Xem mẫu

  1. TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 22 - Thaùng 8/2014 TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954) NGUYỄN ĐỨC HÒA(*) TÓM TẮT Hưởng độc lập chưa được bao ngày, đồng bào Nam Bộ đã phải đi đầu cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Chiến trường Nam Bộ được chia làm 3 rồi 2 quân khu và cơ cấu hành chính, quân sự, chính trị cũng đã được tổ chức lại. Chiến trường Nam Bộ luôn có vai trò trọng yếu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ đã vượt qua những khó khăn to lớn và đã có nhiều cống hiến cho thắng lợi chung trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Bài viết chỉ tập trung trình bày khái quát về tổ chức chiến trường Nam Bộ và lực lượng vũ trang cách mạng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Từ khóa: Nam Bộ, kháng chiến, chiến trường, lực lượng vũ trang ABSTRACT Enjoyed independence for a short time, Southern people were forced to go ahead standing up fighting against French aggressors coming back Vietnam. The Southern theater was divided into three military zones (then two zones) and the political, administrative and military structure of the resistance reorganized. The Southern region kept an essential and a key theater in the resistance against the French colonialism. Southern people and revolutionary forces overcame huge difficulties and had a lot of contributions for the victory over the French aggressors in the resistance for national salvation. The paper focused on presenting organization of the Southern theater as well as military forces in brief during the nine year-resistance against the French colonialism (1945-1954). Keywords: Southern VietNam, resistance, theater of war, armed forces 1. CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ TRONG đối với vùng đất phía Nam và với đất nước NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Điều đó CHỐNG PHÁP* giải thích tại sao Pháp chọn tấn công Gia Chiến trường theo thuật ngữ quân sự, Định (1859) để làm bàn đạp bình định Việt là nơi diễn ra các hoạt động tác chiến của Nam và toàn bộ Đông Dương. Ngay sau các bên đối địch. Nó được hiểu là vùng đất, khi Cách mạng tháng Tám thành công, khu vực trên đó diễn ra cuộc chiến tranh thực dân Pháp cũng lại chọn Nam Bộ là hoặc các hoạt động tác chiến chiến lược. nơi bắt đầu quay trở lại xâm lược Việt Chiến trường Nam Bộ luôn có vị trí chiến Nam. Nam Bộ là nơi bắt đầu chiến tranh và lược trọng yếu và là kho nhân tài vật lực cũng là nơi kết thúc oanh liệt thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam (*) (tháng 4-1975). PGS.TS, Trường Đại học Sài Gòn 5
  2. Nam Bộ là mảnh đất phía Nam của tổ đã bao vây chặt quân Pháp ở Sài Gòn và quốc đi đầu trong cuộc kháng chiến chống các tỉnh thành Nam Bộ. Tuy nhiên, trong thực dân Pháp ngay từ 23-9-1945. Ngay vòng 3 tháng (10-12/1945), quân Pháp sau trong ngày 23/9/1945, Xứ ủy và Ủy ban khi được tăng viện, với ưu thế vượt trội về kháng chiến Nam Bộ với sự tham dự của vũ khí hiện đại, lại được quân Anh hỗ trợ, các đại biểu như Trần Văn Giàu, Ung Văn đã chiếm đóng hầu hết các thành phố, thị Khiêm, Phạm Ngọc Thạch họp tại đường xã, vùng nông thôn ở Nam Bộ. Cây Mai - Chợ Lớn (nay là số 627-629 Từ 23-9-1945, cho đến trước 19-12- đường Nguyễn Trãi, Quận 1, TP.HCM) xin 1946, quân và dân Nam Bộ đã dũng cảm phép Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch