Xem mẫu

  1. TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 20 - Thaùng 4/2014 THỜ NỮ THẦN Ở PHÚ QUỐC: TỪ TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ THUỶ ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ THÁNH MẪU TRẦN THỊ AN (*) TÓM TẮT Sử dụng các kiến thức điền dã các ngôi dinh thờ nữ thuỷ thần ở Phú Quốc: Dinh Bà Dương Đông, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông Lang, Dinh Bà Cửa Cạn, bài viết đã chỉ ra nhu cầu mãnh liệt của người dân trong tục thờ cúng các vị nữ thần được thờ ở các Dinh Bà trên đảo, về sự đa dạng của văn hoá tộc người và sự đa dạng của văn hoá vùng miền thể hiện trong tín ngưỡng thờ Bà ở các ngôi Dinh. Từ điểm nhìn đương đại, bài viết đã chỉ ra sự vận động của tín ngưỡng thờ Bà ở các Dinh từ tục thờ bà Thủy của các cư dân ngư nghiệp (trên đảo) và người đi biển (ở trên đảo và ở các vùng khác) đến tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu của các tầng lớp cư dân (trên đảo, trong nước và nước ngoài) với tư cách là một hệ thống mở để có thể đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm tin của người dân trước những biến đổi mau lẹ của đời sống hôm nay. Từ khoá: tín ngưỡng, thờ cúng, nữ thần, thờ Thánh Mẫu ABSTARCT Based on countryside knowledge of temples with naiad worship in Phu Quoc such as: Lady Duong Dong’s Temple, Lady Ham Ninh’s Temple, Lady Ong Lang’s Temple, Lady Cua Can’s Temple, the article has shown the strong demand of the people in the practice of worshipping goddesses at Ladies’ Temples on the island as well as the diversity of the ethnic culture and the regional culture shown in goddess worshipping faiths at different Ladies’ Temples. Based on the contemporary points of view, the article points out the developments of the naiad worshipping beliefs at the temples from naiad worshipping beliefs of the fishery residents (living on the island) and the seafarers (living on the island and in other regions) to “Thanh Mau” worshipping beliefs of different classes of the people (living on the island as well as in Vietnam and foreign countries) as an open system which can meet the people’s needs of relying their faiths in facing the rapid change of modern life. Keywords: belief, worship, goddess, “Thanh Mau” worship * Là một hòn đảo lớn nhất trong số 22 lí tưởng trên các chuyến hải hành hay hòn đảo của huyện đảo Phú Quốc với diện những chuyến tìm đất nên đã đón nhận tích là 574 km² (toàn huyện đảo là 593,05 nhiều đợt di dân. Bên cạnh đó, do nhiều cơ km²), đảo Phú Quốc là nơi có cảnh sắc duyên trong l ch sử, đảo Phú Quốc cũng đã thiên nhiên đẹp, đ a hình đa dạng: có núi, là nơi dừng chân, nơi trú ngụ của một số có sông, có suối và bao quanh tứ bề là biển. nhân vật l ch sử quan trọng. Những đặc Với đặc điểm này, Phú Quốc được coi là điểm đ a lý, l ch sử này khiến cho Phú một nơi trú ẩn an toàn, một nơi dừng chân Quốc trở thành nơi hội tụ nhiều luồng văn hóa và sự đan xen văn hoá của các cộng (*) PGS.TS, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. đồng dân cư trong quá trình cộng cư và đã 5
  2. làm nên nét đặc sắc của văn hoá nơi đây. nhỏ có một bức bình phong là một gian thờ Bao quanh là biển, do vậy, để bám trụ Mẫu có tên là Thủy Long Thánh Mẫu cung. lại hòn đảo này, dù không hành nghề chài Phía trong, không gian thờ cúng gồm một lưới thì người dân nơi đây cũng phải gian thờ có ba ban: ban chính giữa thờ Mẫu thường xuyên đối diện với biển; họ đương có bức đại tự: “Vạn cổ anh linh”, ban bên nhiên phải thích ứng với biển để tồn tại, phải thờ Tiền hiền, ban bên trái thờ Hậu phải nương vào biển để sống. Sự thích ứng hiền. Ban thờ Mẫu được thiết kế gần giống ấy dẫn đến sự gắn bó sâu sắc với vùng đất với điện thờ Tứ phủ gồm có phía trên thờ đang sống; sự nương tựa đó dẫn đến một Mẫu, và phía dưới là một khám nhỏ. Nhìn lòng biết ơn và tình yêu với biển khơi. Nó vào cách bài trí này, có thể thấy ở đây sự đã được chưng cất thành những biểu tượng hội nhập giữa việc thờ Mẫu với tín ngưỡng của đời sống tâm linh con người Phú Quốc. thờ các v khai canh (tiền hiền, hậu hiền) – Một trong những biểu hiện của tính đa sắc vốn là một bước đệm cho việc xây dựng thái văn hóa, tính thích ứng và nương tựa biểu tượng của tín ngưỡng thờ thành hoàng vào biển cả của Phú Quốc là tín ngưỡng từ Trung Bộ vào Nam Bộ. Bên trái của lối thờ nữ thần, mà người dân ở đây quen gọi vào gian thờ là một tủ quần áo của Mẫu do là Bà và di