Xem mẫu

  1. TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 6 (31) - Thaùng 8/2015 Sự vượt khung phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của diễn ngôn truyện ngắn khu vực ngoại biên giai đoạn 1945 – 1975 The excess of methods of socialist realism of the discourse of peripheral area short stories in period 1945 – 1975 TS. Hoàng Thị Thu Giang Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh Ph.D. Hoang Thi Thu Giang Quang Ninh Teacher Training College Tóm tắt Bất kì nền văn hóa, văn học nào, ở mọi yếu tố, cấp độ cũng có phần trung tâm và ngoại biên. Với văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng giai đoạn 1945 – 1975 cũng vậy. Qua xem xét diễn ngôn truyện ngắn khu vực ngoại biên, có thể thấy tiếng nói, tư tưởng của vùng diễn ngôn này không đối kháng mà đối thoại theo tinh thần phản tư với diễn ngôn truyện ngắn khu vực trung tâm chính thống. Bài viết này tập trung làm sáng tỏ phần nào điều đó qua việc chỉ ra ý thức vượt khung phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của chủ thể sáng tạo truyện ngắn khu vực ngoại biên giai đoạn 1945 – 1975 [1]. Từ khóa: diễn ngôn, diễn ngôn truyện ngắn, diễn ngôn ngoại biên, truyện ngắn Việt Nam 1945-1975… Abstract As for every culture and literature as well as factors and levels, it also consists of the peripheral and central parts. This is similar to the literature, short stories in particular during the period 1945 – 1975. By researching the discourse subject of the the short stories of the peripheral area, it can be seen that the peripheral discourse is not antagononistic but dialogic based on the rethinking with the speech of discourse of the orthodox short stories. This article mainly focuses on making some parts clear in order to show the excess sense of methods of socialist realism of the writer creativity of the peripheral area during the period 1945 – 1975. Keywords: discourse, short story discourse, peripheral discourse, Viet Nam short story in periol 1945 – 1975… 1. Mở đầu đặt vào vùng trung tâm – được đông đảo Bất kì nền văn hóa, văn học nào, ở người tiếp nhận và giới phê bình giai đoạn mọi yếu tố, cấp độ cũng có phần trung tâm này quan tâm cổ vũ thì những tác phẩm và ngoại biên. Với văn học nói chung, viết không theo tinh thần đó hoặc không truyện ngắn nói riêng giai đoạn 1945 – quán triệt tinh thần đó một cách triệt để sẽ 1975 cũng vậy. Nếu những tác phẩm viết bị quyền lực đẩy ra ngoại biên. Nói gọn lại, theo phương pháp hiện thực xã hội chủ toàn bộ những tác phẩm từng bị cấm đoán, nghĩa, theo chủ trương đường lối của bị phê phán trong giai đoạn 1945 – 1975 Đảng, cổ vũ, tuyên truyền cho cách mạng, đều là văn học ngoại biên, diễn ngôn [1] bảo vệ chủ nghĩa xã hội là văn học được ngoại biên. Về phần ngoại biên [2] này, 11
