Sưu tập di vật đá di chỉ Nậm Luồng (Lai Châu)

  • 30/08/2018 05:54:51
  • 39 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Bài viết khái quát cho người đọc vài nét về di chỉ, di vật đá, di chỉ nậm luồng trong bối cảnh khu vực lân cận. Bên cạnh đó bài viết còn cung cấp cho người đọc một số nhận định về di vật đá di chỉ Nậm Luồng. Mời các bạn cùng tham khảo.

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : , số trang : 10

Xem mẫu

Chi tiết

SƯU TẬP DI VẬT ĐÁ DI CHỈ NẬM LUỒNG (LAI CHÂU)<br /> PHẠM THANH SƠN*, BÙI VĂN LIÊM**,<br /> NGUYỄN THƠ ĐÌNH***, NGUYỄN XUÂN MẠNH****<br /> <br /> 1. Vài nét về di chỉ<br /> Nậm Luồng là một trong số ít di chỉ khảo cổ học tiền sử ngoài trời có tầng văn hóa còn tương đối<br /> nguyên vẹn không chỉ ở Lai Châu mà còn ở khu vực Tây Bắc nói chung. Bài viết này tập trung phân tích<br /> những thuộc tính công cụ để làm rõ đặc trưng loại hình, kỹ thuật chế tác đá và nghiên cứu so sánh với các<br /> di chỉ khảo cổ học khu vực lòng hồ thủy điện Lai Châu thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.<br /> Di chỉ Nậm Luồng thuộc Bản Nậm Luồng, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Di chỉ<br /> nằm ở tọa độ 22022’47,818’’ vĩ Bắc và 102044’12,621’’ độ kinh Đông, cao hơn mặt nước biển 292m,<br /> cách ngã ba sông Đà và suối Nậm Luồng khoảng 300m về phía đông bắc (Hình 1).<br /> Khu vực phát hiện chứa di<br /> tích thời đại Đá có độ cao hơn so<br /> với mực nước suối Nậm Luồng<br /> hiện tại (tháng 5) là 16,52m. Độ cao<br /> của khu vực mở hố khai quật cao<br /> hơn mặt bằng cư dân bản Nậm<br /> Luồng sinh sống 7m.<br /> Trong đợt khai quật năm<br /> 2014 có 4 hố khai quật được mở<br /> với tổng diện tích 200m2.<br /> Cấu tạo địa tầng của di chỉ<br /> Nậm Luồng cơ bản gồm những lớp<br /> như sau:<br /> <br /> 1. Không<br /> vị chỉ<br /> trí diNậm<br /> chỉ Luồng<br /> Nậm Luồng<br /> Pô Lếch<br /> Hình 1.Hình<br /> Không<br /> ảnh vịảnh<br /> trí di<br /> và PôvàLếch,<br /> xã Kan Hồ,<br /> huyện Mường Tè<br /> <br /> xã Kan Hồ, huyện Mường Tè<br /> Lớp mặt là lớp đất canh tác<br /> (Nguồn: http://googleearth.com, ngày 06/06/2015)<br /> có màu xám đen, tơi xốp, lẫn nhiều<br /> (Nguồn: http://googleearth.com, ngày 06/06/2015)<br /> mảnh gạch, đá cuội. Cũng trong lớp mặt, một số công cụ đá có vết ghè đẽo, các hạch cuội nguyên liệu có kích<br /> thước vừa tay cầm cũng được phát hiện.<br /> <br /> *<br /> <br /> ThS. Viện Khảo cổ học<br /> PGS.TS. Viện Khảo cổ học<br /> ***<br /> CN. Viện Khảo cổ học<br /> ****<br /> GVC. ĐH KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội<br /> **<br /> <br /> 4<br /> <br /> Kh¶o cæ häc, sè 6 - 2017<br /> <br /> Lớp văn hóa là lớp đất feralit thuần nhất, màu nâu, có chứa nhiều công cụ và hạch cuội nguyên liệu,<br /> sản phẩm của quá trình chế tác như mảnh tước, mảnh tách, cuội có vết ghè. Trong lớp này số lượng di vật thu<br /> được lớn nhất. Tuy nhiên, trong tất cả các hố khai quật hoàn toàn không phát hiện được di cốt động vật cũng<br /> như vỏ nhuyễn thể.