tích thờ Bà được gọi là Dinh: người dân cúng Bà, tủ quần áo này giống Dinh Bà. như tủ quần áo mà ta thấy ở đền thờ bà 1. VỀ HỆ THỐNG DINH BÀ Ở Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang). ĐẢO PHÚ QUỐC Về nhân vật được thờ, một số tài liệu Đảo Phú Quốc có 4 ngôi Dinh Bà, đó cho biết, Dinh thờ bà Kim Giao, công chúa là: Dinh Bà Dương Đông (thờ Thủy Long của vương quốc Khmer có công khai phá Thánh Mẫu) ở th trấn Dương Đông; Dinh đảo. Dinh Bà Dương Đông và Dinh Bà Bà Ông Lang (còn gọi là Dinh Bà Lớn Cửa Cạn đều cùng thờ Bà. Trong khi đó, Tướng, thờ bà Lê Kim Đ nh) ở ấp Ông Trương Thanh Hùng lại cho rằng, dinh Bà Lang, xã Cửa Dương, Dinh Bà Hàm Ninh Dương Đông thờ Thủy Long Thánh Mẫu, (thờ Thiên Ya Na ở xã Hàm Ninh), Dinh được gọi là Dinh Bà Ngoài để phân biệt Bà Cửa Cạn (thờ bà Kim Giao) ở xã Cửa với Dinh Bà Trong thờ Kim Giao1. Điều Cạn. Phú Quốc có 5 khu dân cư chính thì này cũng được xác nhận thêm bởi ch Tư, các di tích thờ Bà trên nằm ở 3 khu dân người trông coi Dinh Bà Dương Đông cư/làng chài: th trấn Dương Đông (vốn là trong d p điền dã tháng 6/2013 của chúng một làng chài lớn của đảo), làng chài Hàm tôi. Ch Tư cho biết: Dinh Bà Dương Đông Ninh và làng chài Cửa Cạn. thờ Thủy Long Thánh Mẫu, trong Dinh 1.1. Dinh Bà Dương Đông hiện có bức cuốn thư đề Thủy Long Thánh Nổi tiếng nhất đối với du khách là Mẫu cung khẳng đ nh đây là cung điện thờ Dinh Bà Dương Đông (nằm trên đường Võ Thánh Mẫu. Hiện nay, bức cuốn thư được Th Sáu, Khu 1, Th trấn Dương Đông) trang trí rất đẹp nhưng một bức ảnh khác trông ra biển, dưới chân núi Dinh Cậu. (nguồn Internet, không rõ năm chụp) cho Dinh Bà Dương Đông thờ Thuỷ Long thấy vào năm 1970, năm chữ này chỉ mới Thánh Mẫu. được viết lên tường (phụ đề dưới cụm từ Dinh Bà Dương Đông được bài trí đơn trên là “Kỉ niệm tái thiết năm canh tuất giản: từ ngoài đường vào, qua một cái sân ngày 18-10-1970”). Bức ảnh này cho ta 6
  3. biết ít nhất là việc đ nh danh “Thủy Long Về nhân vật được thờ, Dinh Bà Ông Thánh Mẫu” đã có từ năm 1970. Hai bên Lang thờ bà Lê Kim Đ nh, tương truyền là cửa ra vào của gian thờ Thánh Mẫu (cùng vợ Nguyễn Trung Trực. Bà cùng ông tham với bức ảnh ghi năm tu sửa 1970) là đôi gia chống quân Pháp những năm cuối đời câu đối: nên được dân gian tôn vinh là bà Lớn Siêu tứ thủy dĩ vi vương công năng phối địa Tướng (người kể cho tôi biết gọi như thế Mại quần long nhi lập cực đức khả tham thiên bởi bà vừa là bà tướng, vừa là vợ ông lớn). Có nghĩa là: Cách đó khá xa, nằm ngay sát mé biển là Vượt qua bốn bể làm vương, công sánh ngôi mộ của bà. Đường đi đến mộ bà tương cùng với Đất đối khó khăn, phải vượt qua một cánh đồng Cao hơn cả đoàn rồng để lập ngôi cao, đức cát trắng, chưa có đường ô tô, qua một cái lớn ngang Trời. cầu nhỏ, đến mép biển thì mới đến mộ. Đôi câu đối này đã dùng 2 chữ “Thủy” Mặc dù nằm giữa một vùng cát khá hoang và “Long” ở 2 vế để chỉ danh xưng Thủy vu nhưng ngôi mộ của bà được xây khá Long của Mẫu và dùng những lời tán tụng khang trang. để ca ngợi công đức sánh ngang Trời, Đất 1.3. Dinh Bà Hàm Ninh của ngài. Điều này cho thấy người soạn đôi Ở làng chài Hàm Ninh có một ngôi câu đối đã bày tỏ lòng tôn kính bà Thủy dinh được gọi là Dinh Bà Hàm Ninh. Khác Long với tư cách là v vua biển mà công với hai ngôi dinh trên, Dinh Bà Hàm Ninh đức được đánh giá ở mức tuyệt đối. không nằm sát biển mà nằm sâu trong xã. 1.2. Dinh Bà Ông Lang Người dân ở đây kể lại là trước đây, ngôi Cách th trấn Dương Đông 7 km về dinh nằm sát biển nhưng do sạt lở đã được phía Tây Bắc là một ngôi Dinh Bà Ông chuyển vào v trí hiện nay. Ông Vạn (65 Lang (ở ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) là tuổi ở tổ 13, ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh) một ngôi dinh nằm sát bờ biển phía Bắc và ch Phúc (47 tuổi, nhà ở ngay cạnh đảo. Nằm trong một khuôn viên rất rộng, Dinh) cho biết, khi ông Vạn về đây ở (cách nhưng Dinh cũng chỉ mới có một gian thờ đây 40 năm) và khi ch Phúc còn nhỏ, ngôi nhỏ. Theo đại tự ghi ngay cửa vào Dinh dinh đã được chuyển về đ a điểm này. thờ, Dinh được dựng năm 1946, và mới Dinh Bà Hàm Ninh có 2 gian thờ là được tu sửa lại năm 2007 với kiến trúc rất Dinh Ông Nam Hải và Dinh Bà Thuỷ; phía mới. Trong gian thờ chỉ có một ban thờ bà ngoài sân là hai khám thờ nhỏ bên trái bên Lê Kim Đ nh. Ngai thờ được bài trí bằng phải kiểu như ban thờ Cô, thờ Cậu trong một bức tượng bà mặc quần áo có màu sắc tín ngưỡng Tứ phủ. Trong