  2. chúng tôi đồng tình với quan điểm của một thức, máy móc, rập khuôn,... của một bộ nhà nghiên cứu: “Chúng ta có thể không phận không nhỏ cán bộ trong các cơ quan thích nó, thậm chí ghét bỏ nó, nhưng nó Nhà nước đó là thói hư tật xấu, những vẫn là một phần, dù là rất bé nhỏ, rất phụ, mâu thuẫn của con người trên bước đường đã lui vào quá khứ của quá trình văn học. đi đến tương lai, đi đến chân thiện, trung Hiểu như thế mọi hiện tượng văn học ngoại thực đó là sự tàn phá văn hoá cổ dân gian biên đều đáng được xem xét, đều có ý bởi những quan niệm ấu trĩ. v.v. Nhiều nghĩa để soi sáng lịch sử văn học từ chỗ truyện ngắn bị coi là “có vấn đề” lúc ấy là này hay chỗ khác” [3]. Theo quan điểm bởi vì nó đề cao tính trung thực của ng i như vậy, trong khuôn khổ bài viết này, bút. ục đích của những diễn ngôn này là chúng tôi xem xét phương pháp sáng tác nói thẳng, nói thật về cuộc sống hiện tại và của chủ thể sáng tạo truyện ngắn khu vực những vấn đề trong cuộc sống ấy. Để thể ngoại biên để bước đầu có cái nhìn toàn hiện được tiếng nói đó, chúng không tuân diện hơn về nền văn học 1945 – 1975. theo duy nhất nguyên tắc phản ánh của 2. Vượt khung phương pháp hiện thực phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, tinh thần phê phán của những Những sáng tác văn học bị đẩy ra diễn ngôn ngoại biên này khác biệt với tinh ngoại biên trước hết vì nó không tuân thủ thần của những tác phẩm viết theo phương theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội pháp hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – chủ nghĩa mà Đảng đã định hướng cho văn 1945. Căn cốt tinh thần của những diễn hoá, văn nghệ. Trong những diễn ngôn ngôn bị xếp vào vùng ngoại biên của truyện ngắn [4] ngoại biên có sự hiện diện truyện ngắn giai đoạn 1945 – 1975 là phê con mắt hiện thực tỉnh táo của chủ nghĩa phán mang tính xây dựng. Thái độ và quan hiện thực phê phán, có kiểu nói trào phúng điểm của người viết với cuộc sống mới, với giễu nhại, có âm điệu của chủ nghĩa lãng Đảng và cách mạng là thái độ gắn bó, hy mạn, có màu sắc của chủ nghĩa hiện thực vọng. Do đó, nguyên tắc sáng tạo của huyền ảo .v.v. và điều này đương thời đã bị những diễn ngôn truyện ngắn thuộc khu một số nhà phê bình văn học cách mạng vực ngoại biên là sự vượt khung phương phê phán là “xuyên tạc”, “bôi đen” chế độ, pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa có tư tưởng “độc hại” .v.v. và .v.v. [5] chứ không phải là sự quay về với tinh Tuy nhiên với độ lùi thời gian, với cái thần của những kiểu phương pháp sáng tác nhìn nghiêm túc trong tình hình có nhiều trước cách mạng hay của một kiểu sáng tác thay đổi sau thời kì đổi mới 19 , nhiều nào khác. tác phẩm văn học trong đó có truyện Dấu hiệu vượt khung dễ nhận thấy ngắn trước đây bị gạt ra ngoại biên nay nhất ở diễn ngôn truyện ngắn ngoại biên là được đánh giá lại đúng với giá trị của nó. sự hiên diện mang tính thường trực, xuyên Những vấn đề được nêu ra trong những suốt của con mắt hiện thực tỉnh táo trong diễn ngôn từng bị xếp vào phần ngoại biên chủ thể diễn ngôn [ ]. Con mắt này cho của truyện ngắn 1945 – 1975 cho đến thời phép chủ thể diễn ngôn nhìn thấy, chỉ ra điểm hiện tại và cả tương lai vẫn đáng được những góc khuất, những chỗ chìm được lắng nghe và suy ngẫm. Đó là chuyện lấp, những cái bên trong, ở bề sâu của sự quan liêu, cửa quyền, lối làm việc công vật và đưa đến tiếng nói khác với tiếng nói 12