phát chặn bước quân Pháp, và bước đầu làm thất động nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chiến (1). Quyết định của Hội nghị Cây Mai chúng. Đó cũng là thời gian quân và dân đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và Nam Bộ nhanh chóng tổ chức chiến trường Chủ tịch Hồ Chí Minh tán thành; cả nước tổ và lực lượng vũ trang kháng chiến. chức lực lượng Nam tiến chi viện cho cuộc 2. TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỪ 1945 Sau đó, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở ĐẾN 1950 rộng họp ngày 25-10-1945 tại Thiên Hộ Để tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến (Cái Bè, Mỹ Tho) để đối phó với quân toàn dân chống thù trong, giặc ngoài (quân Pháp mở rộng xâm lược. Hội nghị Thiên Trung Hoa dân quốc và quân viễn chinh Hộ đã quyết định hàng loạt các vấn đề xâm lược Pháp), cuối năm 1945, cả nước quan trọng đối với cuộc kháng chiến ở Việt Nam đã được phân chia thành 12 Nam Bộ, như: tăng cường sự lãnh đạo của chiến khu cách mạng. Việc thống nhất các Đảng đối với lực lượng vũ trang; củng cố lực lượng kháng chiến trên chiến trường xa lực lượng vũ trang đã có, phát triển thêm Trung ương như Nam Bộ là một trong các đơn vị vũ trang mới; tổ chức các quân những nhiệm vụ khó khăn mà Đảng và khu v.v... Hội nghị Thiên Hộ có ý nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp bách thực hiện. định hướng đối với cuộc kháng chiến của Sự phát triển lực lượng vũ trang cách nhân dân Nam Bộ. Sau Hội nghị, các cán mạng gắn liền với tổ chức chiến trường bộ và đảng viên trung kiên đã đi sâu, bám Nam Bộ giai đoạn 1945-1950. Sự phân sát quần chúng, gây dựng lại phong trào, chia chiến trường và sự phát triển của lực phát triển cơ sở cách mạng trên toàn chiến lượng vũ trang tập trung ở Nam Bộ diễn ra trường Nam Bộ. từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến Thực hiện chỉ thị Kháng chiến - Kiến toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 và có quốc (25-11-1945) của Trung ương Đảng, những bước phát triển cao hơn từ năm quân và dân Nam Bộ đã nhanh chóng tổ 1948 trở đi. chức lực lượng vũ trang kháng chiến, Các đơn vị vũ trang tập trung ra đời phong tỏa, cắt đứt lên lạc các khu vực bị như nấm sau Cách mạng tháng Tám thành địch chiếm; áp dụng chiến tranh du kích; công 1945 trở đi. Một số đơn vị ngụy quân giữ vững liên lạc để thống nhất chỉ huy do Pháp, Nhật tổ chức từ trước (họ ít nhiều giữa các chiến khu ở Nam Bộ (2). Chiến có kiến thức quân sự) đã tuyển thêm người tranh nhân dân với nhiều hình thức diễn ra và tự phong là là các sư đoàn. Lực lượng 6
  3. của ba “Sư đoàn dân quân cách mạng” Các đơn vị vũ trang trên chiến trường Nam gồm: Đệ nhị sư đoàn (1.000 quân do Vũ Bộ đã dần dần được thống nhất và đặt dưới Tam Anh chỉ huy), Đệ tam sư đoàn (5.000 sự lãnh đạo của Đảng, làm nòng cốt cho quân do Nguyễn Hòa Hiệp chỉ huy) và Đệ cuộc kháng chiến toàn dân. tứ sư đoàn (2.000 quân do Lý Hoa Vinh chỉ Do các chiến khu chưa nhận được chỉ huy). Ngoài các sư đoàn trên, còn có các thị của Chính phủ VNDCCH, nên Chủ tịch đơn vị vũ trang của các giáo phái Hòa Hảo, Hồ Chí Minh đã cử Nguyễn Bình làm Đặc Cao Đài (do Đặng Quang Dương, Lâm phái viên vào Nam Bộ để truyền đạt mệnh Văn Phát chỉ huy). Lực lượng Bình Xuyên lệnh tổ chức lại lực lượng cách mạng. Phái gồm các nhóm giang hồ, thành phần “anh viên quân sự Nguyễn Bình đã triệu tập Hội chị” lưu