Dinh Ông Nam rực rỡ và đeo vòng xuyến rất đẹp và bên Hải có một bộ xương cá Ông, trong Dinh trái là bức chân dung Nguyễn Trung Trực. Bà Thủy có hai cung thờ, cung phía ngoài Hai bên ban thờ là 2 dòng chữ đắp nổi theo chỉ có một bát hương và hai con hạc chầu hàng dọc: “Anh hùng dân tộc” và “Trung hai bên; cung trong thờ Bà, có một pho trinh liệt nữ”. Lối vào bên trái cũng có một tượng Bà khá nhỏ nhắn, cao chừng 30 cm. tủ quần áo Bà Lớn Tướng được người dân Hai bên của ban thờ Bà có 2 chiếc thuyền cúng như ở Dinh Bà Dương Đông. Ngoài gỗ và một số sản vật biển như san hô. Phía sân, phía trông ra biển có hai pho tượng trái lối vào có một tủ quần áo cúng Bà, các thờ Quan Âm Nam Hải. bộ quần áo ở đây bằng kích thước quần áo 7
  4. của người bình thường dùng để treo và một nước sâu (dân đ a phương gọi là “búng”) số bộ quần áo nhỏ để thay cho bà vào d p nên còn được gọi là Búng Dinh Bà. lễ hội (tối 22, ngày 23/3 âm l ch). Về nhân vật được thờ, các tài liệu Đặc biệt, ngay trước cửa vào gian thờ truyền ngôn cho biết, Dinh thờ Bà Kim bà Thủy là một tấm liễn nhỏ bằng gỗ, Giao, tương truyền là người Khơ Me, thuộc chính giữa khắc chữ “Tâm”. Dòng lạc dòng dõi vua Campuchia. Do vua b lật đổ khoản hai bên ghi là: Quang Tự, Quý Mão nên Bà lánh nạn sang đảo Phú Quốc. Khi niên, quý xuân nguyệt, cát đán, Hải Nam đi, Bà mang theo đàn trâu để khai phá đất tín phàm Hoàng Ứng Tinh, Khánh Vân, đai tìm đất làm ruộng. Tương truyền, Bà Đắc Lan, Quách Viễn Phiên đồng kính Kim Giao lập trại bên bờ Búng, hiện vẫn phụng (có nghĩa là: Ngày tốt đầu tháng Ba còn cánh đồng gọi là Đồng Bà và các dấu năm Quý Mão, niên hiệu Quang Tự (1903), vết cột được coi là cột buộc trâu của Bà Tín chủ là người phàm trần ở Hải Nam là xưa kia. Người dân Phú Quốc có một niềm Hoàng Ứng Tinh, Hoàng Khánh Vân, tin thiêng liêng đối với Bà – với tư cách là Hoàng Đắc Lan và Quách Viễn Phiên cùng người khai khẩn hòn đảo này. kính thờ). Đây là một thông tin hết sức Nhìn một cách tổng thể 4 di tích Dinh quan trọng. Thông tin này cho biết: đây là Bà ở đảo Phú Quốc, có thể bước đầu rút ra tấm liễn do những người ở đảo Hải Nam một số nhận xét sau: việc hình thành tín ghé lên bờ cúng. Có thể đây là những ngưỡng thờ Bà và lập Dinh để thờ là một người làm ăn trên biển (theo lời người dân quá trình khá lâu dài, thể hiện trong đó kể là Dinh Bà trước đây nằm sát bờ biển), trước hết là nhu cầu về đời sống tâm linh trên đường đi đã lên cúng ở Dinh Bà, do của người dân. Trong quá trình thích ứng được bà phù hộ nên đã trở lại lễ tạ. Nếu với vùng đất mới gồm một phức hệ đ a lý đúng là như vậy thì có thể thấy rằng, Dinh rừng, núi, sông biển, các cư dân đảo đã có Bà Hàm Ninh đã nổi tiếng là một đ a chỉ một nỗ lực không ngừng để chung sống với thiêng ít nhất vào cuối thế kỉ XIX. môi trường đ a lý-xã hội mới. Sự nỗ lực Về đối tượng được thờ, Dinh Bà Hàm thích nghi trong đời sống xã hội đã thể hiện Ninh thờ Ông Nam Hải (cá Ông) và thờ Bà rõ trong đời sống tâm linh khi mà tín Thuỷ (Thuỷ Long Thánh Mẫu). Theo lời kể ngưỡng được hình thành, được tin tưởng, của ông Vạn, Thủy Long Thánh Mẫu đây trở thành một động lực tinh thần vô giá cho là Thiên Ya Na được người dân Hàm Ninh con người lạ lẫm trước vùng đất mới và rước từ Khánh Hòa vào thờ. Ngày rước bà chơi vơi giữa biển khơi. Bên cạnh đó, tín là ngày 23/3, ngày Ông lụy cũng là ngày ngưỡng thờ Bà ở đảo Phú Quốc đã thể hiện 23/3 nên đó là ngày lễ hội của Dinh. quá trình hội nhập không ngừng của các 1.4. Dinh Bà Cửa Cạn chiều cạnh khác nhau của niềm tin, và đến Cách Dinh Bà Ông Lang chừng 5 km nay, đã hình thành một tín ngưỡng thờ Bà về phía Tây Bắc, nằm ở hữu ngạn sông trong các dinh, dù đã được đ nh v phần Cửa Cạn, là một ngôi Dinh khác, được gọi nào nhưng vẫn là một hệ thống mở để đón là Dinh Bà Cửa Cạn (thường được gọi là nhận những sắc thái mới của đời sống tâm Dinh Trong – để phân biệt với Dinh Ngoài linh người dân. thờ Thủy Long Thánh Mẫu ở Dương Đông). Dinh nằm ở cửa sông, cạnh vũng 8