  3. của chủ thể diễn ngôn trong truyện ngắn vọng cho nhân vật cũng như người đọc ở khu vực trung tâm. Cùng một tác giả văn truyện” [10]. Rõ ràng, chọn cách kết thúc học nhưng sử dụng phương pháp sáng tác tuy chưa phải là có hậu nhưng ít ra cũng khác nhau – con mắt nhìn khác nhau sẽ dẫn mang lại niềm tin, hi vọng cho con người là đến những tiếng nói khác nhau. Kim Lân, cách để Kim Lân bày tỏ niềm tin, hi vọng trong những truyện ngắn như Ông Cả Luốn vào Đảng, cách mạng. gốc me [7], Người chú dượng [8] với cách Đoàn, nhân vật truyện Ông o h ng phản ánh của phương pháp hiện thực xã hội m là bộ đội trong kháng chiến 9 năm, đã chủ nghĩa đã cất lên tiếng nói ghi nhận từng ra sống vào chết, nay bị quy oan là những ý nghĩa tốt đẹp mà Cải cách ruộng Quốc dân Đảng, bị bắt làm kiểm điểm, bị đất mang lại cho người nông dân, nhất là đấu tố. Trong cơn quẫn bách anh đã định tự với lực lượng bần, cố nông. Và những tử. Nhưng rồi, nhìn sang ông lão hàng truyện ngắn này của ông được đánh giá là xóm, người kép tuồng giờ sống đơn độc những diễn ngôn “đúng đường lối” Nhưng trong cái nhà thờ họ đổ nát, đêm đến ông Kim Lân cũng là tác giả của truyện ngắn lão uống rượu, làm bạn với con m o và hát Ông o h ng m [9], một diễn ngôn bị những trích tuồng cổ, anh lại suy xét về xem là “lệch chuẩn” và bị chỉ trích nặng nề. hành động của mình. Và anh đã quyết định Không phải Kim Lân mâu thuẫn mà ở Ông viết đơn kêu oan với hi vọng “thế nào cũng o h ng m, ông đã nhìn và đánh giá cải có ngày Đảng xét lại”. Tiếng nói của chủ cách ruộng đất bằng con mắt hiện thực tỉnh thể diễn ngôn ở đây chính là lời tâm sự rất táo, nhờ đó mà thấy được những cái được tâm huyết của nhà văn với một tinh thần và những cái mất của công cuộc cải cách của người đảng viên cộng sản: “Cải cách ruộng đất. Là một cán bộ từng tham gia cải ruộng đất không sai với tất cả mọi người, cách ruộng đất, đã chứng kiến cái không nhưng ngay cả khi đúng, nó vẫn để lại một khí “long trời lở đất” ở nông thôn miền Bắc cái gì căng thẳng, bi kịch đối với con sau năm 1954, chứng kiến những bi kịch người” [11]. của một giai đoạn lịch sử nhiều thăng trầm, Chủ thể diễn ngôn với con mắt hiện nhiều người bị sống trong cảnh oan sai, thực phê phán và tinh thần nhân bản như thậm chí dẫn đến tự tử, Kim Lân viết Ông vậy xuất hiện trong nhiều diễn ngôn thuộc o h ng m trong bối cảnh sau cải cách khu vực ngoại biên của giai đoạn 1945 – ruộng đất và sửa sai của Đảng với mong 1975. Và tiếng nói của những diễn ngôn ấy muốn góp tiếng nói rút kinh nghiệm cho là: đả phá những k mặt nạ, giả dối, háo công cuộc này. Nhưng tác phẩm đầy nhân danh (L n ng – Hữu Loan [12], L ch bản này đã bị “đưa lên bàn mổ”. ng tâm m t c u chuyện t nh - Bùi Quang Đoài sự: “Truyện Ông o h ng m khi tôi viết [13], Bức thư g i m t người bạn cũ – Trần ra bị phê phán gay gắt. Nhưng đến nay, tôi Lê Văn [14] .v.v. , lên án tư tưởng quan thấy truyện này đã nói được sự thật không liêu, tắc trách trong công việc Đống máy – khí thời gian cải cách ruộng đất ... . Dù có inh Hoàng [15] , phê phán thói đạo đức nói đến sự thật nào, người viết luôn muốn giả Hai c u chuyện – ạnh Tường [1 ] vươn lên một cấp độ cao hơn, đó là cái ý và cả những thói hư, tật xấu thường gặp nghĩa của sự thật ấy ... . Đoạn kết truyện, trong cuộc sống Văn ngan tướng công – tôi đã mở ra một hướng thoát li, một hi Vũ Tú Nam [17] , cảnh báo tư tưởng bảo 13
