Xem mẫu

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 1 (2019) 10-16<br /> <br /> Review article<br /> <br /> National Assembly Make Law or Cease The Making Law<br /> Nguyen Dang Dung*, Nguyen Thuy Duong<br /> VNU, School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam<br /> Received 29 November 2018<br /> Revised 03 December 2018; Accepted 04 December 2018<br /> <br /> Abstract: Although there has not been a reform like executive and judicial power , since<br /> the “Doi Moi” reform until now, the National Assembly - the legislative branch of<br /> Vietnamese government has achieved certain successes, but to implement 2013<br /> Constitution better, there ‘s still a lot of work to do. First of all, we have to change our<br /> awareness: Legislative power is not simply the right to adopt a law, but also the right to<br /> suspend law drafting when the laws do not express the will of the people, nor do they<br /> reflect objective movement of society.<br /> Keywords: National Assembly, legislative power, right to cease the making law.<br /> *<br /> <br /> _______<br /> *<br /> <br /> Corresponding author.<br /> E-mail address: dangdung52.pld@gmail.com<br /> https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls. 4196<br /> <br /> 10<br /> <br /> VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 1 (2019) 10-16<br /> <br /> Quốc hội lập pháp hay hãm lập pháp<br /> Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Thùy Dương*<br /> Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam<br /> Nhận ngày 15 tháng 12 năm 2018<br /> Chỉnh sửa ngày 15 tháng 1 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 03 năm 2019<br /> <br /> Tóm tắt: Mặc dù chưa có một cuộc cải cách nào như các quyền hành pháp và tư pháp, kể<br /> từ những năm đổi mới đến nay Quốc hội - quyền lập pháp của nhà nước Việt Nam đã có<br /> những thành công nhất định, nhưng để thực hiện tốt những yêu cầu của Hiến pháp năm<br /> 2013 còn rất nhiều việc phải làm. Trước hết về mặt nhận thức: Quyền lập pháp không đơn<br /> giản là quyền thông qua dự án luật, mà còn phải là quyền hãm thông qua dự luật, khi các<br /> dự luật, không thể hiện được ý chí của người dân, cũng như không thể hiện được tính<br /> khách quan vận động của cuộc sống.<br /> Từ khóa: Quốc hội, quyền lập pháp, quyền hãm lập pháp.<br /> 1. Bối cảnh của vấn đề *<br /> <br /> pháp, hành pháp và tư pháp tương ứng cho ba<br /> cơ quan thực hiện: Quốc hội thực hiện quyền<br /> lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp<br /> và Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Điều 69 của<br /> Hiến pháp 2013 quy định:<br /> “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của<br /> Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất<br /> của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.<br /> Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền<br /> lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của<br /> đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động<br /> của Nhà nước”.<br /> Trong lĩnh vực lập pháp với tinh thần của<br /> việc đưa các quy định của Hiến pháp vào thực<br /> tiễn, mấy năm qua có một hiện tượng rất bất<br /> thường so với trước đây, một số dự luật đã được<br /> thông qua chuẩn bị có hiệu lực thực thi, với sự<br /> phản ứng của giới truyền thông, Quốc hội đã<br /> phải xem xét lại. Đó là hiện tượng Điều 60 Luật<br /> Bảo hiểm xã hội, mặc dù đến tháng 1/1/2016<br /> <br /> Hiến pháp năm 2013 có rất nhiều quy định<br /> mới so với các bản hiến pháp trước đây. Đó là<br /> việc quy định quyền con người và quyền công<br /> dân thành một chương riêng ở thứ tự ưu tiên chỉ<br /> sau chương quy định về chế độ chính trị của<br /> Hiến pháp, cùng với các quy định gần như<br /> tương đồng hơn cả với trước