  5. 2. CÁC LỚP VĂN HÓA TRONG Dinh Bà Dương Đông (như đã nói ở trên) TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ Ở PHÚ QUỐC đã thể hiện sự ca tụng của người dân đối Qua việc giới thiệu di tích của 4 ngôi với một v vua của biển cả. Đôi câu đối ở Dinh Bà ở trên, có thể thấy các lớp văn hoá Dinh Cậu cũng thể hiện một cảm hứng đan xen trong tín ngưỡng của người dân ngợi ca như thế: Phong điều vũ thuận dân Phú Quốc như sau: an lạc, Hải yến hà thanh thế thái bình, 2.1. Tín ngưỡng thờ thần phù hộ D ch nghĩa là: Mưa thuận gió hòa, dân an ngư dân lạc, Sông yên biển lặng đời thái bình. Ước Ở 4 ngôi Dinh Bà và mộ Bà Lớn muốn về mưa thuận gió hòa, về sông yên Tướng Lê Kim Đ nh, một bộ phận lớn biển lặng là ước muốn thường trực nhất người đi lễ là ngư dân. Theo lời của người của cư dân biển, và họ đã tìm thấy nơi dân mà chúng tôi có d p phỏng vấn trong nương tựa về mặt tinh thần ở những v thần tháng 6/2013 (người hướng dẫn du l ch, linh này. người lái xe ôm, những người trông coi tại Hơn nữa, trong 4 ngôi Dinh Bà ở đảo các di tích: Dinh Bà Dương Đông, Dinh Phú Quốc thì có 2 ngôi dinh có tên là Thủy Cậu, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông Long Thánh Mẫu, riêng Dinh Bà Hàm Ninh Lang, Đình thần Nguyễn Trung Trực) thì lại có cung thờ ghi là Dinh Bà Thủy. Điều hầu hết các chủ ghe, tàu đều gửi niềm tin này cho thấy lớp tín ngưỡng thờ thần phù hộ vào sự phù hộ của các v thần được thờ ở ngư dân là rất rõ ở các Dinh Bà Phú Quốc. các di tích trên. Các chủ ghe, tàu khi đi 2.2. Tín ngưỡng thờ người mở cõi đánh cá thì có thể không lên cầu cúng ở các Trong các truyền thuyết của người dân di tích trên vì ghe, tàu nào cũng đều có ban được lưu truyền trên các trang mạng, Dinh thờ Quan Âm Nam Hải nhưng khi đi qua Bà Dương Đông và Dinh Bà Cửa Cạn đều họ đều bái vọng lên các di tích. Ông Võ thờ một v thần là Kim Giao, tương truyền Vạn, thành viên Ban quản tr Hội Dinh Bà là người khai phá đảo Phú Quốc. Các Hàm Ninh cho biết: “Dân ở đây tin dữ lắm. truyền thuyết về bà Kim Giao, như đã nói ở Vào ngày vía Bà, người dân Hàm Ninh dù trên, đều kể về một người có công khai có đánh bắt xa bờ đến đâu cũng quay về khẩn hòn đảo này và người dạy dân cách đến lễ Bà. Người dân trong xã từ nhỏ tới làm ruộng ở đây. Hiện bà Kim Giao được lớn đều rất tin… Dân ở đây làm nghề hạ thờ ở dinh Cửa Cạn, nơi còn vết tích cánh bạc, Ông Nam Hải độ cho đánh được nhiều đồng bà khai hoang và hàng loạt cột buộc cá, ghe cộ chìm thì ông đưa vô bờ. Bà phù trâu xưa kia. Còn Dinh Bà Dương Đông, hộ, độ cho cô bác ngư dân chài lưới, nghèo nơi hiện nay thờ Thủy Long Thánh Mẫu thì khổ, không con cái, buôn bán, sức khỏe, ai vẫn còn những dấu vết của tín ngưỡng thờ cầu gì được nấy” (Phỏng vấn ngày thần khai canh. Dù người trông coi Dinh 5/6/2013). Trong Dinh Bà Hàm Ninh, như Thủy Long Thánh Mẫu Dương Đông đã nói ở trên, có một gian thờ Nam Hải; khẳng đ nh, ngôi Dinh này thờ bà Thuỷ trong sân ngôi Dinh Bà Ông Lang có 2 pho Long nhưng trong hậu cung, có hai ban thờ tượng Quan Âm Nam Hải; các ngôi Dinh Tiền hiền và Hậu hiền - những người có Bà đều trông ra biển và tọa lạc ở ngay bờ công khai khẩn trong tín ngưỡng của người biển (trừ Dinh Bà Hàm Ninh do b sạt lở dân miền Trung trở vào Nam. nên chuyển sâu vào trong đảo). Câu đối ở 9
  6. 2.3. Tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử Phú Quốc đã tạo nên sự gắn kết giữa l ch Một hiện tượng đã thành phổ biến sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc trong truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian với đời sống của cư dân trên đảo. Việt Nam là xu hướng “l ch sử hóa truyền 3. TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ – SỰ HỘI TỤ thuyết” và “truyền thuyết hóa l ch sử”. VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG Điều này có nghĩa là các lớp truyền ngôn THỜ MẪU thường có xu hướng được dân gian “gắn” 3.1. Tín ngưỡng thờ Bà - Cậu vào một sự kiện l ch sử nào đó để tăng tính Nói đến tín ngưỡng thờ Bà của ngư chính thống, tầm vóc và quy mô của sự dân đảo Phú Quốc không thể không nhắc kiện và nhân vật được kể trong truyền đến tín ngưỡng thờ Bà - Cậu. thuyết. Ngược lại, các nhân vật và sự kiện Bà - Cậu là ai? l ch sử nhiều khi được “ảo hóa” bằng cách Tín ngưỡng đặc biệt này đã được nhắc gán cho họ những chi tiết nhuốm màu sắc đến trong các bài viết của Huỳnh T nh Của, thần kỳ để tăng tính kỳ vĩ của nhân vật l ch Nguyễn Thanh Lợi (2004 và 2012)2, sử. Hai xu hướng này đan quyện vào nhau Dương Hoàng Lộc (2010)3 và Trương khiến cho nhiều truyền thuyết đàng hoàng Thanh Hùng (2012)4. Về vấn đề này, đi vào l ch sử và nhiều nhân vật l ch sử Trương Thanh Hùng viết: “Hầu hết người được tôn vinh như những v thánh, thần. dân hoạt động trên sông nước đều rất tin Xu hướng này có thể thấy trong tín ngưỡng tưởng “Bà Cậu”. Họ cho đó là một v thần thờ Bà Lê Kim Đ nh (được cho là phu nhân có