  4. thủ, sống lâu lên lão làng Ông b nh ôi – hủi mà vẫn trung thành ấy chưa ” [22]. han Khôi [1 ] , những k không dám nói Nhưng đáng buồn, thành tâm ấy không được thật l ng mình, bị “cầm tù” trong địa vị, lắng nghe, thay vào đó, người ta thấy nó có quyền lợi Con ng a gi c a chúa r nh – tính ám chỉ… và nó bị xếp vào nhóm tác hùng Cung [19] .v.v. phẩm bốn con nói xấu chế độ Văn ngan Tiếng nói phê phán trong diễn ngôn tướng công – Vũ Tú Nam, Chuyện cái m truyện ngắn ngoại biên không nhằm “xuyên tha hương ở c a rừng Suối Cát con hùm tạc”, “bôi đen” chế độ như lời nhận xét của con mồ côi – Nguyên Hồng [23], Con nai các nhà phê bình văn học thời ấy mà nó xuất đen – Nguyễn Đình Thi [24], Con ch u phát từ ý thức đấu tranh với những mặt trái – Kim Lân [25]). đang hình thành trong chế độ xã hội mới. Chủ thể diễn ngôn ngoại biên, bên Điều này thể hiện ý thức nhân đạo, nhân văn cạnh việc sử dụng cách nhìn, cách nói của của chủ thể diễn ngôn. Cũng trên tinh thần chủ nghĩa hiện thực phê phán c n sử dụng nhân bản ấy, tác phẩm Chú bé m ăn Trần cả cách nói của văn chương trào phúng, Dần [20], Hai đứa trẻ trong đêm giao thừa giễu nhại vốn là sở trường của các cây bút Trần Dần [21] là tiếng nói chia s nhẹ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng hụng nhàng về cuộc sống c n nhiều khốn khó của trước cách mạng tháng Tám, của Hồ Anh nhân dân sau khi miền Bắc được hoà bình. Thái, hạm Thị Hoài.v.v sau đổi mới. Kiểu Nhưng dù là chia s nhẹ nhàng thì đây cũng nói giễu nhại này khiến đối tượng được là diễn ngôn “có vấn đề”, vì nó không nói về miêu tả trở nên lố bịch, bị hạ bệ hoặc bị cuộc sống mới với hơi thở thời đại mà lại giải thiêng. Vì vậy, để tránh búa rìu dư loanh quanh chuyện “cơm áo gạo tiền” vụn luận, nhất là tránh sự quy kết vào tội “bêu vặt. Vì thế, tiếng nói này cũng bị đẩy ra khu xấu” con người của chế độ mới, các diễn vực ngoại biên. Trong số đó c n có Con ch ngôn này thường sử dụng cả những yếu tố u Kim Lân - một tác phẩm mang sức huyền ảo có tính chất làm “lạ hóa” bức nặng triết lí nhân sinh. Chủ thể diễn ngôn tranh thế giới. Có thể lấy truyện hi máy muốn từ chuyện con vật để nói chuyện con Như ai [2 ] để minh hoạ cho cách làm người, chuyện xã hội. Con chó tuy xấu xí đó. Trong tác phẩm này này, chủ thể diễn nhưng lại rất trung thành, c n con người như ngôn nói về căn bệnh “sính” máy – thực Dự Nhượng lại không bằng con chó Dự chất là tư tưởng muốn biến văn chương Nhượng về sau “dinh tê” vào thành, viết thành phương tiện tuyên truyền, phát ngôn báo, viết truyện chửi kháng chiến, chửi bạn như những cái máy vô hồn, công thức, rập văn,... . Kim Lân thật sự tâm huyết khi viết khuôn đang phổ biến trong xã hội. Đành truyện này: “Viết truyện Con ch u tôi rằng, người ta không thể phủ nhận những gửi gắm rất nhiều tâm huyết của bản thân. tiến bộ của khoa học, kĩ thuật do máy móc Sau Ông o h ng m, tôi muốn viết truyện đem lại nhưng có những hoạt động rất đặc này cũng là giãi bày tâm sự tấm l ng mình, thù như sáng tác văn chương chẳng hạn thì một nhà văn đi theo cách mạng ... . Truyện không máy móc nào có thể thay thế được. gồm hai sự kiện song song. Tôi có dụng ý Trong thực tế cũng không có một cái máy xây dựng như vậy để tạo ra một sự đối sánh nào sản xuất ra để phục vụ việc sáng tác ... . Liệu con người cơ hội, phản bội như văn thơ, kịch, ký,... Nhưng câu chuyện với Dự Nhượng đã bằng con chó xấu xí bị hắt nhiều yếu tố huyền ảo này lại khiến người 14