manh hợp thành (Huỳnh Văn Trí, nghị quân sự Nam Bộ tại An Phú Xã, Gia Lê Văn Viễn, Nguyễn Văn Hoạnh, Võ Văn Định (20-11-1945), bàn về tổ chức lực Môn, Trần Văn Đối) (3). Xứ ủy Nam Bộ lượng vũ trang và chỉ huy quân sự trên chủ trương phái các đảng viên và đoàn viên chiến trường Nam Bộ. Sau đó, tại Hội nghị Công đoàn Sài Gòn –Chợ Lớn vào các đơn quân sự của Xứ ủy Nam Bộ tổ chức tại xã vị Bình Xuyên. Như vậy, ngoài lực lượng Bình Hòa Nam, huyện Đức Hòa, Chợ Lớn vũ trang cách mạng do Đảng thành lập, còn (10/12 /1945), Nguyễn Bình chỉ thị thành nhiều lực lượng vũ trang khác có thành lập các chiến khu cách mạng, thống nhất lực phần xã hội rất phức tạp trên chiến trường lượng vũ trang trong Vệ quốc đoàn để tổ Nam Bộ. chức kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã cải tổ ba Hội nghị Bình Hòa Nam ngày 10-12- lữ đoàn bảo an binh ở Sài Gòn thành Đệ 1945 đã quyết định chia chiến trường Nam nhất sư đoàn, sau đó đổi thành Cộng hòa Bộ thành ba khu và chỉ định Khu bộ trưởng vệ binh với số quân khoảng 10.000. Thực và Chính trị ủy viên khu đảm trách sự chỉ ra vào lúc đó Đảng chỉ nắm chắc được lực đạo tác chiến, cũng như sự lãnh đạo của lượng vũ trang của Tổng Công đoàn Nam Đảng trong quân đội. Như vậy, từ tháng 12 Bộ. Khi mới bước vào kháng chiến, các lực năm 1945 đến tháng 2 năm 1951, chiến lượng vũ trang Nam Bộ chưa được tổ chức trường Nam Bộ được tổ chức thành 3 khu: chặt chẽ. Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và nhiều Khu 7 (Đông Nam Bộ), Khu 8 (Trung Nam cấp ủy địa phương vẫn chưa nắm chắc Bộ), và Khu 9 (Tây Nam Bộ). Do ở xa được các lực lượng vũ trang (4). Trong giai Trung ương, cả ba chiến khu 7, 8, 9 được đoạn đầu kháng chiến, tài năng và uy tín đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy của phái viên Nguyễn Bình có vai trò quan Nam Bộ và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ. trọng trong việc thu phục, thống nhất các Khu 7 do Nguyễn Bình làm Khu bộ đơn vị vũ trang cát cứ nằm ngoài sự lãnh trưởng, đồng chí Trần Xuân Độ làm Chính đạo của Đảng trên chiến trường Nam Bộ. trị ủy viên gồm có 7 tỉnh, thành: Thủ Dầu Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Bộ đã tạo nên sự phân hóa và là một sự Lớn, Sài Gòn, Bà Rịa. Lực lượng vũ trang sàng lọc khắt khe, loại bỏ bớt các phần tử ô tại Khu 7 có các chi đội: 1 (Thủ Dầu Một), hợp, cơ hội, phản động trong các lực lượng 2-3 (Bình Xuyên của Dương Văn Dương), vũ trang trên. Quá trình đó diễn ra rất mạnh 4 (Bình Xuyên của Huỳnh Văn Trí), 6 (Gia mẽ, kéo dài cho đến tận cuối năm 1946. Định), 7 (Bình Xuyên của Mai Văn Vĩnh), 7
  4. 8 (Cao Đài, Tây Ninh do Nguyễn Thành 1946), cho đến Tạm ước (14-9-1946) nhiều Phương chỉ huy), 9 (Bình Xuyên của Lê bộ đội và cán bộ cách mạng dũng cảm đi Văn Viễn), 10 (Biên Hòa, Huỳnh Văn sâu vào các vùng tạm bị chiếm, góp sức Nghệ và Phan Đình Công chỉ huy), 11 (Tây khôi phục chính quyền dân chủ nhân dân, Ninh, Trịnh Khánh Vàng và Nguyễn Lê xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa Uẩn chỉ huy), 12 (Gò Vấp, Hóc Môn, do phương, phát triển chiến tranh du kích, Tô Ký và Hoàng Tế Thế chỉ huy), 13 phát dộng quần chúng đấu tranh phá tề, trừ (Công đoàn Sài Gòn), 15 (Chợ Lớn), 16 gian trên khắp chiến trường Nam Bộ. (Bà Rịa, do Huỳnh Văn Đạo và Hoàng Từ mùa hè 1946, bên cạnh lực lượng Tiêu chỉ huy), 21 (Bình Xuyên của Nguyễn tự vệ chiến đấu hùng hậu ở nông thôn (mỗi Văn Tỵ), 