đây các quy định<br /> của Công ước về quyền dân sự, chính trị và<br /> kinh tế xã hội của Liên Hợp quốc, mà Việt Nam<br /> đã tham gia ký kết. Sau những quy định quan<br /> trọng này là vấn đề lần đầu tiên trong lịch sử<br /> lập hiến Việt Nam Hiến pháp ghi nhận một<br /> cách rõ ràng nhất về sự phân công phân nhiệm<br /> rạch ròi của các cơ quan thực hiện quyền luật<br /> <br /> _______<br /> *<br /> <br /> Tác giả liên hệ:<br /> Địa chỉ Email: dangdung52.pld@gmail.com<br /> https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls. 4196<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12<br /> <br /> N.D. Dung, N.T. Duong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 1 (2019) 10-16<br /> <br /> mới có hiệu lực thi hành, nhưng tháng 6 năm<br /> 2015 Quốc hội đã phải sửa đổi. Cũng gần tương<br /> tự như vậy, gần đến ngày có hiệu lực thực thi<br /> Quốc hội đã phải ra quyết định dừng thi hành<br /> Bộ luật Hình sự năm 2015 để phục vụ cho việc<br /> chỉnh sửa. Bên cạnh Bộ luật Hình sự phải hoãn<br /> thi hành, còn có dự án luật khác liên tiếp không<br /> được trình ra Quốc hội. Nguyên nhân nằm ở<br /> chất lượng làm luật: có nhiều điều chưa đúng<br /> với thực tế hoặc thời gian gấp gáp dẫn đến chất<br /> lượng soạn thảo và thẩm định cũng không đến<br /> nơi, đến chốn. Việc phải lùi thời điểm thi hành<br /> Bộ luật Hình sự, cũng như phải rút những dự án<br /> luật để chuẩn bị lại được xem như một bài học<br /> kinh nghiệm trong việc soạn thảo, thẩm định và<br /> thông qua các dự án luật. Việc tạm dừng các dự<br /> luật sửa đổi khi không đảm bảo chất lượng cũng<br /> là một việc cần thiết. Đó là số phận của các dự<br /> án luật đã và đang được Quốc hội thảo luận<br /> thông qua chưa có hiệu lực trên thực tế. Số<br /> phận của các đạo luật đã được thông qua và có<br /> đã có hiệu lực trên thực tế thì cũng không sáng<br /> sủa gì hơn.<br /> Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng<br /> 5/2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long<br /> đã báo cáo về tình hình thực hiện và khó khăn,<br /> vướng mắc trong xây dựng, ban hành văn bản<br /> quy định chi tiết luật, pháp lệnh, văn bản quy<br /> định điều kiện đầu tư kinh doanh theo Luật<br /> Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Theo đó, trong<br /> tháng 5/2016 (tính đến hết ngày 31/5), các bộ,<br /> cơ quan ngang bộ mới ban hành được 6/230 văn<br /> bản quy định chi tiết, đạt 2,6% (còn 224 văn<br /> bản, chiếm 97,4%). Trong số các văn bản nợ có<br /> 37 nghị định, quyết định cần phải ban hành<br /> trước ngày 1/7/2016, song chỉ có 19 văn bản đã<br /> thẩm định hoặc đã trình Chính phủ (có thể kịp<br /> ban hành); còn lại 18 văn bản khó ban hành<br /> kịp1.<br /> Vào ngày 9/6, ba ngày trước khi Quốc hội<br /> xem xét thông qua dự luật này, Văn phòng<br /> Chính phủ thông tin, sau khi tiếp thu các ý kiến<br /> tâm huyết, trách nhiệm của các vị đại biểu Quốc<br /> hội, các nhà khoa học, nhà kinh tế, chuyên gia,<br /> <br /> cử tri và nhân dân cả nước, Chính phủ đã thống<br /> nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình<br /> Quốc hội xem xét, cho lùi việc thông qua Dự án<br /> Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (gọi<br /> tắt là Luật Đặc khu kinh tế) từ kỳ họp thứ 5<br /> sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14 và tiếp tục<br /> hoãn cho đến khi chuẩn bị tốt dự luật2. Việc lùi<br /> thời gian này là để có thêm thời gian nghiên<br /> cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm dự án Luật khi<br /> trình Quốc hội thông qua đáp ứng được các yêu<br /> cầu, nguyện vọng của các vị đại biểu Quốc hội,<br /> cử tri và nhân dân, xây dựng thành công 3 đặc<br /> khu, giữ vững an ninh quốc phòng và chủ<br /> quyền quốc gia. Chiều 24/8 mới đây, Chủ<br /> nhiệm Văn phòng Quốc hội, đồng thời cũng là<br /> Tổng Thư ký Quốc hội, một chức danh mới<br /> được thành lập theo tinh thần của Hiến pháp<br /> năm 2013 ra thông báo tại kỳ họp thứ 6 diễn ra<br /> tháng 10 tới, Quốc hội dự kiến chưa xem xét dự<br /> án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt<br /> (Luật Đặc khu) để tiếp tục xin ý kiến cử tri,<br /> nhân dân, các tổ chức, chuyên gia, nhà khoa<br /> học.