng đối với Đảng, Nhà nƣớc và xã hội. Trong kinh tế, NCT là ngƣời đóng tích luỹ cho sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, tạo vốn đầu tƣ trong quá khứ và hiện tại cứ 2 NCT thì có 1 NCT hoạt động kinh tế đóng góp cho nền kinh tế. Trong văn hóa - giáo dục, NCT là kho tàng kinh nghiệm quý giá cho lớp trẻ. Trong nghiên cứu khoa học, ngoài việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật NCT vẫn không ngừng tham gia nghiên cứu khoa học công nghệ. 2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI VIỆT NAM 2.2.1. Phân tích thực trạng chính sách chăm sóc NCT Việt Nam Có thể thấy sự hình thành và phát triển chính sách NCT từ khi thành lập nƣớc năm 1945 qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1945 – 1994 (50 năm): chƣa có chính sách riêng cho NCT, các chính sách về NCT đƣợc lồng ghép trong các chính sách chung và chƣa đây đủ và toàn diện. Chính phủ tập trung hỗ trợ chăm sóc cho 1 bộ phận NCT. Cụ thể, Chính phủ hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất cho bộ phận NCT nghỉ hƣu từ khu vực nhà nƣớc, NCT cô đơn không nơi nƣơng tựa; Chính phủ hỗ trợ
  14. 11 chăm sóc sức khỏe – y tế cho NCT trên 100 tuổi qua cấp miễn phí thẻ BHYT và quy định ƣu tiên KCB, kiểm tra sức khỏe định kỳ cho NCT. Giai đoạn 1995 – 1999 (Giai đoạn hình thành): Các chính sách về chăm sóc NCT vẫn chủ yếu là chăm sóc đời sống kinh tế cho nhóm NCT đặc thù là ngƣời đã nghỉ hƣu trong khu vực nhà nƣớc, NCT cô đơn không nơi nƣơng tựa thông qua công tác an sinh xã hội và bảo trợ xã hội. Các văn bản pháp luật tiếp tục đƣợc lồng ghép, sửa chữa bổ sung. Hội NCT Việt Nam đƣợc thành lập (1995) là một tổ chức thống nhất của NCT trong phạm vi cả nƣớc giúp cho Chính phủ triển khai nhiều hoạt động chăm sóc NCT tại gia đình. Hội đƣợc tổ chức ở tất cả 63 tỉnh/thành phố, đến tất cả các quận/huyện/thị xã và có Hội NCT cơ sở và chi hội NCT tại tất cả các xã, thôn ấp bản làng trên địa bàn toàn quốc. Giai đoạn 2000 đến nay (Giai đoạn hoàn thiện): Giai đoạn này có một sự chuyển biến mạnh mẽ trong chính sách của Chính phủ đối với NCT và công tác chăm sóc NCT. Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, Chính phủ ban hành nhiều chính sách cụ thể và riêng cho NCT. Đến năm 2000, Việt Nam đã có chính sách riêng dành cho NCT qua Pháp lệnh NCT và Luật NCT (2009), đặc biệt Thủtƣớng Chính phủ phê duyệt Chƣơng trình hành động Quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2005-2010. Nội dung chính sách về NCT hiện nay gồm: (1) Về chăm sóc đời sống vật chất: Các chính sách vẫn tập trung chủ yếu hỗ trợ kinh tế cho nhóm NCT đặc thù là ngƣời đã nghỉ hƣu, NCT cô đơn không nơi nƣơng tựa thông qua công tác an sinh và bảo hiểm xã hội nhƣng có độ phủ rộng hơn các giai đoạn trƣớc. (2) Về chăm sóc sức khỏe – y tế: NCT đƣợc ƣu tiên trong khám chữa bệnh, chữa bệnh. Chính phủ và cộng đồng chăm sóc sức khỏe – y tế NCT qua bệnh viện, bệnh viện lão khoa và các cơ sở y tế nhà nƣớc và tƣ nhân... Để hỗ trợ gia đình trong chăm sóc NCT, Chính phủ quy định về chăm sóc sức khỏe – y tế NCT trong hệ thống y tế nhà nƣớc. (3) Chăm sóc tinh thần, động viên NCT tích cực tham gia các hoạt động, phong trào nhằm phát huy vai trò NCT:Các chính sách ƣu đãi về nâng cao đời sống tinh thần NCT gồm: Hệ thống các chính sách về NCT của Việt Nam ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện sau 55 năm chuẩn bị và xây dựng (1945-1999). Hệ thống văn bản pháp luật về NCT ở Việt Nam đầy đủ và tiên tiến, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc tới công tác chăm sóc NCT. Môi trƣờng chính sách hiện nay đã tạo rất nhiều điều kiện để nâng cao chất lƣợng sống, đáp ứng nhu cầu chăm sóc cho NCT. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT còn hạn chế nhƣ chƣa đầy đủ và kịp thời, chƣa thích ứng với giai đoạn “già hóa dân số”. Nhất là việc ban hành các văn bản hƣớng
  15. 12 dẫn của các ngành có liên quan chƣa kịp thời và chƣa cụ thể, do vậy tuyến cơ sở còn gặp khó khăn trong triển khai thực hiện chính sách. 2.2.2. Phân tích thực trạng chất lƣợng chăm sóc NCT 2.2.2.1. Phân tích thực trạng chất lượng chăm sóc sức khỏe cho NCT Chăm sóc sức khỏe NCT bao gồm tổng thể các hoạt động từ tự rèn luyện sức khỏe, chăm sóc sức khỏe phòng chống bệnh tật đến chăm sóc y tế khi NCT mắc bệnh để NCT khỏe mạnh, ít bênh tật. Bảng 2.2. Các hình thức chăm sóc sức khỏe NCT Nguồn lực Chăm sóc không Chăm sóc chính thức chính thức Khu vực tư nhân Khu vực NCT/Gia đình/ Vì Không vì Nhà nước Người thân Nội dung lợi nhuận lợi nhuận - Chính sách - BV tƣ nhân - Mô hình - NCT tự rèn - Cung cấp - Mô hình BS CSSK luyện Chăm sóc thông tin/ Tƣ gia đình NCT khó - Chăm sóc dài sức khỏe vấn SK - Trung tâm khăn dựa hạn tại gia đình NCT - BV/BV lão CS NCT tƣ vào TNV khoa/Cơ sở y nhân do quản tế NN/BHYT lý Nguồn: Nghiên cứu của tác giả  Sức khỏe/ bệnh tật của NCT - Tình trạng sức khỏe của NCT:NCT có sức khỏe kém và có chiều hƣớng tăng trong hơn 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ sức khỏe kémlên tới 56,3% và tập trung ở nhóm tuổi cao, tuổi càng cao sức khỏe càng kém. NCT nam có sức khỏe tốt hơn nữ và vẫn còn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, NCT thành thị có sức khỏe tốt gấp 1,13 lần NCT nông thôn. Đặc biệt, 25,55% NCT gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. - Tình hình bệnh tật của NCT:NCT mắc nhiều bệnh tật, 90% NCT mắc từ 1 đến 4 bệnh trong đó 75.6% NCT mắc 1 bệnh. Tỷ lệ bênh tật ở NCT nữ cao hơn nam và không phụ thuộc vào độ tuổi và NCT mắc bệnh mãn tính. Tỷ lệ NCT mắc bệnh mãn tính cao (70%) và có chiều hƣớng tăng nhanh trong thời gian gần đây.  Nhu cầu khám chữa bệnh/dịch vụ y tế của NCT: Do sức khỏe yếu và gánh nặng bệnh tật nên nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, y tế của NCT là rất lớn. Nhu cầu có sức khỏe đối với NCT luôn đƣợc xếp thứ nhất. - Tỷ lệ NCT bị đau ốm hoặc chấn thương cần điều trị: Trung bình có 1/2 dân số nhóm cao tuổi có nhu cầu điều trị khi bị ốm hoặc chấn thƣơng, lớn hơn từ 1,6 đến 3 lần nhu cầu của dân số nói chung.