25 (Bình Xuyên của Nguyễn Văn xã có từ một đến hai tiểu đội), các ban Hoạnh). Vũ khí trang bị Khu 7 có hơn công tác ở thành phố, thị xã (có hàng ngàn 3000 súng các loại (5). Khu 7 có vai trò rất đội viên), đã hình thành 25 chi đội Vệ quốc quan trọng với kháng chiến bao gồm Đông đoàn và một số đơn vị bộ đội tập trung Nam Bộ, Sài Gòn – Chợ Lớn trực tiếp do khác trên toàn chiến trường Nam Bộ. Sự Nguyễn Bình chỉ huy. thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ Khu 8 do ông Đào Văn Trường làm tạo nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến Khu trưởng, đồng chí Võ Sĩ làm Chính trị toàn dân. Những cuộc tấn công của lực ủy viên. Khu 8 gồm có 5 tỉnh: Tân An, Mỹ lượng vũ trang ta đã gây cho quân đội viễn Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc. Lực chinh Pháp những tổn thất nặng nề, như lượng vũ trang tại Khu 8 có các chi đội: 14 chính tướng Pháp Raoul Salan đã than thở: (Tân An), 17 (Mỹ Tho), 18 (Sa Đéc), 19 “Bọn phiến loạn được Nguyễn Bình kích (Bến Tre), 20 (Vĩnh Long). Trang bị của thích, tiếp tục đấu tranh, bất kể hiệp định lực lượng vũ trang Khu 8 có trên 800 súng (Hiệp định 6/3), chúng hoạt động theo các loại. phép đánh du kích, tiến hành những cuộc Khu 9 do ông Hoàng Đình Giong làm phục kích quy mô hàng trăm tên… gây cho Khu trưởng và đồng chí Phan Trọng Tuệ là chúng ta (Pháp) nhiều tổn thất” (7). Chính trị ủy viên. Khu 9 gồm có 9 tỉnh: Các đội vũ trang non trẻ được tổ chức Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch lại, chiến đấu chống đội quân đội viễn Giá, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần chinh Pháp trên chiến trường Nam Bộ. Thơ, Sóc Trăng. Lực lượng vũ trang tại Quân và dân Nam Bộ đã bền bỉ tiến hành Khu 9 có các chi đội: 21 (Long Xuyên, cuộc chiến đấu ác liệt, tuy không cân sức Châu Đốc), 22 (Cần Thơ), 23 (Sóc Trăng), nhưng đã cầm chân được đội quân nhà 24 (Rạch Giá), 25 (Bạc Liêu) (6). Trang bị nghề Pháp suốt từ 23-9-1945 cho đến ngày vũ khí của lực lượng vũ trang Khu 9 tương toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) trên đối đầy đủ hơn các khu khác ở Nam Bộ. chiến trường Nam Bộ. Sự dũng cảm chiến Cùng với việc tổ chức chiến trường, sự đấu và hi sinh của quân và dân Nam Bộ thống nhất và phát triển lực lượng vũ trang được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao: Nam Bộ thực sự chuyển động mạnh từ mùa “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, xuân năm 1946, triển khai các quyết định đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ của 3 hội nghị (Thiên Hộ, An Phú Xã, Bình phấn đấu đã lâu, hy sinh rất nhiều…Sự anh Hòa Nam). Từ sau Hiệp định Sơ bộ (6-3- dũng của đồng bào trong đó đã làm gương 8
  5. cho đồng bào toàn quốc noi theo” (8). Bắc Thu-Đông 1947 cho đến 1950, thực Để làm cơ sở cho tổ chức chiến trường dân Pháp ráo riết tập trung binh lực để thực trong kháng chiến, chính quyền cách mạng hiện chính sách bình định, củng cố và mở được xây dựng và củng cố trên 1.000 xã rộng vùng tạm chiếm ở đồng bằng Nam trong tổng số 1.234 xã ở Nam Bộ. So với Bộ. Thực dân Pháp ra sức giành dân, bắt trước ngày 6-3-1946, vùng giải phóng ở lính và xây dựng nhiều đồn bốt, tháp canh nông thôn được mở rộng; nhiều căn cứ địa trong cấu trúc phòng ngự của De Latour để lớn như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, khống chế các địa bàn trên chiến trường Chiến khu được hình thành và củng