<br /> Sinh thổ là sét feralit bị laterite<br /> nhẹ, màu nâu, không rắn chắc như kiểu<br /> laterite ở vùng trung du Bắc Bộ (Hình 2).<br /> 2. Di vật đá<br /> 2.1. Nguyên liệu<br /> Trong sưu tập hiện vật đá thu<br /> được ở Nậm Luồng, cuội basalt là loại<br /> nguyên liệu được ưa chuộng lựa chọn chế<br /> tác công cụ, tiếp đến là cuội quartzite và<br /> cát kết. Các nguyên liệu còn lại như cuội<br /> phiến sét, quartz, sạn kết hay sét bột kết<br /> đều chiếm một tỷ lệ nhỏ.<br /> <br /> Hình 2.<br /> a tầng<br /> Nậm Luồng<br /> Hình<br /> 2. Đị<br /> Địa<br /> tầng di<br /> di chỉ<br /> chỉ Nậm<br /> Luồng<br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn năm 2014)<br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn năm 2014)<br /> <br /> Quá trình khai quật kết hợp, khảo sát hệ thống nguyên liệu suối Nậm Luồng và ngã ba sông Đà ở<br /> khu vực này thấy rằng, ở đây có rất nhiều tảng cuội lớn và nhỏ khác nhau. Có những tảng cuội nặng tới vài<br /> tấn nhưng tỷ lệ cuội nhỏ ở suối Nậm Luồng rất hiếm. Ở khu vực ngã ba suối Nậm Luồng và sông Đà có<br /> những dải cuội nằm ở tả ngạn với mật độ dày đặc nhưng do thời điểm khai quật là mùa nước lũ do đó những<br /> người khai quật không thể tiếp cận được. Chúng tôi cho rằng, cuội được người cổ Nậm Luồng dùng chế tác<br /> công cụ là cuội có nguồn gốc ở sông Đà. Có thể do sự sẵn có và đa dạng của nguyên liệu nên chúng chỉ được<br /> thu lượm một số ít về di chỉ để chế tác. Do những mảnh tước tìm thấy trong hố khai quật không lớn nên<br /> không loại trừ trường hợp người xưa vừa chế tác công cụ tại nơi ở đồng thời sơ chế ở nơi khai thác, tìm kiếm<br /> nguyên liệu.<br /> 2.2. Loại hình<br /> Số lượng hiện vật thu được từ 3 hố khai quật là 125 chiếc, còn lại 10 chiếc sưu tầm trong quá<br /> trình khai quật.<br /> Phân loại cho thấy, loại hình di vật ở di chỉ Nậm Luồng chủ yếu gồm các loại hình, công cụ rìa<br /> ngang (29 chiếc), công cụ mũi nhọn (16 chiếc), rìa dọc (7 chiếc), rìa xiên (9 chiếc), hai rìa (14 chiếc), còn lại<br /> là công cụ ba rìa (2 chiếc), công cụ gần móng ngựa (4 chiếc) công cụ không định hình (7 chiếc), cuội có vết<br /> ghè (11 chiếc), công cụ hình đĩa (1 chiếc), công cụ mảnh (4 chiếc). Ngoài ra còn có cuội nguyên liệu, mảnh<br /> cuội bổ, mảnh tước, mảnh tách.<br /> - Công cụ mũi nhọn ở Nậm Luồng được ghè từ cuội nguyên liệu có độ dày dao động từ 2,5cm đến<br /> 6,45cm nhưng độ dày của phần lớn công cụ từ 4,0cm đến 6,0cm (Hình 3,4).<br /> Về chất liệu, các công cụ mũi nhọn được ghè từ cuội basalt với độ phong hóa mạnh, bề mặt còn lưu<br /> lại vỏ cuội màu đỏ vàng hoặc nâu vàng. Bên cạnh đó cũng có những công cụ mũi nhọn được chế tạo từ<br /> nguyên liệu khác nhưng số lượng hạn chế (Phạm Thanh Sơn 2015: 6).