  5. đọc giật mình khi liên hệ thực tế sáng tác chương lãng mạn 1932 – 1945 , Trần Duy, văn chương lúc đó. Trên những công trong iếng áo tiền kiếp [27] đã đặt câu trường, nông trường, những thi sĩ máy chuyện vào một toạ độ không – thời gian “được độc quyền tô lục chuốt hồng”, c n siêu thực với những nhân vật siêu thực, qua “lũ văn nghệ sĩ bằng xương bằng thịt thì bị tình sử của người thổi sáo thôn Hoàng để gạt ra ngoài”. Như “nhạc sĩ o Huyền đi gửi tới thông điệp: con người, bên cạnh học lớp nghiên cứu “nghề làm nước mắm”, hiện tại và tương lai c n có quá khứ và họ họa sĩ Lập thể được điều sang ậu dịch, cần được sống với quá khứ. Thông điệp nữ sĩ Trong Trắng ném bút làm nghề đ đ . này là sự phản ứng, là tiếng nói trao đổi về Thi sĩ ây Nước ra Bờ Hồ làm nghề bói việc cách mạng đối xử thô bạo với văn hóa Kiều tán róc về thành phần giai cấp cho truyền thống gồm cả văn hóa vật thể và những người c n đầu óc mê tín dị đoan. phi vật thể diễn ra gần như song hành với Văn sĩ Đắng Văn Cay phải ra chợ giời bán những cuộc đấu tố địa chủ, phong kiến ở văn kiêm bán săm. Nhà đạo diễn Kinh Kha thời cải cách ruộng đất. Sau này, khi được được chuyển sang ngành nuôi cá vàng”. hỏi về ẩn ý tác phẩm, Trần Duy chia s : C n ở nông trường Con n thì nhà thơ tr “Tiếng sáo tiền kiếp, nó được đ ra sau Linh Quang được gọi là Lăng Quăng thời kỳ chỉnh huấn. Con người ta ai cũng được điều xuống dọn chuồng b . Và câu qua cuộc đời cũ cả. Bắt tôi bỏ cuộc đời cũ chuyện đầy tính trào lộng này được chủ thể đi nhập vào cuộc đời mới, thì liệu có làm diễn ngôn lưu ý là xảy ra ở những năm được không ” [2 ]. Cũng như truyện iếng 2000… nào đó truyện viết năm 1957 . áo tiền kiếp của Trần Duy, truyện Con Nhưng chủ thể tiếp nhận thời kì đó mà đặc ng a gi c a chúa r nh cũng sử dụng yếu biệt là những nhà phê bình nhạy cảm đã tố nửa sự thực, nửa huyền ảo như vậy để không thể không liên hệ tới hiện thực. nói chuyện con người, cuộc đời đương đại. Ngoài ý nghĩa như đã nêu, Thi máy còn Có lẽ, sau những câu chuyện về “con chó”, phản ánh thực trạng của một thời kì mà “con ngựa” của Kim Lân, hùng Cung này, Đảng tiến hành ba cuộc cách mạng: cách nhà phê bình chỉnh huấn trở nên nhạy cảm, mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa dị ứng với hình ảnh các con, nên sau đó học kĩ thuật và cách mạng văn hoá tư “con ngan” hay “con nai”, “con hổ” của Vũ tưởng trong đó cách mạng khoa học kĩ Tú Nam, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng thuật là then chốt nhằm mục đích “tiến lên đều bị đón nhận bằng con mắt đầy nghi kị chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn tích và chúng đều bị phê bình, chỉnh huấn “lên luỹ tư bản chủ nghĩa trong khi xuất phát bờ xuống ruộng”. Và điều này đã ảnh điểm của Việt Nam chỉ là một nước nông hưởng không nhỏ tới quá trình diễn ngôn nghiệp lạc hậu . Những tiếng nói vượt ra sau này của nhiều nhà văn. Kim Lân chẳng ngoài phạm vi “cái được nói” của thời đại hạn: “Có lần hỏi ông, tại sao trong suốt như vậy là nguyên nhân khiến tác phẩm mấy chục năm r ng ông không viết nữa, này không được đưa vào khu vực trung ông cười hiền hậu trả lời: khi tác phẩm Con tâm. Cũng sử dụng yếu tố huyền ảo để tiện chó xấu xí ra đời, bị người ta cho là chống bề biểu đạt thông điệp nhưng không sử đối, ám chỉ, có vấn đề, thế là chán không dụng giọng giễu nhại mà bằng giọng cảm muốn viết nữa” [29]. hản ứng “không thương, chất giọng thường gặp ở văn muốn viết nữa” xuất hiện ở không ít nhà 15