quyền năng rất lớn, chi phối đến đời Nguyễn Trung Trực) ở ngôi Dinh Bà Ông sống, làm ăn của dân làm nghề sông biển, Lang. Đáng chú ý là, sách sử ghi chép về kể cả dân đánh bắt và giao thông. Đến nay, chiến công của Nguyễn Trung Trực đều nhiều người không hiểu Bà Cậu là ai, là không ghi chép về vợ của ông. Tuy nhiên, một người hay hai người. Chỉ biết rằng, do Nguyễn Trung Trực đã gắn bó với đảo nếu Bà Cậu độ thì làm ăn sẽ phát đạt, đánh Phú Quốc vào 2 năm cuối đời (1885-1886) bắt trúng, an toàn khi hành nghề. Hình với một tinh thần yêu nước rạng ngời nên tượng Bà Cậu đối với dân sông nước nói người dân Phú Quốc đã viết thêm một chung có thể là Bà Thiên Hậu (đối với trang sử mới về ông, nối dài cuộc đời ngắn người Hoa), Bà Chúa Liễu, Thủy Long ngủi của ông, tạo nên những vầng hào Thánh Mẫu, là một v hoàng tử con của quang lung linh khiến cuộc đời ông bất tử Long Vương, là một v thuỷ thần, sau cùng để có thể sống với người dân trong những là những người khuất mặt nào đó tế độ cho thời khắc đương đại: đó là việc thêu dệt người làm nghề sông nước… Trên ghe tàu nên truyền thuyết về bà Lê Kim Đ nh. Và có một bàn thờ Bà Cậu mà bài v được viết truyền thuyết này đã không chỉ được lưu bằng chữ Hán là “Thủy Long Thánh Mẫu” truyền trong ngôi đền thờ Nguyễn Trung hay “Thánh Mẫu nương nương”. Như vậy, Trực ở Gành Dầu (một bãi biển đẹp của chúng ta thấy rằng, Bà Cậu không còn là Phú Quốc) mà còn nhanh chóng chiếm chỗ hai v thần Bà và Cậu mà đó là một v thần trong Dinh thờ Bà và hội nhập với tín gọi là Bà Cậu. Tuy nhiên, nếu trên bờ thì ngưỡng thờ Bà Thủy nơi đây. Bằng việc lại phân biệt rõ ràng Bà và Cậu, có Miễu thờ cúng hai nhân vật (một l ch sử, một dã Bà và Dinh Cậu” (tr.90). Về nguồn gốc tục sử) này, tín ngưỡng thờ Bà của cư dân đảo 10
  7. thờ này, Trương Thanh Hùng đã dẫn ý của Hoàng Lộc (2010) đều cho rằng, cậu Tài và Huỳnh T nh Của cho rằng, “Bà - Cậu chính cậu Quý là con của Thiên Ya Na Diễn là “ba Bà, bảy Cậu” gắn với việc thờ Liễu Ngọc Phi, và ở đây Thiên Ya Na đã được Hạnh Công Chúa”.5 đồng nhất với bà Thủy. Nguyễn Thanh Lợi Bên cạnh đó, có một số ý kiến khá viết: “Bà chúa Tiên (chúa Ngọc) còn có hai thống nhất cho rằng, Bà là Bà Thủy, còn người con là Cậu Tài và Cậu Quý, là Cậu đây là Cậu Tài, Cậu Quý. Đó là các ý những v thần đặc biệt “bảo hộ” cho vùng kiến của Dương Hoàng Lộc, Nguyễn Thanh sông nước. Dân sống bằng nghề hạ bạc và Lợi và người trông coi Dinh Cậu ở Phú dân thương hồ đã đồng hoá Pô Nưgar với Quốc. Dương Hoàng Lộc cho rằng: “Đặc Thuỷ Long thánh phi, kèm theo hai người biệt, đối với các nghề liên quan đến sông con của Bà là Cậu và Bà Cậu - những v nước và biển cả ở Nam bộ, người ta thường thần cai quản các hải đảo hoặc cù lao ven vái van Bà Cậu để cầu mong độ trì qua cơn sông, biển”. Dương Hoàng Lộc viết: sóng gió. Chắc vì thế mà người ta thường “Người ta còn có quan niệm Bà Thuỷ hay gọi dân làm nghề thương hồ hạ bạc là chính là hoá thân của Thiên Ya Na. Trong “dân Bà - Cậu”. Bà Cậu chính là Bà Thủy văn bia của Phan Thanh Giản tại Tháp Bà và hai người con trai: Cậu Tài và Cậu Nha Trang, có đoạn kể về Thiên Ya Na đã Quý”. Nguyễn Thanh Lợi cũng cho biết, hoá phép nổi sóng gió nhấn chìm thuyền Bà-Cậu trong tín ngưỡng ở Bà R a – Vũng của thái tử Trung Quốc, biến chiếc thuyền Tàu là Bà Thuỷ và Cậu Tài, Cậu Quý. này thành tảng đá. Do đó, Thiên Ya Na và Trong lần điền dã buổi tối vào tháng 2 người con của Bà (Cậu Tài, Cậu Quý) 6/2013, ch Tư, người trông coi Dinh Bà được xem là v thần của sông biển, cù lao”. Dương Đông và ông Minh, người trông coi Tuy dẫn nguồn nhưng hai bài viết trên đều Dinh Cậu đều cho tôi biết, Bà là Thủy Long đã có chỗ khúc xạ: trong văn bia do Phan Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài, Cậu Quý. Thanh Giản soạn năm 1856 và truyền Ông Nguyễn Văn Minh (87 tuổi, người An thuyết vùng Khánh Hòa thì 2 người con Giang, trông coi Dinh Cậu đã 27 năm) gọi của Thiên Ya Na là một trai, một gái; Cậu một cách tôn xưng là “Ông” chứ không người con trai tên Trí và người con gái tên gọi “Cậu” và không cho người khác gọi Quý. Như vậy, chúng ta thấy xuất hiện ở “Cậu”. Ông nói với tôi là: “Dân chài đi biển đây một người mới là: Cậu Tài. Danh xưng tất nhiên là phải đến, không ai không dám của Cậu, nguồn “xuất thân” của Cậu, nghe. Nếu muốn đóng ghe phải lên khai truyền thuyết không giải thích rõ; chúng ta báo, sau đó xin keo, nếu ngài không cho thì cần cắt nghĩa xem, tại