cố… Nam Bộ. Các căn cứ nhỏ liên huyện, liên xã ở Nam Bắt đầu từ năm 1948 bộ đội chủ lực Bộ cũng được thành lập. Lực lượng vũ trang Nam Bộ được phân tán thành các đại đội ba thứ quân ở Nam Bộ được xây dựng và độc lập đưa về các địa phương để phát triển củng cố. Ở các vùng nông thôn Nam Bộ, chiến tranh du kích và xây dựng cơ sở cách hầu hết các xã đều có các đội du kích. Ở các mạng. Cùng với cả nước, biến hậu phương đô thị, lực lượng tự vệ được xây dựng và địch thành tiền phương của ta là một thành củng cố. Các đơn vị bộ đội tập trung đã công to lớn của quân dân Nam Bộ từ năm được xây dựng từ cấp tỉnh đến cấp khu. 1948 trở đi. Từ 1949 đến đầu 1950, các đại Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ đội độc lập lại được rút về xây dựng các (19-12-1946), Xứ ủy lâm thời Nam Bộ đã trung đoàn chủ lực trên chiến trường Nam nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng Bộ. Mỗi khu ở Nam Bộ có một trung đoàn phối hợp chiến đấu với chiến trường toàn chủ lực [11]. Trong năm 1949- 1950, chiến quốc, do “Nam Bộ là căn cứ của Pháp thực tranh du kích chống chính sách bình định dân để lấy nhân, vật, tài lực để chiến tranh của địch phát triển mạnh mẽ ở Nam Bộ. với cả toàn quốc của ta, và Đông Dương, Trên chiến trường Nam Bộ, nhiều làng chúng ta phải có chính sách không những chiến đấu được xây dựng như Tân Phú làm cho chúng không thể lấy Nam Bộ dùng Trung, Tân An Hội, Phước Vĩnh An, cùng đánh Trung, Bắc mà lại làm Nam Bộ cản với sự xuất hiện các địa đạo toàn thôn xã trở thêm khó khăn nguy hại cho chúng” như Phú Thọ Hòa, Long Phước, Xuyên [9]. Xứ ủy Lâm thời Nam Bộ đã lập tức chỉ Phước Cơ…. đạo cho “lãnh đạo và nhân dân các Khu 7, Trong giai đoạn 1945-1950, chiến 8, 9 mở rộng, phát triển chiến tranh du kích trường Nam Bộ đã được ta phân chia và tổ lên một bước mới, đẩy mạnh đánh địch ở chức ngày càng chặt chẽ. Việc tổ chức khắp các mặt trận, mở một cuộc tổng tiến chiến trường Nam Bộ đã giúp thống nhất công, quấy rối, phong tỏa, phá hoại, đã góp về tổ chức chính trị của Đảng, tập trung chỉ phần phá các cuộc tiến công của địch trên đạo quân sự, điều hành cơ cấu chính quyền các chiến trường Bắc Bộ và Trung Bộ” và từng bước kiện toàn lực lượng vũ trang [10]. Quân và dân Nam Bộ hoàn thành tốt chiến đấu. Từ năm 1945 đến cuối 1950, các chỉ thị của Trung ương khi đã kìm chặt đơn vị vũ trang tập trung ở Nam Bộ được chân quân Pháp trên địa bàn, không cho thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng rút những đơn vị tinh nhuệ ra tăng và dần dần hình thành các đơn vị chủ lực. cường cho các chiến trường khác. Quân và dân Nam Bộ từng bước gây dựng, Từ sau thất bại trong chiến dịch Việt phát triển phong trào chiến tranh du kích, 9
  6. thống nhất lực lượng vũ trang, xây dựng và phương, lực lượng rút lui về căn cứ, dân củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều quân du kích không tích cực hoạt động kiện thuận lợi cùng cả nước chuẩn bị và phối hợp với các chiến trường khác; chủ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp từ trương hữu khuynh nằm im không hoạt 1945 đến 1950. động “trường kỳ mai phục, súc tích lực 3. TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG VÀ lượng, chờ đợi thời cơ” (12). LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TÁC CHIẾN Do những sai lầm trong chỉ đạo cách NAM BỘ TỪ SAU THÁNG 5-1951 mạng của các địa phương ở Nam Bộ, cho ĐẾN 1954 nên