<br /> <br /> Phạm Thanh Sơn và nnk - Sưu tập di vật đá di chỉ Nậm Luồng…<br /> <br /> Về kỹ thuật, các công cụ mũi<br /> nhọn ở đây thuần nhất được chế tạo<br /> bằng kỹ thuật ghè trực tiếp và hoàn toàn<br /> là kỹ thuật ghè trên tay. Kỹ thuật gia<br /> công tập trung chủ yếu ở hai rìa bên hội<br /> tụ ở một đầu thành mũi nhọn, thủ pháp<br /> đều ghè một mặt, có từ một tới hai lớp<br /> ghè nhưng phổ biến nhất vẫn là 1 lớp<br /> ghè. Số vết ghè dao động từ 3 đến 7<br /> nhát, đối với nhóm công cụ có 2 lớp ghè<br /> số vết ghè lớn hơn, có thể lên đến 15<br /> đến 18 nhát. Chức năng của công cụ có<br /> thể được sử dụng để đào hoặc chặt.<br /> <br /> Hình 3.<br /> <br /> 5<br /> <br /> Hình 4.<br /> Công cụ mũi nhọn Nậm Luồng<br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn)<br /> <br /> - Công cụ rìa ngang ở Nậm<br /> Luồng là loại hình có số lượng lớn nhất. Trọng lượng của nhóm công cụ này trung bình là 769,3gram, với độ<br /> lệch chuẩn là 473,5gram và các chỉ số này đều nhỏ hơn các chỉ số tương tự của nhóm công cụ mũi nhọn .<br /> Cũng giống nhóm công cụ mũi nhọn, công cụ rìa ngang được chế tác chủ yếu từ cuội basalt, ngoài ra<br /> còn có cuội quartzite, cát kết, phiến silic và một vài loại chưa xác định. Phần lớn các công cụ rìa ngang được<br /> ghè từ một tới hai lớp với số lượng vết ghè dao động từ 3 tới 6 vết. Rõ ràng là, với những công cụ mũi nhọn<br /> được ghè hai lớp thì mật độ vết ghè cao hơn hẳn nhóm công cụ rìa ngang.<br /> <br /> Biểu đồ 1. Tương quan trọng lượng<br /> và chiều dài công cụ rìa ngang<br /> <br /> Biểu đồ 2. Tương quan trọng lượng<br /> và chiều rộng công cụ rìa ngang<br /> <br /> Biểu đồ 3. Tương quan trọng lượng<br /> và độ dày công cụ rìa ngang<br /> <br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn)<br /> <br /> Từ các kết quả phân tích thống kê tương quan giữa trọng lượng với các chỉ số chiều dài, rộng và độ<br /> dày chúng ta có thể rút ra được mức độ phân tán của chúng trong tương quan với trọng lượng. Mức độ phân<br /> bố về chiều dài công cụ từ 10-14cm tương ứng với nhóm công cụ có trọng lượng từ 500gram tới 1.000gram.<br /> Trong khi đó, mức độ phân tán về chiều rộng công cụ rìa ngang từ 8 - 12cm tương ứng với mức độ phân tán<br /> về trọng lượng từ 500gram tới 1.000gram. Mức độ phân tán về trọng lượng của nhóm công cụ này từ<br /> 500gram tới 1.000gram tương ứng với sự phân bố về độ dày công cụ từ 3 - 5,5cm (Biểu đồ 1-3). Xét trong<br /> mối tương quan giữa kích thước công cụ, trọng lượng và mật độ vết ghè xuất hiện trên nhóm loại hình công<br /> cụ này chủ yếu có từ 3 tới 5 vết âm bản.