sao lại có một nhân đi làm nghề khác, trồng hồ tiêu hay làm gì vật mới là “Cậu Tài” trong tất cả các đó. Đố ai dám cãi. Khi tôi hỏi, dân làm gì truyền thuyết về Bà - Cậu ở vùng Nam Bộ. đều xin Cậu phải không, ông Minh nổi Tại ngôi Dinh Cậu, ta thấy một phức giận: Dân đến đây cúng không ai dám gọi thể thú v . Tên di tích là Dinh Cậu, nhưng là ông Cậu, chỉ dám gọi là ông Cù. (Nói ban thờ chính lại ghi bài v là Chúa Ngọc đến đây, ông bỏ vào phòng trong nằm). Nương Nương (một tên gọi khác của Thiên Vậy Cậu Tài, Cậu Quý là ai? Ya Na), hai bên có 2 tượng thờ nhỏ dưới Nguyễn Thanh Lợi (2004) và Dương hai dòng chữ Nhị hiền vương Thái tử. (tương truyền là cậu Tài, cậu Quý - hai con 11
  8. của Thiên Ya Na). Tuy nhiên, khi được hỏi Quốc đều có v trí sát mép biển. Đây hẳn thì ông Nguyễn Văn Minh thì lại kể: “Hai không phải là một sự tình cờ. V trí này ông Cậu (Cậu Quý và Cậu Tài) là hai thiên chắc hẳn đã thể hiện sự đáp ứng nhu cầu thần được phái xuống, một người trông coi của ngư dân và người đi biển về một v toàn vùng biển, một người trông coi rốn thần mà họ trông chờ sự độ trì. Thực tế các biển. Hai ông là tiên, được phái xuống cuộc phỏng vấn của chúng tôi đều cho thấy 2.000 năm, nay chưa được về vì giặc dưới rằng, ngư dân rất tin tưởng vào các Bà và biển còn quậy quá. Trước đây 5-60 năm thường đến cầu xin khi ra khơi, tạ ơn khi mới có một cơn bão lớn, nay có nhiều bão trúng vụ, tham dự một cách kính cẩn ngày quá. Vì thế ông phải trông coi. Đảo Phú vía Bà hàng năm. Ở khía cạnh này, các Bà Quốc có 99 ngọn núi, ở dưới biển có 99 dải được thờ trong 4 ngôi Dinh ở đảo Phú đá ngầm, là nơi ở của các loài cá. Vì thế, Quốc xuất hiện với tư cách là các nữ thần có đánh bắt bao nhiêu cũng không hết (Bà Thuỷ, Bà Kim Giao, Bà Lớn Tướng Lê được. Ông cai quản các luồng cá ở đây”. Kim Đ nh) chở che cho những người đi Với truyền thuyết này, hai cậu đã trở thành biển được bình an vô sự, phù hộ cho ngư là người trời, dường như không có liên dân đánh bắt được nhiều tôm cá, độ trì cho quan gì đến các bà Thủy, bà Thiên Ya Na họ gặp an lành trên biển. hay bà Thủy Long Thánh Mẫu ở đây. Tuy nhiên, phạm vi phù hộ độ trì của Bên cạnh truyền thuyết cho rằng, Bà là các Bà không chỉ dừng lại ở đó. Các cuộc Thủy Long Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài, phỏng vấn mà chúng tôi tiến hành ở Dinh Cậu Quý (hai con của Thiên Ya Na), Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông Lang, Dinh Nguyễn Thanh Lợi (2012) lại cho biết một Bà Dương Đông, Dinh Cậu Dương Đông truyền thuyết khác: ở Côn Đảo, Bà được cho thấy rằng: người dân đến các di tích đồng nhất với đức Bà Phi Yến (Lê Th này lễ bái không chỉ là ngư dân và nội Răm), tương truyền là thứ phi của Nguyễn dung cầu cúng của họ không chỉ là cầu Ánh, mẹ của Hoàng tử Cải và Cậu được đánh được nhiều tôm cá. đồng nhất với hoàng tử Cải, v hoàng tử Ch Tư (Ngọc Lệ), người trông coi yểu mệnh b ông vua đầu triều Nguyễn Dinh Bà Dương Đông và ch Trần Th ném xuống biển khi vừa lên bốn tuổi.6 Ngân, thành viên của Hội Dinh Bà Dương Một sự thống kê và khảo sát bước đầu Đông, cho tôi biết, lượng khách thập cho thấy, các lớp truyền ngôn về Bà và Cậu phương đến Dinh cúng lễ hơn phân nửa là (danh xưng, đ a điểm thờ, cách xưng hô, những người nơi khác, gồm khách du l ch truyền tích về công trạng của ông) cho thấy và khách trong đất liền đến cầu an, giải tính động và tính lỏng của truyền thuyết về hạn. Một điều đặc biệt là, khách thập Bà - Cậu - hệ quả của một tín ngưỡng mở phương muốn đến xin cầu an, giải hạn thì mà tục thờ và truyền thuyết đã và đang tiếp chỉ đến Dinh Bà, chứ không đến Dinh Cậu, tục đón nhận những lớp đắp bồi qua thời trong khi đó, khi đi biển thì họ vái Bà-Cậu. gian và trong không gian để trở thành một Ch Tư và ch Ngân cho biết, vào đêm giao phức thể rộng hơn và thống nhất hơn. thừa và ngày mùng Một Tết âm l ch, khách 3.2. Từ tín ngưỡng thờ nữ thần biển thập phương đến lễ cầu an “đông không thể tới tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu tưởng tượng được, người chen vô không Như đã nói ở trên, các Dinh Bà ở Phú lọt” và “các ch làm việc muốn xỉu luôn”. 12
