Xem mẫu

  1. Khoa hoïc giaùo duïc THIẾT KẾ DẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM THEO BÀN ĐỂ GIẢI QUYẾT NHIỆM VỤ HỌC TẬP THỐNG NHẤT Hà Thị Lịch Phòng QLKH&QHQT, Trường Đại học Hùng Vương TÓM TẮT Trong dạy học lịch sử, dạng tổ chức hoạt động nhóm theo bàn để thực hiện chung một nhiệm vụ là một dạng tổ chức hoạt động nhóm kết hợp giữa cách phân chia, thành lập nhóm với cách phân chia nhiệm vụ học tập. Đây là một dạng tổ chức hoạt động nhóm mới, vừa phù hợp với thực tiễn dạy học vừa khắc phục được tính hình thức trong tổ chức hoạt động nhóm hiện nay. Giáo viên Lịch sử khi sử dụng dạng này trong Tổ chức hoạt động nhóm cần lưu ý không nên vận dụng một cách rập khuôn máy móc, tránh lạm dụng dạng tổ chức hoạt động nhóm này quá nhiều trong dạy học lịch sử, nên có sự chọn lọc và vận dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt. Từ khóa: Tổ chức hoạt động nhóm, dạy học lịch sử, tổ chức hoạt động nhóm theo bàn. 1. Đặt vấn đề thiết góp phần giúp GV Lịch gian lớp học đã được thiết kế Tổ chức hoạt động nhóm sử có thể TCHĐN thành công phù hợp cho TCHĐN. Chẳng (TCHĐN) trong dạy học lịch trong dạy học. hạn như ở Singapo lớp học sử (DHLS) là một trong những Trên cơ sở nghiên cứu các phổ thông thường có diện tích hình thức đổi mới quá trình dạy tài liệu trong và ngoài nước về là 90m2 với 40 học sinh (HS). học nhằm phát huy năng lực TCHĐN, đồng thời căn cứ vào Ở Phần Lan diện tích lớp học nhận thức độc lập, sáng tạo của đặc trưng của DHLS ở trường khoảng từ 64 đến 70m2, song học sinh (HS) và giúp cho các phổ thông, chúng tôi đưa ra một mỗi lớp nhiều nhất chỉ có 20 HS. em rèn luyện khả năng tư duy dạng TCHĐN mà theo chúng Còn ở Việt Nam, thực tế hiện thực hành, khả năng diễn đạt tôi nó có tính khả thi, dễ thực nay theo quy định của Bộ GD và trước đám đông. Từ những mục hiện khi GV vận dụng vào giảng đào tạo diện tích trường chuẩn đích có thể đạt được trên khi sử dạy lịch sử ở trường THPT. Đó quốc gia đối với khối THPT của dụng TCHĐN trong DHLS, có là dạng TCHĐN theo bàn để Việt Nam là 1,5m2/1HS, như vậy, thể khẳng định được rằng: Đây giải quyết nhiệm vụ học tập với các lớp 45 HS thì diện tích là một cách tổ chức dạy học cần thống nhất. lớp học là 60m2. Đối với phương thiết và hoàn toàn phù hợp với 2. Nội dung pháp dạy học truyền thống thì lứa tuổi trung học phổ thông 2.1. Cơ sở hình thành dạng diện tích lớp học này đã đáp ứng (THPT) và với đặc trưng riêng TCHĐN theo bàn để giải quyết được môi trường học tập hợp của bộ môn lịch sử. Tuy nhiên, một nhiệm vụ thống nhất lý. Nhưng đối với việc TCHĐN theo kết quả điều tra thực tế thì Khi TCHĐN, yếu tố không diện tích lớp học như vậy là hiện nay, tần suất và mức độ sử gian là một điều kiện rất quan chưa đảm bảo yêu cầu. Hầu như dụng phương pháp này của các trọng để TCHĐN thành công. bàn ghế trong lớp học được kê giáo viên (GV) Lịch sử còn chưa Đối với các nước phát triển thì sát vào nhau, không còn chỗ nhiều, chưa phát huy được hiệu điều kiện không gian đáp ứng trống để có thể dịch chuyển, kê quả cũng như những ưu điểm rất đầy đủ, thuận tiện, trái lại đối và xoay lại bàn ghế theo ý đồ tạo của TCHĐN. Vì vậy, việc nghiên với Việt Nam điều kiện này lại lập các nhóm học tập của GV. cứu, thiết kế các dạng TCHĐN rất khó khăn, bất tiện. Trong DHLS, khi GV tiến trong DHLS là một việc làm cần Ở các nước phát triển, không hành TCHĐN, HS rất cần một 34 Ñaïi hoïc Huøng Vöông - K ­ hoa hoïc Coâng ngheä