  16. 13 - Nhu cầu dịch vụ y tế của NCT: Phần lớn NCT muốn đƣợc KCB tại Trạm y tế xã/phƣờng (63,6%) và tại bệnh viện nhà nƣớc tuyến huyện, tỉnh và TW (30,7%). Nhƣng trên thực tế, NCT sử dụng chủ yếu là bệnh viện nhà nƣớc (46,9%) và y tế tƣ nhân (30,6%) còn Trạm y tế xã/phƣờng là 19,5% khi phải BCB ngoại trú. Khi phải điều trị nội trú, NCT chủ yếu sử dụng bệnh viện nhà nƣớc (94,3%), Trạm y tế xã/phƣờng (2,8%) và y tế tƣ nhân (2%). Nhƣ vậy, là nhu cầu về loại hình dịch vụ y tế NCT khi KCB chƣa đƣợc đáp ứng.  Chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho NCT - Chế độ rèn luyện sức khỏe của NCT: Tỷ lệ NCT không tham gia tập thể dục cao (59,1%). Các lý do không tập chủ yếu do sức khỏe yếu, kinh tế khó khăn, hạn chế về điều kiện sân bãi/dụng cụ và chƣa có phong trào. - Khám sức khỏe định kỳ: NCT nƣớc ta chƣa có thói quen khám bệnh định kỳ, Tỷ lệ NCT khám sức khỏe định kỳ rất thấp (27,7%), chỉ bằng 1/3 so sánh với tỷ lệ KCB của NCT. Với NCT không khám định kỳ, 60,9% đi khám bệnh khi bị ốm còn lại tự mua thuốc uống. - Chăm sóc NCT tại gia đình khi đau ốm bệnh tật: Gia đình và con cháu rất quan tâm, tìm hiểu về bệnh tật để chăm sóc cha mẹ họ (91,12%) khi NCT ốm đau bệnh tật. - Phổ biến về bệnh tật thường gặp ở NCT và phương pháp giữ gìn sức khoẻ cho NCT: Khoảng hơn 50% NCT đƣợc phổ biến về các bệnh tật, hƣớng dẫn về phƣơng pháp giữ gìn sức khỏe lúc tuổi già. Nguyên nhân chủ yếu của là do thiếu nguồn lực tại trạm y tế xã/phƣờng và thiếu hƣớng dẫn của cấp trên. - Năng lực cung cấp dịch vụ lão khoa cho NCT: Mạng lƣới KCB cho NCT chƣa hoàn chỉnh từ TW đến ĐP, chƣa có sự đầu tƣ thích đáng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe - y tế cho NCT. Trong hệ thống y tế công lập, ngoài BV Lão khoa TW, mới có 22,4% số tỉnh có BV có chuyên khoa lão khoa với nguồn nhân lực hạn chế. Hệ thống trạm y tế xã/phƣờng có cấu trúc hình cây nhƣng chƣa đƣợc trang bị các thiết bị điều trị lão khoa, mới có 2 cơ sở đào tạo có bộ môn lão khoa trên cả nƣớc, số lƣợng các hình thức đào tạo chuyên ngành lão khoa còn rất ít. Mô hình CSSK NCT khó khăn, neo đơn tại nhà dựa vào TNV cộng đồng mới đang xây dựng Trong y tế tƣ nhân, BV tƣ nhân tham gia vào KCB NCT giảm tải áp lực cho hệ thống bệnh viện công có chất lƣợng tốt nhƣng mức giá cao, khó tiếp cận đối với NCT. Mô hình BS gia đình mới hình thành tại thành phố lớn và phù hợp với NCT/Gia đình có điều kiện kinh tế do phải trả phí. - Tình hình sử dụng BHYT của NCT khi khám và điều trị: Với những thay đổi trong chính sách cấp thẻ BHYT nhƣ ngƣời từ 80 tuổi trở lên ngƣời tàn tật nặng đƣợc cấp thẻ BHYT miễn phí, số lƣợng NCT đi KCB có BHYT hoặc thẻ KCB miễn phí năm 2010 (73,4%) tăng gấp đôi so với năm 2002 (36,8%).