<br /> Thực trạng trên khiến chúng ta phải xem<br /> xét lại một cách thấu đáo quyền lập pháp, từ đó<br /> phải thấy tính chất phức tạp của quyền lập pháp<br /> từ khái niệm, phạm vi cho đến cách thức thực<br /> hiện. Phạm vi bài viết này muốn đặt vấn đề góp<br /> phần cho việc giải quyết khó khăn trên.<br /> 2. Chức năng lập pháp của Quốc hội<br /> trong điều kiện mới của Hiến pháp năm 2013<br /> Lập pháp là quyền một trong 3 quyền do<br /> các nhà lý thuyết - triết học của thời kỳ Khai<br /> sáng trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân<br /> loại của J.Locke, S. Montesqiueu quan trọng<br /> mà nền dân chủ tư sản đã đề xuất ra và được<br /> thực tế tổ chức và hoạt động của nhà nước tư<br /> sản tuân thủ một cách phổ biến ở khắp một nơi<br /> có nền dân chủ tư sản. Trong một nền dân chủ<br /> quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân,<br /> không thể khác hơn nếu như quyền này không<br /> thuộc về mọi người dân, rồi thứ đến là của đại<br /> diện cho người dân nhận được sự ủy thác của<br /> người dân. Cái thứ nhất thì quá tốt nhưng thực<br /> <br /> _______<br /> <br /> _______<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> Quốc hội chưa xem xét Luật Đặc khu tại kỳ họp tới,<br /> Zing.vn 24-8-2018.<br /> <br /> Đá bàn: “Nợ đọng” văn bản hướng dẫn luật là do… các<br /> bộ trưởng. Thời báo Kinh tế Sài gòn, 1-11-2016.<br /> <br /> N.D. Dung, N.T. Duong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 1 (2019) 10-16<br /> <br /> sự khó làm, với số lượng dân cư quá đông, có<br /> quốc gia lên đến hơn tỷ người và với lãnh thổ<br /> quá rộng so với nền dân chủ của các quốc gia<br /> cổ đại, nơi có nền dân chủ đầu tiên của nhân<br /> loại. Nên về cơ bản mọi quốc gia hiện nay đều<br /> lựa chọn cách thứ hai, trừ một số trường hợp<br /> đặc biệt như thông qua Hiến pháp mới, hay tách<br /> nhập các phần lãnh thổ quốc gia, bằng biện<br /> pháp phúc quyết của người dân…<br /> Nhưng làm luật không phải là một công<br /> việc đơn giản, ngay cả cho những đại biểu/nghị<br /> sĩ lành nghề chuyên nghiệp. Bởi lẽ rằng phạm<br /> vi lập pháp của Nghị viện/ Quốc hội là quá<br /> rộng, không phải bất cứ một đại biểu nào cũng<br /> có khả năng đáp ứng tất cả các dự thảo luật của<br /> Quốc hội cần phải thảo luận thông qua. Ngay từ<br /> năm 1861 khi viết chuyên khảo nổi tiếng Chính<br /> thể đại diện, nhà triết học người Anh J. S. Mill<br /> đã cảnh cáo sự khó khăn của vấn đề lập pháp<br /> của Nghị viện:<br /> “Công việc làm luật cần thiết phải được<br /> thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải<br /> được rèn luyện và kinh qua thử thách, mà còn<br /> phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu<br /> lâu dài và cần cù; khó tìm thấy một loại công<br /> việc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy<br /> đối với người thực hiện. Giá như không có các<br /> lý do nào khác nữa, thì đây chính là lý do đó<br /> giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ<br /> được thực hiện tốt được, trừ khi có một tiểu ban<br /> ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không<br /> kém phần quan trọng là mỗi điều khoản của bộ<br /> luật cần phải đặt trong khuôn khổ với một sự<br /> nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được<br /> sự tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác.<br /> Những điều kiện như thế không sao có thể đáp<br /> ứng ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ<br /> phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản tại<br /> một hội đồng hỗn tạp.”[1- tr.163-164]<br /> Từ những phân tích xác đáng trên, ông đề<br /> xuất, Quốc hội/ Nghị viện tốt nhất là việc chỉ ra<br /> những người, một tập thể nào đáng được làm<br /> những việc khó khăn ấy và thay cho chức năng<br /> lập pháp không hoàn toàn thích hợp với mình,<br /> chức năng đích thực của Quốc hội đại diện là<br /> giám sát và kiểm soát Chính phủ, soi ánh sáng<br /> <br /> 13<br /> <br /> của tính công khai nên các hành vi cai trị buộc<br /> Chính phủ phải giải trình tất cả các hành vi ấy3.<br /> Những gì dự đoán của J.S. Mill cách đây<br /> gần 200 năm trước (1861) đã diễn ra gần đúng<br /> như hiện nay của các Quốc hội các nước tư bản<br /> phát triển. Quốc hội lập pháp tức là việc Quốc<br /> hội bàn bạc biểu quyết thông qua luật, nhưng<br /> phải theo đề nghị của Chính phủ - hành pháp,<br /> cái mà các nhà phân quyền không đưa ra được.<br /> Việc luật pháp của Quốc hội chỉ còn là việc<br /> thông qua các dự án luật đã được hành pháp<br /> chuẩn bị trước. Việc thông qua dự luật hay<br /> không thông qua dự luật, là 2 mặt của một vấn<br /> đề - quyền lập pháp. Nhất là trong điều kiện dự<br /> luật lại là do Chính phủ - hành pháp đệ sang.<br /> Hay còn được gọi là sáng quyền lập pháp thuộc<br /> về Chính phủ. Điều này về mặt hình thức có vẻ<br /> mâu thuẫn với nguyên tắc của học thuyết phân<br /> quyền mà các tác giả của nền dân chủ phương<br /> Tây đã và đang cổ súy. Điều này không chỉ xảy<br /> ra và đã được thực tế thừa nhận cho chế độ đại<br /> nghị, mà còn ở các nước được tổ chức theo mô<br /> hình Tổng thống cộng hòa Mỹ quốc, nơi mà<br /> hành pháp phải tách khỏi lập pháp đều do dân<br /> bầu ra và không phải chịu trách nhiệm trước lập<br /> pháp, mà sau này các nhà luật học và chính trị<br /> học quy kết và phân quyền cứng rắn khác với<br /> phân quyền mềm dẻo của chế độ đại nghị. Sự<br /> phân quyền cứng rắn thể hiện rõ ở quy định<br /> hành pháp - Tổng thống không được trình dự án<br /> luật trước Nghị viện như ở chế độ đại nghị.<br /> Nhưng trên thực tế hành pháp vẫn can thiệp<br /> sang lĩnh vực lập pháp.<br /> Sau bao nhiêu năm phủ nhận, hiện nay nhà<br /> nước Việt Nam cũng đang áp dụng những cái<br /> tinh túy của học thuyết này, bằng quy định rất<br /> sáng giá được nhiều nhà luật học Việt Nam ca<br /> ngợi: quyền lực nhà nước không những được<br /> phân công phân nhiệm mà còn tiến tới chỗ kiểm<br /> soát (Điều 2 của Hiến pháp mới). Bên cạnh đó<br /> không ít người còn cho rằng Quốc hội theo quy<br /> định của Hiến pháp mới không còn là cơ quan<br /> duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp [2- tr.<br /> 311]. Thực vậy vì ngôn từ của Hiến pháp mới<br /> đã bỏ mất từ “duy nhất.” Nhận định này có<br /> <br /> _______<br /> 3<br /> <br /> Xem, J. S. Mill: Sđd 171- 172<br /> <br /> 14<br /> <br /> N.D. Dung, N.T. Duong / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 1 (2019) 10-16<br /> <br /> phần hơi tả. Cho dù Quốc hội của Việt Nam<br /> cũng như nghị viện của các nước phương Tây<br /> không hoàn toàn thực hiện các khâu từ dự thảo<br /> cho đến thảo luận, tranh luận đến thông qua dự<br /> luật, nhưng quyền lập pháp của Quốc hội không<br /> thể chia sẻ với một chủ thể nào khác. Đó là một<br /> thành công của sự phát triển dân chủ của nhân<br /> loại, sau bao nhiêu đấu tranh từ lý thuyết cho<br /> đến thực tế mới giành được. Cho dù có bỏ mất<br /> sáng quyền lập pháp nhưng quyền bỏ phiếu<br /> thông qua dự luật vẫn không thể chủ thể nào có<br /> quyền thay thế được.