  2. Khoa hoïc giaùo duïc khoảng không gian thoải mái để cách phân chia nhiệm vụ học tập. gần nhau ghép lại thành một di chuyển xung quanh, làm việc Đây là một dạng TCHĐN nhóm. theo nhóm, chuẩn bị các bản vẽ, mới, vừa phù hợp với thực tiễn - Nhóm bàn đơn: chia nhóm mô hình, bản đồ, tranh ảnh, sơ dạy học vừa khắc phục được theo đơn vị bàn. đồ, niên biểu,... có kích thước tính hình thức trong TCHĐN - Nhóm bàn kép: Hai bàn liền khá lớn. Như phân tích ở trên, rõ hiện nay. kề nhau quay lại với nhau thành ràng khi GV tiến hành TCHĐN TCHĐN theo bàn thực hiện một nhóm. ở điều kiện không gian lớp học một nhiệm vụ chung là một * Các dạng bài tập lịch sử sử của Việt Nam, GV buộc phải dạng của TCHĐN theo đó trước dụng khi TCHĐN theo bàn tính đến cách thức chia nhóm hết HS sẽ được ghép với nhau Dạng TCHĐN theo bàn dựa sao cho phù hợp. Bởi nếu GV thành một nhóm, những HS trên cơ sở HS trong nhóm trao chia lớp thành các nhóm học tập này thường có vị trí ngồi liền đổi đàm thoại với nhau về một theo chủ đích hoặc ngẫu nhiên kề hoặc cách nhau một khoảng nội dung nào đó của bài học lịch thì rất khó thực hiện, khi đó sẽ cách rất nhỏ. Khi GV TCHĐN sử. Thay vì nêu câu hỏi để từng phải thay đổi vị trí của HS, thay theo bàn sẽ tiết kiệm được thời HS trả lời, GV sẽ nêu nhiệm vụ đổi cách sắp xếp chỗ ngồi, kê lại gian, không cần phải sắp xếp, cho các nhóm để HS tự trao đổi bàn ghế,… tạo ra một sự xáo dịch chuyển chỗ ngồi của HS mà với nhau. Những nhiệm vụ GV trộn trong lớp học cộng với việc vẫn đảm bảo được ưu thế của thường giao cho nhóm theo bàn mất thời gian, gây ồn, bất tiện. hoạt động nhóm. Sau đó, GV như sau: Do đó, GV phổ thông thường yêu cầu các nhóm thực hiện một + Tổ chức nhóm trao đổi chia nhóm theo bàn cho thuận nhiệm vụ chung. Dạng TCHĐN những kiến thức lịch sử mang tiện và dễ dàng lại nhanh gọn. này giúp GV dễ dàng thuận tiện tính tái hiện: Dạng này nhằm gợi Hơn nữa hiện nay, dung hơn trong việc đánh giá, so sánh kiến thức đã học để tiếp thu kiến lượng của một bài học lịch sử tương quan giữa các nhóm. Mục thức mới và để khái quát hóa, hệ khá dài trong khi đó thời lượng đích của việc GV cho các nhóm thống hóa kiến thức. Nó giúp của một tiết học lịch sử chỉ có làm cùng một nhiệm vụ là để thi cho HS củng cố, hiểu sâu hơn 45 phút, vì vậy khi lên lớp do lo đua xem nhóm nào làm tốt nhất, kiến thức cũ, làm cơ sở cho việc sợ thiếu thời gian, cháy giáo án hay nhất và nhanh nhất. Nhiệm tiếp nhận kiến thức mới. Hình GV dành thời lượng cho việc vụ ở đây có thể là bình luận, thức này thường được tiến hành TCHĐN rất ít. Do đó, để tiết phân tích, giải thích,… một chủ vào đầu tiết học hoặc trong tiến kiệm thời gian thì hình thức đề lịch sử hoặc một sự kiện lịch trình bài giảng, khi cần nhắc lại phân công các nhóm cùng thực sử nào đó hoặc cũng có thể là kiến thức cũ có liên quan đến hiện một nhiệm vụ là hình thức nhiệm vụ vẽ sơ đồ, lập niên biểu, nội dung bài học để củng cố mà hiện nay GV phổ thông lập bảng thống kê,… một vấn kiến thức cũ, làm nền cho việc thường xuyên sử dụng trong giờ đề lịch sử nào đó. Đặc biệt, khi tiếp nhận kiến thức mới, giúp dạy lịch sử. TCHĐN theo bàn chung nhiệm HS phát triển khả năng phân Từ những phân tích trên, vụ nếu GV khéo léo trong khâu tích, suy đoán, liên hệ,... chúng tôi đã lựa chọn và thiết tổ chức HS báo cáo kết quả Khi học bài 11, "Tây Âu thời kế dạng nhóm theo bàn để