  17. 14  Mức độ hài lòng của NCT về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế NCT chƣa hài lòng về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế, gần 47% NCT đánh giá chất lƣợng chăm sóc sức khỏe và KCB ở mức bình thƣờng và thậm chí còn có 4,7% đánh giá chất lƣợng ở mức kém. Trƣớc thực trạng NCT sức khỏe kém nhiều bệnh tật, nhu cầu chăm sóc sức khỏe lớn, Nhà nƣớc xã hội và gia đình đãrất quan tâmnỗ lực triển khai nhiều giải pháp để cải thiện chất lƣợng chăm sóc sức khỏe và y tế cho NCT, nhƣng chất lƣợng chƣa đƣợc đảm bảo, sự hài lòng của NCT còn thấp, nguyên nhân chính của các hạn chế: + Việc tự CSSK, khám định kỳ của chính NCT còn chƣa tốt. + Việc phổ biến các thông tin về CKSK và bệnh tật cho NCT còn rất hạn chế, KCB tại gia đình cho NCT bệnh nặng chƣa triển khai đƣợc. + Hệ thống CSSK-Y tế cho NCT chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức nên chƣa đầy đủ toàn diện, còn rất yếu về nguồn nhân lực y tế chuyên ngành lão khoa, dịch vụ y tế tại cộng đồng. + Chất lƣợng KCB nói chung và bằng thẻ BHYT còn hạn chế theo nhu cầu của NCT. 2.2.2.2. Phân tích thực trạng chất lượng chăm sóc đời sống vật chất cho NCT Chăm sóc đời sống vật chất cho NCT bao gồm tổng thể các hoạt động kinh tế của chính NCT, sự chu cấp của con cháu, ngƣời thân trong gia đình đến sự hỗ trợ vật chất của Chính phủ qua các chính sách ASXH, ổn định thu nhập tạo việc làm phù hợp với NCT để không ngừng cải thiện và nâng cao mức sống và điều kiện sống của NCT. Bảng 2.4. Các hình thức chăm đời sống vật chất NCT Chăm sóc Nguồn Chăm sóc chính thức không chính lực thức Khu vực Khu vực tư NCT/Gia Nội Nhà nước nhân không vì đình/người dung lợi nhuận thân - Chính sách - Mô hình - NCT tích lũy - ASXH Trung tâm CS từ trƣớc - Ổn định thu nhập NCT NCT do các - NCT tự lao Chăm sóc qua tạo việc làm cho NTC cơ quan động đời sống vật - Mô hình CS NCT tại cộng hội/đoàn - Gia chất NCT đồng: Khu dƣỡng lão thể/tổ chức từ đình/ngƣời ngƣời có công; Trung tâm thiện tổ chức thân chu cấp BTXH Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
  18. 15  Đời sống vật chất của NCT Điều kiện sống của NCT: Trong giai đoạn 1999-2011, điều kiện nhà ở của hộ NCT đã đƣợc cải thiện một cách rõ rệt, tỷ lệ hộ NCT đƣợc sống và sinh hoạt trong nhà bán kiên cố trở lên đã tăng từ 70,09% (1999) lên đến 93,3% (2011). Tuy nhiên, tỷ lệ hộ NCT sống trong nhà tạm vẫn là 6,7%, các điều kiện sống khác cũng còn hạn chế, Việc sử dụng nƣớc máy và hố xí hợp vệ sinh vẫn còn nhiều hạn chế, 0,5% hộ NCT chƣa có điện lƣới, 2/3 hộ NCT chƣa đƣợc sử dụng nƣớc máy, 18,9% chƣa có hố xí hợp hợp vệ sinh. Mức sống của hộ gia đình NCT: Mức sống NCT còn thấp, còn một tỷ lệ lớn (23%) hộ NCT mức sống nghèo khó. Tỷ lệ hộ gia đình NCT nghèo (14,1%) luôn cao hơn tỷ lệ hộ gia đình nghèo (12,6%) nói chung và tỷ lệ hộ nghèo và hộ NCT nghèo ở nông thôn luôn gấp hơn 3 lần ở khu vực thành thị.  Chăm sóc đời sống vật chất cho NCT Nguồn sống của NCT đa dạng, nguồn từ con cháu chu cấp (39,3%), từ hoạt động kinh tế (30%), lƣơng hƣu và trợ cấp(25,9%) vàtài sản tích lũy (4,8%). Từ nguồn sống cho thấy việc chăm sóc đời sống chủ yếu bởi NCT/Gia đình/Ngƣời thân và đƣợc hỗ trợ một phần từ Chính phủ. Chăm sóc đời sống vật chất của NCT thông qua hệ thống ASXH: Do nguồn lực có hạn, Chính phủ chỉ tập trung hỗ trợ đời sống NCT có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hệ thống ASXH hỗ trợ đời sống vật chất đƣợc gần 2,97 triệu NCT (39%) thông qua BHXH, chính sách đối với NCT có công và trợ cấp xã hội. Tuy nhiên, NCT đƣợc hƣởng trợ cấp cho biết việc tiếp cận chƣơng trình còn khó khăn, mức trợ cấp còn thấp và chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi tiêu