<br /> Với tinh thần của lý thuyết Chủ nghĩa hợp<br /> hiến, một phần quan trọng của nhà nước pháp<br /> quyền, mọi quyền lực của nhà nước phải bị giới<br /> hạn. Bên cạnh quyền biểu quyết thông qua dự<br /> luật là quyền không biểu quyết dự luật thành<br /> luật. Trong trường hợp này quyền lập pháp trở<br /> thành quyền hãm lập pháp. Quốc hội trở thành<br /> cơ quan hãm quyền lập pháp có cơ sở ở nó:<br /> 2.1. Không phải Quốc hội lúc nào cũng có<br /> quyền lập pháp - Lập pháp về bất cứ vấn đề gì<br /> Trong xã hội có rất nhiều vấn đề Quốc hội<br /> không thể làm luật được. Nếu Quốc hội làm<br /> luật sẽ vi phạm quyền của tự nhiên. Trước hết<br /> đó là vấn đề nhân quyền. Con người có những<br /> quyền tuyệt đối do tạo hóa ban cho. Những<br /> quyền đó không do Quốc hội làm luật mà có.<br /> “Mục đích của tuyên ngôn nhân quyền là<br /> rút bớt một số chủ đề nhất định ra khỏi các cuộc<br /> tranh cãi chính trị, đặt chúng ra ngoài những đòi<br /> hỏi của một số nhóm người và quan chức nhà<br /> nước và phải coi chúng là những nguyên tắc<br /> pháp lý mà tòa phải áp dụng. Quyền con người<br /> được sống, được tự do ngôn luận, tự do báo chí,<br /> tự do tín ngưỡng và tự do hội họp và những<br /> quyền cơ bản khác. Chúng không thể là kết quả<br /> của bất kỳ cuộc đầu phiếu nào, hay của bất kỳ<br /> một cuộc bầu cử nào [3].<br /> Không những thế việc ngăn cấm Quốc hội<br /> lập pháp có ngay từ tu chính án đầu tiên của<br /> Hiến pháp năm 1787 của Hợp chủng quốc Hoa<br /> Kỳ: “Quốc hội không được ban hành một đạo<br /> luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm<br /> tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí<br /> <br /> và quyền của người dân được hội họp một cách<br /> hòa bình kiến nghị lên Chính phủ những điều<br /> bất bình của họ”[4]. Đó là những quyền tự do<br /> tôn giáo, tự do báo chí, tự do ngôn luận của họ.<br /> 2.2. Chỉ làm luật một khi cuộc sống cần<br /> Trước hết phải xuất phát từ nhận thức,<br /> chúng ta phải xoay lại cách làm luật hiện tại.<br /> Không phải cái gì cũng làm luật. Làm luật và<br /> sửa luật như kiểu vá xăm xe đạp. Cái xăm còn<br /> nguyên đang đi được thì cứ để thế mà đi, đừng<br /> chọc ra để vá. Cuộc sống đang bình yên thì hãy<br /> cứ để chúng bình yên, đang yên lành có giá trị<br /> của nó. Vì chúng được hình thành hàng nhiều<br /> năm không biết bao nhiêu những quy luật khách<br /> quan đã được tích tụ lại. Chỉ khi nào cuộc sống<br /> bình yên không được bảo đảm thì mới cần có<br /> tác động theo ý chí chủ quan của con người.<br /> Phải đưa cuộc sống vào pháp luật, mà không<br /> phải là ngược lại là đưa pháp luật vào cuộc<br /> sống như bấy lâu nay chúng ta vẫn thường nói<br /> hay vẫn được giật thành khẩu hiệu tuyên truyền.<br /> Vì vậy, việc làm luật phải bắt đầu các công<br /> việc nhận biết vấn đề của cuộc sống. Khi nhận<br /> biết được vấn đề, phải tìm ra nguyên nhân của vấn<br /> đề. Mỗi một nguyên nhân có nhiều biện pháp giải<br /> quyết. Luật pháp chỉ là biện pháp cuối cùng của<br /> việc giải quyết nguyên nhân của vấn đề.<br /> Sau đấy là việc những người quyết định số<br /> phận của văn bản pháp luật phải phụ thuộc vào<br /> người dân, người dân bầu ra, phải phụ thuộc<br /> vào mong muốn của người dân, thì lẽ đương<br /> nhiên người đó sẽ ban hành những đạo luật mà<br /> người dân cần đến. Làm luật như là bác sỹ chữa<br /> bệnh, trước khi kê đơn thuốc để chữa bệnh thì<br /> phải khám và bắt mạch. Nếu không chữa đúng<br /> bệnh. Bệnh tình không những không được chữa<br /> mà còn nặng thêm. Khi cuộc sống có vấn đề thì<br /> phải có nhiều cách giải quyết. Ví dụ như động<br /> viên, cung cấp tài chính, quy phạm đạo đức.<br /> Pháp luật chỉ cần giải quyết khi nào mà những<br /> biện pháp trên không giải quyết được. Cách làm<br /> như hiện nay cũng như trước kia của chế độ<br /> phong kiến tất cả phụ thuộc vào cấp trên, cuối<br /> cùng phụ thuộc vào nhà Vua, những gì xảy ra<br /> <br />