giải nhóm thì sẽ kích thích được sự hậu kì trung đại", sách giáo quyết một nhiệm vụ thống nhất. cạnh tranh lành mạnh giữa các khoa (SGK) Lịch sử lớp 10, 2.2. Bản chất của tổ chức nhóm HS. Từ đó tạo cho các em phần 1 "Những cuộc phát kiến nhóm theo bàn để thực hiện động cơ để học tập tích cực. địa lý". Thông thường GV giao nhiệm vụ thống nhất 2.3. Thiết kế dạng TCHĐN nhiệm vụ cho các nhóm thảo Dạng TCHĐN theo bàn thực theo bàn để giải quyết một luận nguyên nhân của cuộc hiện chung một nhiệm vụ là một nhiệm vụ thống nhất phát kiến địa lý? HS sẽ thảo dạng TCHĐN kết hợp giữa cách * Các kiểu TCHĐN theo bàn luận trên cơ sở đọc SGK lịch sử phân chia, thành lập nhóm với - Nhóm cặp đôi: 2 HS ngồi lớp 10 và trả lời được câu hỏi và Ñaïi hoïc Huøng Vöông - ­Khoa hoïc Coâng ngheä 35
  3. Khoa hoïc giaùo duïc đưa ra nguyên nhân khách quan mỗi nhóm từ 3-5 HS ngồi chung đã thấy được sự thay đổi của bộ đó là con đường giao lưu buôn bàn, yêu cầu trao đổi nhóm để mặt Tây Âu trung đại, nền kinh bán qua Tây Á và Địa Trung thực hiện nhiệm vụ giống nhau tế tự cung tự cấp mất đi thay vào Hải bị người Ả Rập độc chiếm. như sau "Tại sao nói thành thị đó là nền kinh tế hàng hóa, tất cả Vì thế vấn đề cấp thiết đặt ra là Tây Âu ra đời nó giống như là nhờ có sự ra đời của thành thị. phải tìm một con đường thương một chất axít làm bào mòn nền + TCHĐN theo bàn để trao mại mới giữa phương Đông và kinh tế tự cung tự cấp". Để thực đổi kiểm tra lẫn nhau. phương Tây. Nhưng nếu GV hiện nhiệm vụ này, HS cần phân Dạng này được tổ chức với yêu cầu các em tìm hiểu con tích tìm ra những luận chứng những nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đường "cũ" là con đường nào? để chứng minh ý kiến trên là đòi hỏi tư duy nhanh của HS Nó có từ bao giờ? Và hoạt động đúng. Các em sẽ phải hình dung trong một thời gian ngắn. Mục thương mại giữa phương Đông lại nền kinh tế tự cung tự cấp ở đích của nó là xem xét việc tiếp và phương Tây diễn ra như thế lãnh địa tồn tại như thế nào và thu kiến thức của HS trong học nào trên con đường đó? Khi trả từ khi thành thị ra đời nền kinh tập để đánh giá, bổ sung, điều lời được câu hỏi đó, tức là kiến tế lãnh địa đã bị thay đổi ra sao. chỉnh cách dạy, cách học của cả thức của các em đã chuyển từ Các em sẽ rút ra nhận xét về vai GV và HS. mức độ biết chuyển sang hiểu trò của thành thị như bộ mặt - Việc trao đổi này thường và nắm sâu kiến thức, kiến thức kinh tế của Tây Âu đã thay đổi được tiến hành xen vào bài cũ của các em được tái hiện về nhanh chóng từ khi thành thị ra giảng hoặc khi kiểm tra bài cũ. con đường tơ lụa, con đường bộ giao lưu buôn bán Đông - Tây, đời. Thành thị ngày càng đóng Tổ chức nhóm trao đổi, kiểm và các em sẽ phải suy luận để rút vai trò quan trọng trọng trong tra không chỉ nhằm xem xét HS ra kết luận. đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nắm sự kiện lịch sử và cả khả + Tổ chức nhóm trao đổi ở Tây Âu. Kinh tế thành thị là năng phân tích, khái quát, hệ nhằm phân tích và khái quát hóa nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, thống hóa và thực hành của HS. kiến thức lịch sử. là một lực lượng kinh tế - xã hội Ví dụ: Sau khi học xong mục Dạng này nhằm làm cho HS mới tiến bộ và đang phát triển. "các cuộc phát kiến địa lý", GV tiếp thu tốt kiến thức trình bày, Nó từng bước đẩy lùi nền kinh sẽ chia lớp thành các nhóm nhỏ hiểu được tính logic, bản chất tế tự nhiên trong các