của NCT. Chính phủ đã hỗ trợ đời sống vật chất NCT qua các chƣơng trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ điều kiện sống cho NCT, tỷ lệ hộ gia đình NCT phải sống và sinh hoạt trong nhà tạm và tƣơng đƣơng đã giảm đi nhanh chóng, tỷ lệ này chỉ còn bằng 1/4 so với năm 1999, tỷ lệ hộ NCT nghèo giảm mạnh từ 23,1% năm 2007 xuống còn 14,1% năm 2011 (mức giảm 9%), giảm mạnh hơn so với mức giảm 2,2% của tỷ lệ hộ nghèo nói chung. Chính phủ đangnỗ lực gây dựng Quỹ chăm sóc NCT, hiện đã có 76% số tỉnh/thành phố đã triển khai xây dựng. Ổn định thu nhập cho NCT thông qua tạo việc làm cho NCT: Với điều kiện sống còn thiếu thốn, bản thân phải lo lắng cho cuộc sống hàng ngày, mặc dù đã hết tuổi lao động nhƣng còn một bộ phận không nhỏ NCT vẫn tham gia các hoạt động kinh tế ở các mức độ khác nhau. Năm 2011, với hơn 4,5 triệu (52,7%) triệu ngƣời NCT tham gia hoạt động kinh tế, tức cứ 2 NCT thì có tới 1 ngƣời hoạt động kinh tế và chủ yếu ở khu vực nông thôn (80,2%), họ tự tạo công ăn việc làm trong nông nghiệp với thu nhập thấp, thấp hơn so với các nhóm tuổi khác và không ổn định.
  19. 16  Khó khăn của NCT trong cuộc sống Phần lớn NCT (64%) cho biết gặp khó khăn trong cuộc sống, trong đó do sức khỏe yếu (46%), không đủ tiền sinh hoạt (34%), không đủ tiền chữa bệnh (17,8%), con cháu không quan tâm, tôn trọng (1,8%). Nhƣ vậy, trƣớc thực trạng đời sống vật chất cũng nhƣ điều kiện sống của NCT còn rất khó khăn, Chính phủ và cộng đồng rất quan tâm đến việc chăm sóc NCT, bằng nhiều hình thức đã hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc, nâng cao mức sống và điều kiện sống của NCT. Tuy nhiên, chât lƣợng chăm sóc đời sống vật chất chƣa đƣợc đảm bảo, công tác chăm sóc đời sống vật chất còn hạn chế: + Hệ thống ASXH mới hỗ trợ đƣợc bộ phận NCT (là cán bộ nghỉ hƣu, NCT cô đơn có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn). Mức trợ cấp còn thấp, còn nhiều khó khăn cho NCT trong tiếp cận chƣơng trình. + Các chƣơng trình giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa... đã đƣợc triển khai nhƣng chƣa xóa hết đƣợc tỷ lệ hộ NCT đang phải sống trong nhà tạm, điều kiện sinh hoạt cực kỳ thiếu thốn. + Quỹ chăm sóc NCT đang trong giai đoạn xây dựng. + NCT tích cực tham gia các hoạt động kinh tế để tự cải thiện đời sống vật chất cho mình nhƣng việc ổn định thu nhập và tạo việc làm cho NCT chƣa đƣợc thực hiện. 2.2.2.3. Phân tích thực trạng chất lượng chăm sóc đời sống tinh thần và phát huy vai trò NCT  Đời sống tinh thần của NCT Bầu không khí trong gia đình NCT và giao tiếp của NCT: Bầu không khí trong gia đình thoải mái giúp đời sống tinh thần NCT vui vẻ, phong phú, giảm bớt tình trạng trầm cảm của NCT. Tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt 76,4%, trong đó 67% số hộ do NCT làm chủ hộ. Đối tƣợng NCT trò chuyện tâm sự hàng ngày của NCT là vợ/chồng (37,5%), con cháu (24,8%), bạn bè hàng xóm (25,2%), không trò chuyện (12,5). Với nhịp sống công nghiệp, hiện đại giao tiếp hàng ngày giữa con cháu đối với NCT chƣa đƣợc quan tâm đúng mực. Lý do chủ yếu do con cháu thiếu thời gian, không sẵn sàng nghe và giữa NCT và con cháu không có cùng mối quan tâm chung. Tham gia các hoạt động văn hóa của NCT: Đời sống văn hoá tinh thần của NCT hiện khá đa dạng và thƣờng xuyên đƣợc cải thiện. Hầu hết NCT (91,6%) tham gia các hoạt động văn hóa nhƣ đọc sách, báo và nghe đài, xem tivi..., trong đó 71,2% là thƣờng xuyên, Ngoài việc tham gia vui chơi ở những điểm nói trên, NCT còn đi lễ chùa, nhà thờ theo nhu cầu tín ngƣỡng của mình. Tình trạng ngược đãi, bỏ rơi NCT: Cá biệt vẫn còn hiện tƣợng ngƣợc đãi NCT. Theo số liệu Bộ LĐ-TB-XH, 7,26% NCT đƣợc xác định có vấn đề ngƣợc đãi/bỏ rơi.