  9. Một trong những điều mà khách thập sông. Người gặp Bà liền quỳ lạy, cầu khẩn phương muốn đến cầu an ở Dinh Bà gì cũng được. Quả nhiên, năm nào có Dương Đông, có lẽ ngoài sự thuận tiện về thuyền Bà xuất hiện thì nhân dân Phú Quốc giao thông, còn là sự ân cần của người thực làm ăn khấm khá và phát đạt. Người dân hành nghi lễ. Ch Tư cho biết, khi cúng cầu Phú Quốc tin rằng Bà là người đem lại cuộc an, có khi cả gia đình chỉ gửi lễ 10 ngàn sống an lành và sung túc cho họ.”7 đồng ch vẫn cúng, không gửi lễ ch vẫn Một nội dung cầu xin khác tương đối cúng. Vì thế, người dân trên đảo và khách phổ biến ở các ngôi Dinh Bà, Dinh Cậu ở thập phương vẫn đến gửi niềm tin vào các Phú Quốc là cầu tự. Các câu chuyện của nghi thức cúng cầu an, giải hạn ở đây. chúng tôi với những người đang có mặt tại Ch Nguyễn Th Lệ, 65 tuổi (Dinh Bà, khuôn viên di tích đều dẫn tới sự thành công ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) cho tôi biết, của một số trường hợp cầu tự nào đó. Bà khách đến Dinh Bà phần lớn là ngư dân, Hoa, một người bán vé số ở Dinh Cậu, nói nhưng càng ngày càng có nhiều người đến với tôi: “Dân ở đây đa số là đi biển, mới lễ về các nhu cầu khác trong đời sống như đây, chỉ có người ở đất liền ra là làm du l ch chữa bệnh, học hành, buôn bán. Ch cho thôi. Ở đây cầu được nhiều thứ lắm: tài lộc biết, vào tháng 5 năm 2013, có người từ (hai cậu là bộ trưởng bộ ngân khố đấy), làm Hòn Đất (Kiên Giang) đến đây kêu cầu về ăn may mắn, con cái. Cầu gì được nấy. việc bán đất; hai tuần sau khi kêu cầu và Chính mắt tôi đã trông thấy một bà Việt được Bà làm phép cho, người đàn ông này kiều Mỹ qua đây xin cho con dâu có thai. đã bán được đất và gọi điện cảm ơn người Tháng sau về cô con dâu có bầu, bà cùng trông coi Dinh. Trong tình trạng bất động con trai và con dâu quay lại tạ ơn”. Các sản đóng băng vào thời điểm này, việc cầu dòng đ a chỉ của khách thập phương được và bán được đất có thể coi là một nội dung ghi trên ghế đá tặng Dinh Cậu, Dinh Bà cho mới khẳng đ nh tính thiêng đậm màu sắc thấy sự phong phú của các lớp người, đến từ đương đại của v thần nữ được thờ cúng tại nhiều miền quê khác nhau, trong đó có ngôi dinh này. Bên cạnh đó, người dân Phú nhiều người đang sống ở nước ngoài. Quốc còn lưu truyền truyện kể rằng, trong Một hiện tượng đáng chú ý là việc tách những ngày gian khó của Nguyễn Trung riêng các đối tượng thờ như ở Dinh Bà Trực chống Pháp, Bà Lê Kim Đ nh mất Hàm Ninh (Dinh Nam Hải và Dinh Bà ngay khi sinh con và đứa con mới chào đời Thuỷ). Ở đây, theo ông Vạn, “Dân ở đây của ông bà đã mất vì khát sữa. Bà Lớn làm nghề hạ bạc, Ông Nam Hải độ cho Tướng giận người dân vùng này không cưu đánh được nhiều cá, ghe cộ chìm thì ông mang con bà nên hễ ai sinh con đều b bà đưa vô bờ biển. Bà phù hộ, độ cho cô bác “bắt chết”. Vì thế, người dân lập đền thờ và ngư dân chài lưới, nghèo khổ, không con sửa sang ngôi mộ thờ bà và thường xuyên cái, buôn bán, sức khỏe, ai cầu gì được lui tới cúng bái. Ở một truyền ngôn khác, nấy”. Ta thấy hiện tượng tương tự mối bà Lê Kim Đ nh còn được tin là một v quan hệ giữa Dinh Cậu (vốn là nơi thờ phúc thần toàn năng: “Bà rất thiêng, vào Nam Thần Biển)8 và Dinh Bà ở Dương những đêm trăng sáng, người dân thường Đông: trong khi ngư dân cầu cả Dinh Bà và thấy Bà đi thuyền từ căn cứ ra làng. Thuyền Dinh Cậu thì người giải hạn, cầu an chỉ có có che lọng xanh, lướt đi êm đềm trên mặt thể làm ở Dinh Bà. Hiện tượng này không 13
  10. chứng tỏ độ đậm nhạt của tính thiêng mà Sự phát triển từ tục thờ Bà Thủy đến thể hiện độ mở của một tín ngưỡng: với tín tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu: Mang đặc ngưỡng thờ Long Vương hay Nam Hải, trưng của một hòn đảo, tín ngưỡng thờ nữ người dân mong chờ sự độ trì cho những thần ở Phú Quốc khởi thuỷ là tục thờ Bà chuyến đi biển thì với tín ngưỡng thờ Bà Thuỷ với mong muốn cầu xin sự an toàn Thủy, nội dung cầu cúng có một độ mở khi ra khơi vào lộng. Tuy nhiên, cùng với không ngừng trong thời gian nhằm đáp ứng thời gian, các truyền ngôn, các cách thực nhu cầu tâm linh của người dân. hành nghi lễ, các đối tượng hành lễ và các Qua đây, có thể thấy, tín ngưỡng thờ nội dung cầu cúng của người dân ngày nữ thần biển đã mở ra để trở thành một càng đa dạng, tiệm cận với tín ngưỡng thờ phức hệ tín ngưỡng mới, tín ngưỡng về Thánh Mẫu mà tính linh động và độ dung Thánh Mẫu, bởi chỉ có Mẫu mới đáp ứng hợp lớn của nó đang là một ngôi nhà mở ra được nhu cầu muôn mặt đời thường của nhiều cánh cửa để tích hợp tất cả các nội người dân. Đây cũng là một biểu hiện cho dung, thu hút nhiều tầng lớp dân cư trên tính mở của hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ đảo cũng như khách thập phương trong và Phủ, tín ngưỡng này luôn