lãnh địa. theo bàn. Mỗi nhóm sẽ được GV của sự kiện lịch sử. Trong dạng Thị dân tiêu thụ sản phẩm nông phát cho một mỗi thành viên hoạt động này, GV hướng dẫn nghiệp của nông thôn, đồng một phiếu học tập với nhiệm vụ HS phân tích và đánh giá các sự thời cung cấp cho nông thôn lập bảng thống kê các cuộc phát kiện lịch sử. Nhiệm vụ nêu ra những sản phẩm quan trọng kiến địa lý lớn diễn ra vào thế kỷ cho nhóm để HS trao đổi. Kiểu như nông cụ, vải vóc, các nhu XIV, XV. Trên cơ sở những kiến này thường liên quan đến các sự yếu phẩm trong sinh hoạt như thức đã được học, từng HS trong kiện cơ bản, đòi hỏi sự vận dụng muối, diêm, xà phòng,... Lãnh nhóm sẽ tự mình điền thông tin tổng hợp của nhiều hiện tượng chúa cũng không cần những sản trong phiếu trong vòng 3 phút. để tìm ra tính logic, bản chất của phẩm thủ công của nông dân Sau đó các em thảo luận rất sự kiện đó. trong lãnh địa nữa, họ ưa thích nhanh và đưa ra sản phẩm của Khi học bài 10 "Thời kỳ hình những sản phẩm do thị dân làm nhóm mình là một bảng thống thành và phát triển của chế độ ra. Nó vừa đẹp hơn, tinh xảo kê đúng và chính xác về các cuộc phong kiến ở Tây Âu" (từ thế kỷ hơn lại phong phú hơn. Vì thế, phát kiến địa lý. Bước tiếp theo là V đến thế kỷ XIV) mục 2,“Sự nông dân phải đem bán những các em tự chấm phiếu của nhau xuất hiện các thành thị trung nông phẩm của mình để lấy tiền dựa trên đáp án đúng của nhóm. đại” (SGK Lịch sử lớp 10), sau nộp địa tô cho lãnh chúa. Tô tiền Bạn nào sai hoặc thiếu sẽ bị trừ khi giảng xong mục này, GV đã dần thay thế cho tô hiện vật. điểm. Như vậy với dạng bài tập chia lớp thành 10 nhóm nhỏ, Từ sự phân tích trên, HS rõ ràng này, GV thu được rất nhiều kết 36 Ñaïi hoïc Huøng Vöông - K ­ hoa hoïc Coâng ngheä
  4. Khoa hoïc giaùo duïc quả, ngoài việc HS tiếp thu được TCHĐN theo bàn phải đảm việc thành lập nhóm, tổ chức nhanh và bền kiến thức, các bảo trong nhóm không được thảo luận nhóm,… Vì thế, các em còn hình thành rất nhiều kĩ phép để HS nào đó lạc đề, rơi GV Lịch sử khi sử dụng dạng năng như kỹ năng làm bài trên ra khỏi vòng xoáy của buổi thảo này trong TCHĐN phải nghiên phiếu, kỹ năng tranh luận, trao luận. Tránh hiện tượng nhóm cứu rất sâu và kỹ. GV cần rất lưu đổi đàm thoại với nhóm bạn, kỹ tồn tại một vài HS uể oải, không ý không nên vận dụng các hình năng đánh giá lẫn nhau trong tập trung, làm việc riêng,… thức này một cách rập khuôn nhóm,… Do nhóm theo bàn có số máy móc, tránh lạm dụng dạng * Quy trình TCHĐN theo bàn lượng thành viên rất ít, nên TCHĐN này quá nhiều trong Dù dạng TCHĐN theo bàn thuận lợi trong việc tranh luận, DHLS, nên có sự chọn lọc và có rất nhiều kiểu khác nhau tuy ý kiến đưa ra chỉ có từ 2 đến 3 vận dụng một cách mềm dẻo, nhiên TCHĐN theo bàn cần nên các em rất dễ đi đến thống linh hoạt các dạng TCHĐN. tuân thủ các bước sau: nhất ý kiến với nhau. Vì vậy, Tài liệu tham khảo Bước 1: Thành lập nhóm kiểu nhóm này không nhất thiết Bước 2: Giao nhiệm vụ cho 1. Đinh Văn Tiến (2011), phải có nhóm trưởng và thư ký. các nhóm Cẩm nang phương pháp sư 3. Kết luận Bước 3: Làm việc nhóm phạm, Nhà xuất bản Tổng hợp Dạng TCHĐN theo bàn thực Bước 4: Đánh giá, tổng kết Hồ Chí Minh. hiện chung một nhiệm vụ có thể Tuy nhiên, với dạng nhóm 2. Nguyễn Thị Oanh, Làm sử dụng thường xuyên, đồng này không nhất thiết lúc nào việc theo nhóm, NXB Trẻ thành thời có tác dụng giảm thiểu thời cũng phải có nhóm trưởng và gian