  20. 17  Chăm sóc đời sống tinh thần cho NCT Sự thăm hỏi, hỗ trợ của con cháu đối với NCT: Ngƣời Việt Nam có truyền thống hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Theo số liệu cuả Bộ VH-TT-DL, trong 12 tháng 95,9% con cháu không sông cùng về thăm NCT, trong đó thăm hỏi hàng ngày 28%, một vài lần trong tuần 21,5%, vài lần trong tháng 17,8%, vài lần trong năm 24,3%. Và 47,3% con cháu không sống cùng gửi giúp đỡ vật chất cho NCT. Sự thăm hỏi, hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với NCT: Sự thăm hỏi, quan tâm chăm sóc của Nhà nƣớc đối với NCT đƣợc thực hiện tại cơ sở là trách nhiệm và do chính quyền địa phƣơng đảm nhiệm. Nhƣng việc thực hiện còn nhiều hạn chế, chủ yếu do Hội NCT đảm nhiệm. Các cơ sở văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí cho NCT còn rất hạn chế: sân chơi thể thao (43,1%), nhà văn hóa (43,2%), câu lạc bộ (28,8%) và bể bơi (3,4%).  Phát huy vai trò NCT Sự hỗ trợ của NCT đối với con cháu: Ngoài việc giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu, NCT còn hỗ trợ con cháu về vật chất, công việc gia đình nhƣ dạy dỗ cháu, thu dọn, trông nom nhà cửa... Trên 90% NCT cho biết họ có giúp đỡ con cháu một trong các hoạt động trên. Tham gia công tác xã hội của NCT: NCT tích cực tham gia công tác tại thôn/ấp/tổ dân phố, đặc biệt là với những công việc đặc thù nhƣ: 3,68% tham gia công tác lãnh đạo (chủ yếu ở tuổi 60-74); 4,14% tham gia tổ hoà giải, 2,43% tham gia tổ an ninh nhân dân; 80% tham gia hoạt động Hội NCT và các tổ chức đoàn thể. Nhƣ vậy, chất lƣợng chăm sóc đời sống tinh thần cho NCT tƣơng đối tốt, vai trò của NCT đƣợc phát huy trong mọi mặt của đời sống KTXH, trong gia đình và ngoài xã hội. Việc chăm sóc đời sống tinh thần chủ yếu do NCT/Gia đình/Ngƣời thân và chính quyền địa phƣơng tại cơ sở đảm nhiệm. Tuy nhiên, do nhận thức về công tác NCT chƣa đầy đủ nên công tác chăm sóc đời sống tinh thần cho NCT còn một số hạn chế: + Giao tiếp hàng ngày của con cháu đối với NCT chƣa đƣợc quan tâm đúng mực, cá biệt vẫn còn hiện tƣợng ngƣợc đãi, bỏ rơi NCT. + Tại cơ sở, Hội NCT thực hiện việc chăm sóc đời sống tinh thần NCT là chính, chính quyền địa phƣơng vẫn có nơi, có lúc chƣa thực sự quan tâm đến công tác chăm sóc tinh thần NCT. + Cơ sở vật chất phục vụ đời sống văn hóa tinh thần NCT tại cơ sở chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức. 2.2.3. Phân tích thực trạng chất lƣợng chăm sóc trong các mô hình chăm sóc NCT Để hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc NCT và đặc biệt là chăm sóc NCT cô đơn không nơi nƣơng tựa, Chính phủ và cộng đồng cung cấp sự chăm sóc chính thức của mình thông qua các dịch vụ và mô hình chăm sóc NCT.

Download

capchaimage
Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