không ngừng mở ngoài nước. ra cho mọi người dân đều có thể nương Sự đa dạng văn hóa tộc người. Các lớp tựa, mở ra để ứng hợp với nhu cầu muôn truyền ngôn và di tích ở các ngôi Dinh Bà, mặt đời thường của người dân. Cuộc hầu Dinh Cậu cùng những di tích khác liên đồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phú Quốc quan, các đ a danh và các chứng tích văn (8/2013 tại Dinh Bà Thủy Long Thánh hoá vật thể cho thấy sự đan xen của văn Mẫu ở Dương Đông) được người dân nơi hoá các dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Chăm. đây đón nhận một cách nồng nhiệt9 càng Và điều quan trọng là sự đan xen này đã chứng tỏ điều đó. được quyện chặt một cách nhuần nhuyễn 4. KẾT LUẬN và trở thành tài sản chung của người dân Khảo sát bước đầu về tín ngưỡng thờ đảo Phú Quốc hôm nay. nữ thần ở Phú Quốc có thể rút ra một số Sự đa dạng văn hóa vùng miền: Dù kết luận sau: còn cần nhiều thời gian để nghiên cứu sâu Tín ngưỡng thờ nữ thần thể hiện nhu hơn, cũng có thể nhìn thấy rõ trong phức cầu mãnh liệt về đời sống tâm linh của thể tín ngưỡng Bà - Cậu của người dân đảo người dân: Khảo sát sự hình thành và phát Phú Quốc hành trang của ngư dân Nam triển của tục thờ cúng trong thời gian, khảo Trung Bộ (Quảng Ngãi, Bình Đ nh) đan sát bước đầu về cách thực hành nghi lễ của xen với tín ngưỡng của cư dân Tây Nam người dân, khảo sát sự phát triển của quy Bộ và hội nhập với tín ngưỡng Tứ Phủ của mô lễ hội tại các di tích Dinh Bà, thấy rất Bắc Bộ để trở thành một phức thể đang dần rõ nguyện vọng về nhu cầu tâm linh của dần đ nh hình thành hệ thống. Hệ thống người dân: họ thực sự khát khao được thể này đang là một hệ thống mở nên vừa có hiện đời sống ấy thông qua thiết chế di khả năng đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm tích, thông qua việc tổ chức lễ hội, thông tin của mọi người dân lại vừa có thể dung qua việc thực hành nghi lễ thường ngày, chứa được những biến đổi mau lẹ của nhu thông qua việc gửi gắm niềm tin vào những cầu tâm linh của họ trước tác động của sự biến đổi kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của phép lạ qua việc thờ Bà. hội nhập hôm nay./. 14
  11. Chú thích: * Trương Thanh Hùng (2012), Văn hóa dân gian huyện đảo Phú Quốc và Lý Sơn, Nxb. Văn hóa dân tộc, H., tr. 90. 2 Nguyễn Thanh Lợi (2004), Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, tr.146. Nguyễn Thanh Lợi (2012), Câu chuyện bà Phi Yến ở Côn Đảo, Tham luận Hội thảo khoa học. 3 Dương Hoàng Lộc (2010), Tín ngưỡng thờ Bà Thủy của cộng đồng ngư dân An Thủy (Huyện Ba Tri-Tỉnh Bến Tre), Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 2. 4 Trương Thanh Hùng & Phan Đình Độ (2012), Văn hóa dân gian huyện đảo Phú Quốc và Lý Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc, H. 5 Trương Thanh Hùng (2012), Sách đã dẫn, tr. 37. 6 Nguyễn Thanh Lợi (2012): Câu chuyện bà Phi Yến ở Côn Đảo: “Qua khảo sát thực tế, kết hợp với các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi cho rằng miếu Bà Phi Yến và miếu Cậu trên Côn Đảo thực chất là tín ngưỡng thờ Bà Cậu vốn rất phổ biến trong các cộng đồng của cư dân hải đảo và ven biển Trung Nam Bộ. (Hội thảo: Côn Đảo – 150 năm đấu tranh, xây dựng và phát triển, tháng 8/2012). 7 Nguồn:http://mobile.vietgle.vn/detail.aspx?pid=N0RDQjBD&key=B%C3%A0+L%E1% BB%9Bn&type=A0 8 Nguyễn Th Diệp Mai cho biết, GS. Trần Quốc Vượng đã khẳng đ nh Dinh Cậu vốn là một ngôi miếu thờ Long Vương; còn người dân ở Phú Quốc cho rằng, trước đây, ngôi miếu này thờ Đông Hải Long Vương. (Bài Tục thờ Bà ở Phú Quốc, tọa đàm Văn hóa tín ngưỡng Mẫu Thoải - Thủy Long và Nghi lễ Chầu văn tại Phú Quốc, 10-8-2013). 9 Trình diễn nghệ thuật hát chầu văn trên đảo Ngọc, Nguồn: website của Sở Văn hóa, Thể thao và Du l ch Kiên Giang. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trương Thanh Hùng (2012), Văn hóa dân gian đảo Phú Quốc, Nxb KHXH, H. 2. Nguyễn Thanh Lợi (2004), Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa-Vũng Tàu, trong Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, 3. Dương Hoàng Lộc (2010), Tín ngưỡng thờ bà Thủy của cộng đồng ngư dân An Thủy (huyện Ba Tri-tỉnh Bến Tre), Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2 4. Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (2008), Nxb QĐND. 5. Nguyễn Hữu Thông (Chủ biên, 2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế. * Nhận bài ngày: 15/1/2014. Biên tập xong: 10/4/2014. Duyệt đăng: 22/5/2014 15