TCHĐN, dễ làm, dễ thực phố Hồ Chí Minh. thư ký. hiện. Đây là một dạng TCHĐN 3. Robyn M. Gillies & F. 2.4. Một số lưu ý khi TCHĐN có tính khả thi cao, nó khắc Ashman (2007), Co-operative theo bàn giải quyết một nhiệm phục rất rõ nhược điểm hiện nay Learning. The social and vụ thống nhất của lớp học Việt Nam. Hơn nữa, intellectual outcomes of learning Nhiệm vụ GV giao cho nhóm in groups, Routledge. TCHĐN theo bàn còn không thông qua bài tập nhóm phải cụ 4. Cleleste M. Brody gây ồn ào, ảnh hưởng đến các thể, rõ ràng không trừu tượng. giờ học khác. and Nell Davidson (1998), Bởi nếu nhiệm vụ được giao cho các nhóm quá mơ hồ hoặc quá Có thể nói, mỗi một dạng Professional Development for trừu tượng, cuộc thảo luận có TCHĐN lại có ưu và nhược Cooperative Learning. Issues and thể bị mất phương hướng hoặc điểm riêng, mỗi dạng lại có Approaches, State University of bị bế tắc. những đặc trưng riêng trong New York Press. SUMMARY STUDENTS WORKING GROUP BY DESK TO SOLVE THE SAME LEARING TASK Ha Thi Lich Department of Research Planning and International Relations, Hung Vuong University In teaching history, group work organized via desks to carry out the same duty is one of the form that combines the way of the group division and learning task distribution. This is a new form of group work which is appropriate with the real teaching practice and improves the formality in organizing group work now. When teachers of history apply it in organizing group work, they should pay attention not to imitate and avoid making use of group work in teaching history. The teachers should select and apply it in a flexible way. Key words: Group work, teaching history, group-work via desk. Ñaïi hoïc Huøng Vöông - ­Khoa hoïc Coâng ngheä 37
  5. Khoa hoïc giaùo duïc NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Lưu Thế Vinh Bộ môn Lý luận chính trị, Trường Đại học Hùng Vương TÓM TẮT Việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy là yêu cầu sống còn đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt là đối với các học phần Lý luận Chính trị. Từ khi chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, Bộ môn Lý luận Chính trị, Trường Đại học Hùng Vương đã quan tâm tới việc đổi mới phương pháp giảng dạy, cơ cấu nội dung chương trình, tuy nhiên, thực tế giảng dạy cho thấy vẫn cần có những thay đổi cho phù hợp. Từ khóa: Chất lượng dạy học, phương pháp dạy học, học chế tín chỉ. 1. Mở đầu 2. Một số khó khăn ở Trường mới phương pháp dạy học thực Những nguyên lý cơ bản của Đại học Hùng Vương hiện không thường xuyên, chưa chủ nghĩa Mác - Lênin là một Hiện nay, đội ngũ giảng viên hiệu quả. Số sinh viên/giảng học phần khó đối với sinh viên Bộ môn Lý luận Chính trị còn viên cao gây khó khăn cho hoạt nói chung và sinh viên Trường thiếu, còn yếu và không cân đối. động kiểm tra, giám sát, đánh Đại học Hùng Vương nói riêng. Trong tổng số 16 cán bộ giảng giá kết quả học tập của sinh viên Một phần vì đây là học phần bắt viên (1 giáo vụ, 15 giảng viên) có và phần nào đó ảnh hưởng tới ý buộc đối với sinh viên năm đầu, 9 thạc sỹ (có 4 nghiên cứu sinh), thức, động lực học tập của sinh khi mà sinh viên vẫn còn bị ảnh 7 đại học (4 đang học cao học); viên. hưởng bởi lối học tập thụ động trong đó: 7 người chuyên ngành Việc thay đổi chương trình của bậc phổ thông. Mặt khác, Triết học, 2 chuyên ngành Kinh theo hướng tích hợp cũng gây ra nội dung, phương