  6. văn có tâm và có tài nhưng bị “truất quyền Language and Social Psychology, Edited by H. lên tiếng”. Điều ấy khiến đời sống văn học Giles and W.P. Robinson. © 1990 John Wiley & Sons Ltd, tr164, 165). Cách hiểu rộng về diễn thiệt th i, cũng khiến tinh thần nhân bản ngôn diễn ngôn là hoạt động giao tiếp, có thể của văn học bị sứt m , bởi lẽ, trong diễn bằng lời nói hoặc văn viết và yếu tố “không lời” ngôn, nhờ diễn ngôn mà con người tồn tại. cũng được xem là bộ phận hợp thành của sự Vì vậy, số phận của truyện ngắn ngoại biên kiện này và việc tập trung vào cả hai bình diện: giai đoạn 1945 – 1975 và người viết nó bình diện cấu trúc - nghĩa và bình diện cấu trúc – lời như vậy đã nới rộng phạm vi khảo sát diễn đáng để hậu thế suy ngẫm và rút ra bài học ngôn sang các phương thức biểu đạt hiện thực, trong cách cư xử với diễn ngôn nghệ thuật. từ đó mở ra hiểu biết mới về các đơn vị ngôn 3. Kết luận ngữ. C n J.Kristeva, trong M t nền thi pháp học Như vậy, trong giai đoạn 1945 – 1975, ụp đổ quan niệm diễn ngôn là khái niệm chỉ nếu như ở truyện ngắn thuộc khu vực trung ngôn ngữ được phát ra bởi một chủ thể và/hoặc cái mà một chủ thể thực hiện trong ngôn ngữ” tâm, với mục đích tuyên truyền cách mạng, xem: Lã Nguyên tuy n d ch 1 , L u n chủ thể diễn ngôn đã chọn phương pháp ăn học, nh ng n đề hiện đại, Nxb Đại học Sư hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương phạm, H, tr75 . Thống nhất với những cách hiểu pháp sáng tác duy nhất, tối thượng thì ở như trên, khi gọi văn học và những sáng tác văn truyện ngắn thuộc khu vực ngoại biên, chủ học là diễn ngôn, chúng tôi hướng sự chú ý vào cái “lõi” nội dung ẩn chứa trong những tấm áo thể diễn ngôn, với ý đồ muốn nói thẳng, ngôn từ nghệ thuật. Chúng tôi cũng đồng tình nói thật theo tinh thần phê bình để rút kinh với quan điểm của .Foucault: mỗi diễn ngôn nghiệm, để có thể làm tốt hơn, đã chọn con đều bị chi phối bởi một “cơ chế thầm kín” - đó đường phá rào, vượt khung phương pháp là hình thái xã hội, trạng thái tri thức của con sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Điều người và cơ chế quyền lực trong xã hội” (tham khảo: Trần Đình Sử 2004 , Bản ch t h i này sẽ dẫn tới những khác biệt trong cách thẩm m c a ngôn từ ăn học; hương Lựu kiến tạo văn bản ngôn từ và bức tranh thế (2008), Nh ng b c tiên phong c a tư duy h u giới của mảng diễn ngôn truyện ngắn khu hiện đại; Lã Nguyên (2009), Ch ngh a h u vực ngoại biên trong so sánh với diễn ngôn hiện đại như m t hệ h nh thế giới quan…). Thiết truyện ngắn khu vực trung tâm giai đoạn nghĩ, tư tưởng về diễn ngôn của .Foucault là chỉ dẫn quan trọng để bóc tách cách hành ngôn, 30 năm sau cách mạng tháng Tám. tìm đích diễn ngôn. Chú thích 2. Tiếp thu ánh sáng lí thuyết ký hiệu học, cụ thể là khái niệm kí hiệu quyển của Iu.Lotman, chúng 1. T.A.Van Dijk – đại diện tiêu biểu cho nghiên tôi đề xuất sử dụng khái niệm