<br /> <br /> 6<br /> <br /> Kh¶o cæ häc, sè 6 - 2017<br /> <br /> - Nhóm công cụ hai rìa lưỡi<br /> Trong các nghiên cứu trước đây đối với nhóm công cụ này, các nhà nghiên cứu thường hay xếp<br /> chúng vào nhóm công cụ 1/4 viên cuội. Mặc dù vậy, theo quan điểm của người khai quật, thuật ngữ công cụ<br /> 1/4 viên cuội không khảo tả hết những đặc điểm của chúng.<br /> Trong sưu tập công cụ đá ở di chỉ Nậm Luồng có<br /> thể nhận ra ngoài nhóm công cụ mũi nhọn và nhóm công cụ<br /> rìa ngang thì loại hình công cụ hai rìa lưỡi liền kề hoặc có<br /> thể vuông góc là đặc trưng cho khu vực lòng hồ thủy điện<br /> Lai Châu (Hình 5).<br /> Dựa vào kết quả phân tích các chỉ số và các thuộc<br /> tính trong mối tương quan giữa trọng lượng, lớp ghè và số<br /> lượng vết ghè đồng thời mối tương quan giữa trọng lượng<br /> với các chỉ số về mặt kích thước cho thấy chúng có sự khác<br /> Hình 5. Công cụ rìa vuông góc liền kề<br /> biệt đáng kể với nhóm công cụ rìa ngang. Số lượng vết ghè<br /> Nậm Luồng<br /> đối với công cụ được ghè từ một tới hai lớp không có sự<br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn)<br /> khác biệt lớn. Trong khi đó, sự tương quan giữa trọng lượng<br /> và kích thước của nhóm công cụ này có sự khác biệt khá lớn với nhóm công cụ rìa ngang. Nếu chúng ta tiến<br /> hành so sánh về trọng lượng trung bình của nhóm công cụ ghè đẽo ở đây có thể nhận thấy, nhóm công cụ mũi<br /> nhọn có chỉ số về trọng lượng luôn lớn nhất và đó cũng là nhóm công cụ luôn được chế tác với mật độ các vết<br /> âm bản còn lại lớn nhất trên rìa tác dụng.<br /> - Nhóm công cụ rìa lưỡi xiên<br /> Đặc điểm nổi bật của nhóm công cụ có rìa tác dụng xiên vát chính là rìa lưỡi không có sự cân<br /> xứng so với trục dọc của công cụ trong một hệ tọa độ.<br /> Đây là những hiện vật được chế tạo hoàn toàn từ cuội<br /> basalt, bề mặt có màu nâu hay nâu vàng bị phong hóa<br /> mạnh. Rìa tác dụng được ghè bằng kỹ thuật ghè một mặt<br /> với số lượng vết ghè dao động từ 5 hoặc 6 vết ghè chỉ<br /> bằng một hoặc hai lớp ghè. Các chỉ số về kích thước<br /> không có sự khác nhau nhiều.<br /> - Công cụ mảnh<br /> Sưu tập công cụ mảnh chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong<br /> Hình 6. Công cụ mảnh cuội bổ Nậm Luồng<br /> sưu tập công cụ đá tại di chỉ Nậm Luồng. Nhóm công cụ<br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn)<br /> mảnh là những sản phẩm được chế tác từ kỹ thuật bổ cuội,<br /> trọng lượng trung bình 375gram nhưng cũng có công cụ nặng hơn 800gram, có từ 4 đến 6 vết ghè để tạo rìa<br /> tác dụng. Nguyên liệu chế tác công cụ mảnh có thể là cuội quartzite hay cuội basalt (Hình 6).<br /> - Các loại hình công cụ khác<br /> Ở di chỉ Nậm Luồng còn phát hiện một số loại hình hiện vật khác như công cụ hình đĩa, công<br /> cụ rìa dọc, ba rìa, cuội có vết ghè hình dáng không xác định… Tuy nhiên, do số lượng mẫu không lớn<br /> nên sẽ là không khách quan để khái quát và rút ra các chỉ số thống kê cơ bản nhất đối với từng nhóm<br /> <br /> Phạm Thanh Sơn và nnk - Sưu tập di vật đá di chỉ Nậm Luồng…<br /> <br /> 7<br /> <br /> loại hình. Chúng không cho thấy có sự khác nhau nhiều vì phần lớn đều được chế tạo từ kỹ thuật ghè<br /> một mặt, tần suất ghè đẽo không lớn (Phạm Thanh Sơn 2015).<br /> - Mảnh tước<br /> Những mảnh tước lớn có thể được tu<br /> chỉnh để làm công cụ nhưng chúng cũng có thể<br /> được sử dụng trực tiếp mà không qua chế tác.<br /> Trong bài viết này, do sự hạn chế về kỹ thuật<br /> nghiên cứu vết sử dụng nên những mảnh tước của<br /> quá trình chế tác công cụ sẽ được xếp vào nhóm<br /> phế liệu bị thải loại.<br /> Mảnh tước xuất hiện ở mọi độ sâu của<br /> địa tầng hố khai quật. Chúng được phát hiện chủ<br /> yếu ở H1 và H3. Mảnh tước được phân chia<br /> thành 2 nhóm lớn: mảnh tước đầu tiên và mảnh<br /> tước thứ (Biểu đồ 4).<br /> <br /> Biểu đồ 4. Số lượng công cụ mảnh và mảnh tước di chỉ Nậm Luồng<br /> <br /> (Nguồn: Phạm Thanh Sơn)<br /> Mảnh tước đầu tiên là loại có mặt lưng<br /> còn hầu hết vỏ cuội. Kích thước của nhóm mảnh<br /> tước đầu tiên ở cả 2 hố khai quật không cho thấy sự khác biệt lớn. Trên cơ sở nghiên cứu so sánh với kích<br /> thước vết âm bản còn lại trên công cụ có thể nhận thấy chúng có sự tương đồng và đó là sản phẩm được chế<br /> tác tại chỗ. Cũng không loại trừ khả năng, các công cụ có thể được chế tác trong quá trình chọn lựa nguyên<br /> liệu ở các bãi cuội gần bờ sông Đà.<br /> <br /> Mảnh tước thứ bao gồm các dạng mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội, mảnh tước còn riềm cuội,<br /> mảnh tước diện ghè và lưng còn vỏ cuội hoặc mảnh tước diện ghè và lưng không còn vỏ cuội. Tuy số<br /> lượng hạn chế nhưng chúng phản ánh quy trình ghè đẽo của công cụ và cho thấy được sự khác nhau về<br /> lớp ghè trên các công cụ là hợp lý.<br /> 3. Di chỉ Nậm Luồng trong bối cảnh khu vực lân cận<br /> Trong hệ thống các di tích khảo cổ học huyện Mường Tè (Lai Châu), ngoài Nậm Luồng thì Pô Lếch,<br /> Nậm Củm đều là những di chỉ có giá trị nghiên cứu so sánh.<br /> Di chỉ Pô Lếch cách Nậm Luồng 4,5km về phía đông. Di chỉ có tọa độ: 22022'18,58" vĩ Bắc và<br /> 102046'26,98" kinh Đông, độ cao so với mặt nước biển là 282,5m. Di tích nằm bên phía hữu ngạn của sông<br /> Đà, cách đường ô tô (tỉnh lộ 127) hướng lên thị trấn Mường Tè khoảng 2,5km (Nguyễn Thơ Đình 2015).<br /> Nhìn chung, cấu tạo địa tầng của địa điểm Pô Lếch có những sự tương đồng nhất định với di chỉ<br /> Nậm Luồng cũng thuộc xã Kan Hồ.<br /> Lớp mặt dày trung bình 15 - 20cm, đây là lớp đất canh tác có màu xám đen, tơi xốp, lẫn nhiều cuội,<br /> mảnh gạch, rác sinh hoạt hiện đại. Ngoài ra, trong lớp mặt chúng tôi cũng phát hiện một số công cụ ghè đẽo,<br /> các hòn cuội nguyên liệu có kích thước vừa tay cầm.<br /> <br />

Download

capchaimage
Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