pháp dạy và tế chính trị, 1 Chủ nghĩa xã hội không ít khó khăn cho cả người học của chúng ta cũng chưa khoa học, còn lại là các chuyên dạy và người học (Môn Những phù hợp. Mỗi giảng viên chưa ngành khác. Đa phần là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa thực sự trang bị được cho mình giảng viên trẻ, mặc dù có nhiệt Mác - Lênin là sự tích hợp nội những kiến thức, kỹ năng cần huyết nhưng thiếu kinh nghiệm, dung của các học phần Triết học thiết để lôi cuốn sinh viên học hạn chế về điều kiện gia đình Mác - Lênin, Kinh tế Chính trị tập. Để nâng cao chất lượng dạy (nữ chiếm đa số 12/16), lại phải Mác – Lênin và Chủ nghĩa xã và học học phần Những nguyên đảm nhận một khối lượng công hội khoa học trước đây). Theo lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - việc lớn, do đó, phần nào chưa yêu cầu đổi mới, một giảng viên Lênin ở Trường Đại học Hùng đáp ứng được yêu cầu đổi mới phải đảm nhận dạy các phần nội Vương ngoài việc nâng cao ý phương pháp dạy học và nâng dung mà không phải là chuyên thức học tập của sinh viên, đổi cao chất lượng giáo dục đại học. ngành (chuyên ngành Kinh tế mới phương pháp giảng dạy của Việc tổ chức lớp học theo chính trị phải dạy Triết học; giảng viên thì việc thay đổi cơ hình thức lớp ghép với số sinh chuyên ngành Triết học phải dạy cấu nội dung chương trình, bài viên bình quân 100 – 150 sinh Chủ nghĩa xã hội khoa học…) giảng của giảng viên cho phù viên/1 lớp học phần, cũng là vì vậy, độ sâu kiến thức và nội hợp cũng là vấn đề có ý nghĩa một lý do khiến chất lượng dung bài dạy còn nhiều hạn chế. hết sức quan trọng. giảng dạy bị ảnh hưởng, việc đổi Nhiều nội dung sinh viên chưa 38 Ñaïi hoïc Huøng Vöông - K ­ hoa hoïc Coâng ngheä
  6. Khoa hoïc giaùo duïc hiểu hoặc hiểu chưa sâu không 3. Một số kiến nghị hướng dạy theo chuyên đề. Hàng có điều kiện để trao đổi và được Trước hết, giảng viên cần phải năm, hàng kỳ trên cơ sở nội giải đáp, dẫn đến chất lượng xây dựng lại kết cấu nội dung dung chương trình, giảng viên không cao. chương trình, bài giảng phù hợp lựa chọn một số chuyên đề, định Những khó khăn đã ảnh hơn cho từng năm học, kỳ học hướng những nội dung trọng hưởng không nhỏ đến kết quả và từng bài học. Theo chương tâm để dạy. Một mặt, tạo áp lực học tập của sinh viên trong thời trình môn học dành cho sinh buộc giảng viên phải tự nghiên gian qua. Theo Báo cáo tổng kết viên khối không chuyên ngành cứu các nội dung mới, cái mà năm học hàng năm của Bộ môn Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí mình còn thiếu, chưa sâu để có Lý luận Chính trị cho thấy, năm Minh trình độ đại học, cao thể đáp ứng được yêu cầu của học 2008 – 2009 kết quả học đẳng được ban hành theo Quyết sinh viên. Đồng thời, tạo động tập của sinh viên đạt loại giỏi là định số 52/2008/QĐ-BGDĐT lực để các giảng viên trẻ tích cực 19,3%, loại khá 45,3%, loại trung ngày 18 tháng 9 năm 2008 của học tập, trao đổi từng bước nâng bình là 35,2%. Năm học 2009 – Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào cao trình độ chuyên môn. Mặt 2010, kết quả là hơn 70% đạt yêu tạo, thời lượng môn học gồm 5 khác, giảng viên có điều kiện cầu, trong đó loại khá và giỏi đạt tín chỉ (phần 1: 2 tín chỉ; phần gắn các vấn đề lý luận với thực khoảng 30%. Năm học 2010 – 2 và 3: 3 tín chỉ). Để vẫn đảm tiễn thông qua việc lựa chọn các 2011, được sự quan tâm, chỉ đạo bảo được mục tiêu của môn vấn đề thời sự để sinh