trường diễn ngôn cứu diễn ngôn trong ngôn ngữ học – quan niệm để nói về các phạm vi không gian diễn ngôn. diễn ngôn “vừa là một dạng thức cụ thể của sử ỗi diễn ngôn luôn có ngữ cảnh tồn tại nhất dụng ngôn ngữ vừa là một dạng thức của tương định của nó, bên cạnh các diễn ngôn khác. Tập tác xã hội, được giải thích như một sự kiện giao hợp diễn ngôn thuộc một hệ tọa độ không – thời tiếp hoàn thiện trong một ngữ cảnh xã hội cụ gian với những đặc điểm chung nhất định được thể” và “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra gọi là một trường diễn ngôn. ỗi trường diễn giữa người nói và người nghe người quan ngôn – không gian diễn ngôn mang những đặc sát… trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một điểm cơ bản sau: 1 tính phân giới, 2 tính đa ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ dạng nội tại và sự phát triển không đồng đều của cảnh khác nào đó. Hoạt động giao tiếp này có các tiểu cấu trúc trong cấu trúc trường diễn thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận ngôn, 3 có cấu trúc đối xứng phi đẳng cấu, hợp thành của nó có thể bằng lời hoặc không trong đó cặp đối xứng khái quát nhất là “trung lời” xem: T.A.van Dijk (1990), Handbook of tâm” tập hợp các yếu tố hạt nhân, giữ vai tr 16
  7. chủ lưu, thống trị và “ngoại biên” phần của thể, trong quá trình phát triển cách mạng, nhân những “cái khác”, được/ bị đẩy ra đường biên, vật chính diện có tinh thần lạc quan, có tư tưởng đường ranh giới của hệ thống . tiến bộ, đảm bảo yêu cầu tính Đảng .v.v. Bên 3. em: Trần Đình Sử 2013 , Ngoại biên h a trong cạnh những nguyên tắc thành văn đó, nhà văn tiến tr nh ăn học Việt Nam đương đại, nguồn: c n cần chú ý đảm bảo cả những quy định bất http://trandinhsu.wordpress.com/2013/07/28/ngo thành văn – thể hiện đa dạng trong thực tiễn phê ai-bien-hoa-trong-tien-trinh-van-hoc-viet-nam- bình văn học lúc ấy - như: không nói những điều duong-dai/ không thuộc đời sống hiện tại, không phản ánh 4. Từ quan niệm diễn ngôn và trường diễn ngôn, về hiện thực khác/chệch quan niệm của Đảng về cặp khái niệm “trung tâm” – “ngoại biên” như đã hiện thực… Có thể nói, hệ thống những nguyên nêu ở mục [1] và [2], có thể thấy văn học Việt tắc này chính là khung phương pháp sáng tác Nam giai đoạn 1945 – 1975 là một trường diễn hiện thực xã hội chủ nghĩa. ngôn, chứa đựng trong nó nhiều loại diễn ngôn. 6. Nếu diễn ngôn được hiểu là “ngôn ngữ được phát ét về nội dung, ta có diễn ngôn dân tộc – lịch ra bởi một chủ thể và/hoặc cái mà một chủ thể sử, diễn ngôn truyện cổ, diễn ngôn đời tư, diễn thực hiện trong ngôn ngữ” đd thì ứng với đó, ngôn giai thoại,… ét về thể loại, ta có diễn chủ thể diễn ngôn là người phát/ người kiến tạo ngôn thơ, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn truyện diễn ngôn. Ví dụ, Chí h o là chủ thể diễn ngôn: ngắn,... Nằm trong diễn ngôn văn học 1945 – “Ai cho tao lương thiện ” c n Nam Cao lại là chủ 1975, thể loại truyện ngắn cũng tồn tại như một thể diễn ngôn truyện ngắn Chí h o. Tuy nhiên, trường diễn ngôn, có sự phân cực thành hai vùng trong thực tế sống động và phức tạp của hoạt tâm – biên rõ rệt, trong đó, phần trung tâm bao động giao tiếp, sự đan bện, chồng chéo của hành gồm những tác phẩm trực tiếp cổ vũ, tuyên vi tạo tác và hành vi mượn lời khiến việc nhận truyền cho cách mạng, cho sự nghiệp xây dựng, diện chủ thể diễn ngôn không đơn giản. bảo vệ chủ nghĩa xã hội và phần ngoại biên bao 7. [8], [9], [25]. Xem: Kim Lân (1996), uy n t p, gồm những tác phẩm không trực tiếp đáp ứng, Nxb Văn học, H. phục vụ chủ trương đường lối của Đảng hoặc 8. [10]. Xem: han Cự Đệ, Lý Hoài Thu đồng chủ chưa thể hiện sự tuân thủ ý thức hệ vô sản, chủ trì đề tài 6 , ruyện ngắn Việt Nam, Đại trương đường lối văn nghệ của Đảng. học Quốc gia H N i, tr 7 . 5. Ở giai đoạn 1945 – 1975, các văn kiện cũng như 9. [11]. [23]. Xem: han Cự Đệ, Lý Hoài Thu đồng các ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ trì đề tài 6 , ruyện ngắn Việt Nam, về công tác văn hóa văn nghệ đều xem phương Đại học Quốc gia Hà Nội, tr275. pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là 10. [12]. Xem: Hữu Loan 195 , L n ng, Giai phương pháp tốt nhất, có khả năng phản ánh phẩm mùa đông, t p I. chân thực cuộc sống trong quá trình phát triển 11. [13]. Xem: Bùi Quang Đoài 195 , L ch m t cách mạng của nó, trong hoàn cảnh và điều kiện c u chuyện t nh, Báo Đ t mới 11/1956 . lịch sử – cụ thể, làm cho người ta thấy được 12. [14]. Xem: Trần Lê Văn 195 , Bức thư g i hướng đi tới của xã hội. Việc vận dụng phương m t người bạn cũ, Giai phẩm mùa thu, t p I. pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa trong 13. [15]. Xem: Minh Hoàng (1957), Đống máy, Báo sáng tác văn nghệ được khẳng định không chỉ là Văn, ố 34. sự lựa chọn về mặt thủ pháp nghệ thuật mà c n 14. [16]. Xem: Nguyễn ạnh Tường 195 , Hai là vấn đề quan điểm và nhận thức. Đảng nhấn c u chuyện, Giai phẩm mùa đông, t p I. mạnh việc lựa chọn phương pháp sáng tác hiện 15. [17]. Xem: Vũ Tú Nam 19 3 , Văn ngan tướng thực xã hội chủ nghĩa gắn bó chặt chẽ với với thế công, N B Kim Đồng 19 3 , Tái bản 2013 giới quan tiên tiến cũng như với lợi ích giai cấp, 16. [18]. Xem: Phan Khôi (1956), Ông bình vôi, dân tộc, mục tiêu của cuộc đấu tranh chính trị. Giai phẩm mùa thu, t p II. Viết theo phương pháp sáng tác hiện thực chủ 17. [19]. Xem: Phùng Cung (1956), Con ng a gi nghĩa, người sáng tạo cần tuân thủ những nguyên c a chúa r nh, Báo Nh n ăn ố 4, 1956. tắc thành văn cơ bản: quán triệt tư tưởng xã hội 18. [20]. Xem: Trần Dần 195 , Chú bé m ăn, chủ nghĩa, hướng tới đối tượng công – nông – ạp ch do diễn đ n 1 /1956 đăng ại trên binh, miêu tả đời sống trong hoàn cảnh lịch sử cụ ạp ch Nh ăn ố tháng 5 năm 11, được tặng 17
  8. thưởng Tác phẩm hay ạp ch Nh ăn 11 . 22. [26]. Xem: Như ai 195 , hi máy, Báo 19. [21]. Xem: Trần Dần 1957 , Hai đứa trẻ o đêm Nh n ăn ố 5 giao thừa, ạp ch Nh ăn, số tháng 5 năm 2011. 23. [27]. Xem: Trần Duy 195 , iếng áo tiền 20. [23]. Xem: Nguyên Hồng 19 0 , Chuyện cái kiếp, Giai phẩm mùa thu, tập I. m tha hương ở c a rừng Suối Cát Con hùm 24. [2 ]. Thuỵ Khuê 2009 , N i chuyện ới họa con mồ côi, in ại trong uy n t p Nguyên rần Duy, Hồng, tập I, N B Văn học 2000 http://thuykhue.free.fr/stt/t/TranDuy1.html 21. [24]. Xem: Nguyễn Đình Thi 1993 , uy n t p 25. [29]. em: Văn Giá 200 , Viết cùng bạn iết, k ch, N B Văn học Nxb Hội nhà văn, H, tr50. Ngày nhận bài: 13/10/2014 Biên tập xong: 15/8/2015 Duyệt đăng: 20/ /2015 18