lực lượng vũ trang ta ở các vùng tạm bị Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II chiếm và ở các vùng du kích bị tiêu hao (2-1951), cơ quan Trung ương phân cục nặng và hoạt động giảm sút rõ rệt. Phong miền Nam được thành lập (gọi tắt là Trung trào cách mạng ở Nam Bộ chịu nhiều tổn ương Cục miền Nam) tại Nam Bộ. Trung thất và phải trả giá cho những sai lầm của ương Cục chỉ đạo tổ chức lại chiến trường, ta. Sai lầm hữu khuynh của một số địa sắp xếp lại lực lượng vũ trang. Chiến phương Nam Bộ gây nên những hậu quả trường Nam Bộ được tổ chức lại cho phù rất nghiêm trọng: để mất đất, mất dân, lực hợp với yêu cầu mới của cách mạng, nhất là lượng vũ trang suy yếu. Tình trạng này kéo từ khi Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt dài từ 1951 cho đến tận năm 1953. động công khai (2-1951). Tháng 5 năm Nam Bộ là chiến trường tập trung các 1951, các khu ở Nam Bộ được giải thể, các chiến dịch bình định lớn của Pháp, với Sài tỉnh liền nhau nhập lại thành tỉnh mới; Nam Gòn là trung tâm điều hành các hoạt động Bộ chia thành Phân liên khu miền Đông, chiến tranh xâm lược của chúng ở Nam Phân liên khu miền Tây và Đặc khu Sài Đông Dương. Lực lượng quân Pháp và Gòn - Chợ Lớn. Cơ quan Trung ương Cục, quân đội tay sai “Quốc gia Việt Nam” tập Ủy ban kháng chiến hành chính, Bộ Tư trung rất đông trên chiến trường Nam Bộ. lệnh Nam Bộ chuyển lên miền Đông, đứng Cho đến năm 1954, hầu hết lực lượng Bình chân tại chiến khu Dương Minh Châu. Xuyên và lực lượng các giáo phái Cao Đài, Định hướng cho công tác vùng tạm Hòa Hảo đều nằm trong lực lượng võ trang chiếm và công tác du kích được đưa ra tại của địch chống lại cách mạng, đưa tổng số Hội nghị lần II Ban chấp hành Trung ương quân tay sai tại Nam Bộ lên tới 19 tiểu Đảng (27-9 đến ngày 5-10-1951). Vùng đoàn (13). Do vậy cuộc kháng chiến của sau lưng địch ở Nam Bộ có ba công tác quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ chính là dân vận, vận động ngụy binh và vẫn diễn ra rất khốc liệt, kể cả sau chiến đẩy mạnh chiến tranh du kích, trong đó dân thắng Điện Biên Phủ. vận được xác định là gốc của mọi công tác. Ngay từ đầu năm 1954, trong chỉ thị Phong trào cách mạng ở Nam Bộ từ sau cho Trung ương Cục miền Nam, Ban Bí 1951 gặp rất nhiều khó khăn, vì lãnh đạo thư Trung ương Đảng phân tích tình hình, các địa phương không nắm được điểm này. tương quan lực lượng giữa ta và địch và Ở một số địa phương Nam Bộ do không cho rằng cuộc kháng chiến ở Nam Bộ “còn quán triệt đầy đủ phương châm hoạt động rất khó khăn và lâu dài” và đưa ra chỉ đạo: vùng tạm chiếm, nên lãnh đạo giải tán xã “Trong năm 1954, nếu Nam Bộ giữ vững đội, đưa phần lớn bộ đội chủ lực, địa được thế cầm cự lâu dài với địch không 10
  7. cho chúng thực hiện âm mưu bình định, là Long, cho tới Sài Gòn. Chiến trường Nam căn bản đã thắng được chúng. Nam Bộ Bộ đã có đóng góp quan trọng trong phối trong năm 1954 có ba nhiệm vụ chính: 1. hợp với các chiến trường khác trong toàn Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích; quốc trong chiến dịch Đông Xuân 1953- 2. Củng cố và mở rộng căn cứ; 3. Đẩy 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. mạnh công tác ngụy vận” (14). Theo chỉ thị 4. KẾT LUẬN của Đảng, quân và dân Nam Bộ đã rất nỗ Việc tổ chức chiến trường và phát triển lực khắc phục những sai lầm hữu khuynh lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam Bộ trong các hoạt động trên khắp các chiến có vai trò quan trọng trong suốt cuộc kháng trường từ vùng chiến tranh du kích mạnh, chiến chống Pháp, khi Nam Bộ đứng lên tới vùng tranh chấp và cho tới vùng bị địch kháng chiến (23-9-1945) cho đến chiến tạm chiếm, đặc biệt là Sài Gòn. dịch Đông Xuân 1953-1954. Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung Qua hai giai đoạn tổ chức và phát triển, ương Đảng, Trung ương Cục kịp thời uốn chiến trường Nam Bộ đã hoàn thành xuất nắn và các địa phương Nam Bộ, nhất là ở sắc nhiệm vụ của Đảng và của dân tộc. miền Đông đã tích cực xây dựng lại phong Quân và dân Nam Bộ vừa tiến hành chiến trào và tổ chức lại lực lượng vũ trang. Các tranh du kích, vừa đánh bại các chiến dịch đội công tác của các Phân liên khu miền bình định của thực dân Pháp, đồng thời kìm Đông, miền Tây cùng đội vũ trang tuyên chân chúng, không cho chúng chi viện lực truyền các tỉnh đã dũng cảm luồn sâu, trở lượng cơ động cho các chiến trường khác. lại hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng ở Sự thay đổi và kiện toàn tổ chức chiến các vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm. trường, cũng như lực lượng vũ trang đã Trong Đông Xuân 1953-1954, các khu giúp quân và dân Nam Bộ phối hợp nhàng du kích và căn cứ địa ở Nam Bộ, dần dần với các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, và được phục hồi và phát triển. Vùng mới giải toàn chiến trường Đông Dương và đóng phóng ở Nam Bộ được củng cố, tạo chỗ góp to lớn vào những thắng lợi chung đứng chân vững chắc cho lực lượng vũ chiến dịch Đông xuân 1953-1954, chiến trang ta và tạo thế uy hiếp đối với địch từ dịch Điện Biên Phủ lịch sử, cũng như trong khắp vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1984) Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954, Tập I, NXB QĐND, Hà Nội, tr.66. 2. Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự (2004), Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, NXB QĐND, Hà Nội, tr.567-568. 3. Bộ Quốc phòng (1990), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1954), Tập 1, NXB QĐND, Hà Nội, tr.119. 11
  8. 4. Bộ Quốc phòng (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập II sđd…tr.273. 5. Đảng Lao động Việt Nam (1969), Văn kiện Đảng (từ 25-12-1945 đến 31-12-1947, Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr.17-18. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, NXB CTQG, Hà Nội, tr.162 7. Hồ Sơn Đài (2008), Cuộc kháng chiến 1945-1975 nhìn từ Nam Bộ, Nxb CTQG, tr.72. 8. Hồ Chí Minh (1995), Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tập 5, tr.116. 9. Lê Mậu Hãn (2014), Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.35. 10. Lê Văn Dương (1972), Quân lực Việt Nam Cộng hòa giai đoạn hình thành 1946- 1955, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuất bản, Sài Gòn, tr.317. 11. Raoul Salan, Việt Nam địch thủ của tôi, Thư viện quân đội, T/79-5531, tr.9. 12. Tình hình Nam Bộ 1945-1947, Hồ sơ số 6, Phòng Nam Bộ, Kho Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ số 118-119. 13. Trần Bá Đệ, Nguyễn Xuân Minh (2010), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945-1954, NXB. ĐHSP, Hà Nội, tr.101. 14. Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp (1951-1954), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1998, tr.325. * Ngày nhận bài: 11/6/2014. Biên tập xong: 30/7/2014. Duyệt đăng: 05/8/2014 12