viên vận sát sao của lãnh đạo nhà trường, học, cũng như đảm bảo bảo độ dụng lý luận để giải quyết, tạo bộ môn đã xây dựng xong đề sâu về nội dung bài dạy, có thể nên hứng thú học tập cho sinh cương bài giảng theo học chế tín thực hiện chia thành 2 kỳ tương viên. chỉ cho tất cả các học phần do bộ ứng phần 1 kỳ 1; phần 2 và 3 kỳ Ví dụ, khi giảng về nội dung môn quản lý; các giảng viên bộ 2, tạo điều kiện thuận lợi cho ở phần 2 học thuyết kinh tế của môn tích cực đổi mới phương việc bố trí giảng viên, cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin, giảng pháp giảng dạy, tăng cường đổi có đủ thời gian để giảng viên đi viên có thể đặt ra các vấn đề mới công tác kiểm tra đánh giá, sâu vào các nội dung trọng tâm, như: Sự cần thiết, tất yếu phát vì vậy kết quả học tập của sinh hướng dẫn sinh viên tự học và triển kinh tế thị trường ở nước viên được nâng lên đáng kể: hơn trao đổi phản hồi ý kiến. Đồng ta hiện nay; những lợi thế của 90% sinh viên có kết quả đạt thời góp phần giảm bớt gánh việc phát triển kinh tế thị trường trung bình trở lên với 36% đạt nặng cho sinh viên. là gì? hay các vấn đề về lạm phát, loại khá và giỏi, không có sinh Thực tế giảng dạy tại Đại khủng hoảng kinh tế, công ty cổ viên yếu kém. học Hùng Vương thời gian qua phần… Khi đó, sinh viên sẽ vận Có thể thấy kế t quả học cho thấy, với 5 tín chỉ, tổng số dụng cơ sở lý luận để giải đáp, tập các môn Lý luận chính trị giờ thực hiện là 100 tiết (50 lý từ đó có thể phát huy tính tích nói chung và học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa thuyết, 50 thảo luận, bài tập), cực, khả năng tư duy, sáng tạo Mác - Lênin nói riêng của sinh thực hiện trong vòng 15 tuần của sinh viên. viên có sự thay đổi theo hướng là áp lực lớn không chỉ đối với Thứ ba, cần thay đổi cơ cấu tích cực, tỷ lệ sinh viên có kết sinh viên, mà còn ngay cả với giờ thực hiện và cách thực hiện quả học tập đạt yêu cầu tăng lên các giảng viên. Giảng viên phải giờ dạy, theo hướng giảm bớt giờ từng năm, tuy nhiên, tỷ lệ sinh chạy theo chương trình để đảm trên lớp, tăng giờ tự học của sinh viên đạt điểm khá và giỏi còn ít, bảo cả thời gian và khối lượng viên. Hiện nay, cơ cấu giờ thực trung bình chỉ khoảng 30%. Để kiến thức cần cung cấp cho sinh hiện theo chương trình của Bộ nâng cao hơn nữa chất lượng viên, nên không còn nhiều thời môn Lý luận Chính trị là 100 học tập và giảng dạy học phần gian để nghiên cứu, đào sâu các tiết (50 phút/1tiết), trong đó: 50 Những nguyên lý cơ bản của nội dung, cũng như không đủ lý thuyết, 50 thảo luận trên lớp. Chủ nghĩa Mác - Lênin, theo tôi thời gian trao đổi và hướng dẫn Trên thực tế giờ thảo luận khó cần có những sự thay đổi trong sinh viên tự học. thực hiện vì thời gian hạn chế, gian tới. Thứ hai, điều chỉnh theo hơn nữa do lớp đông nên việc Ñaïi hoïc Huøng Vöông - ­Khoa hoïc Coâng ngheä 39
  7. Khoa hoïc giaùo duïc kiểm tra, đánh giá gặp nhiều khó khăn, không tạo được động lực thu hút người học đến lớp. Để hiệu quả. Vì vậy, cần có sự thay đổi trong cơ cấu tạo động lực cho người học tham gia các buổi học, giờ thực hiện, theo hướng: 50 tiết lý thuyết được tích cực tham gia xây dựng bài, thảo luận… nên thực hiện trên lớp là khoảng thời gian giảng lý thay đổi cơ cấu điểm như sau: Tham dự lớp từ 10 thuyết, định hướng về nội dung và hướng dẫn tự – 20%; bài tập, tiểu luận, kiểm tra, thảo luận 30 - học. Còn 50 tiết thảo luận có thể thực hiện theo 40% và thi học phần từ 40 – 50%. hướng tăng thời gian tự học của sinh viên thông 4. Kết luận qua làm bài tập nhóm hoặc tiểu luận. Để nâng cao chất lượng dạy học, đòi hỏi trước Việc này không thể thay thế hoàn toàn giờ thảo hết người giáo viên cần phải có tâm huyết, giành luận trên lớp, tuy vậy, việc làm bài tập nhóm sẽ rất nhiều thời gian và công sức để nâng cao trình góp phần giảm thời gian học tập trên lớp của sinh độ chuyên môn và đổi mới phương pháp giảng viên, giảm cảm giác nhàm chán khi học trên lớp. Qua bài tập nhóm, tiểu luận, giảng viên xây dựng dạy. Trong điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn, các nội dung hoạt động, buộc sinh viên phải tự mức lương cho giáo viên còn rất thấp, tỷ lệ sinh tìm tài liệu, tự tìm phương pháp học, từ đó phát viên/giáo viên cao, nhiều thầy cô phải dạy nhiều huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong lớp, nhiều học phần thì việc đổi mới phương pháp học tập, từng bước rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi, giảng dạy không phải dễ thực hiện. Vì vậy, những tranh luận, thuyết trình và khả năng nghiên cứu thay đổi về cơ cấu nội dung chương trình phù hợp cho sinh viên - điều mà sinh viên nói chung còn sẽ tạo cơ sở để từng bước nâng cao chất lượng dạy yếu. Việc làm bài tập nhóm, tiểu luận bên cạnh và học học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ việc yêu cầu sinh viên hiểu và vận dụng lý thuyết nghĩa Mác - Lênin, vốn được coi là nhàm chán, vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, còn giúp nặng lý thuyết, không thực tế. giảng viên đánh giá chính xác kết quả học tập của Tài liệu tham khảo sinh viên thông qua việc thuyết trình trên lớp 1. Bộ môn Lý luận Chính trị, Báo cáo tổng kết (theo nhóm hoặc cá nhân). Bên cạnh đó, việc làm năm học các năm: 2008 - 2009; 2009 – 2010; 2010 bài tập nhóm cho phép giảng viên lựa chọn một – 2011. cách linh hoạt các chuyên đề, các nội dung phù 2. http://thuvienphapluat.vn/archive/ hợp với từng chuyên ngành khác nhau, tạo hứng Quyet-dinh-52-2008-QD-BGDDT-chuong- thú học tập và có thể phát huy được sở trường của sinh viên. trinh-Ly-luan-chinh-tri-dai-hoc-cao-dang- Cuối cùng, cần thay đổi cơ chế đánh giá kết quả dung-cho-sinh-vien-khoi-khong-chuyen-nganh- học tập của sinh viên, theo hướng giảm bớt áp lực, Mac-Lenin-tu-tuong-Ho-Chi-Minh-vb70733. gánh nặng về điểm của bài thi học phần. Hiện nay, aspx cơ cấu điểm đang được áp dụng là điểm thành 3. Trường Đại học Hùng Vương, Bộ môn Lý phần chiếm 30%, điểm thi học phần 70%, gây nên luận Chính trị, (2007), Đề cương chi tiết học phần áp lực lớn với bài thi học phần, đồng thời không Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. SUMMARY IMPROVE THE QUALITY OF TEACHING THE BASIC PRINCIPLES OF MARXISM-LENINISM AT THE HUNG VUONG UNIVERSITY Luu The Vinh Department of Political Theory, Hung Vuong University The innovations of content and teaching methods are vital requirements for improving the quality of teaching, particularly for the subject’s political theory. Since transfer to the training of a credit, the Department of Political Theory, Hung Vuong University has concerned about restructuring program content, teaching methods, however, and the actual teaching shows that is still need to be changes accordingly. Key words: Teaching quality, teaching methods, training of a credit 40 Ñaïi hoïc Huøng Vöông - K ­ hoa hoïc Coâng ngheä