Xem mẫu

  1. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Phát triển CNHT để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu Lê Huyền Nga Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, CNHT Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để được kết nối, tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia. Tuy nhiên, do thiếu các doanh nghiệp “đầu tàu”, đủ khả năng dẫn dắt nên lĩnh vực CNHT còn kém phát triển. Chính vì vậy, đẩy nhanh việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực sản xuất… là giải pháp quan trọng giúp các doanh nghiệp CNHT trong nước có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khoảng trống của các doanh nghiệp năng lực của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đã cho thấy, CNHT trong nước còn nhiều hạn chế: số lượng ít, một trong những điểm yếu nhất năng lực sản xuất còn thấp, thiếu của kinh tế Việt Nam chính là nội Theo thống kê của Bộ Công nguồn lực và công nghệ để nâng lực của ngành sản xuất còn hạn Thương, Việt Nam hiện có 2.000 cao năng suất, nguồn nhân lực chế, phụ thuộc rất lớn vào các doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, chưa đáp ứng được yêu cầu. Các chuỗi cung ứng từ nước ngoài. linh kiện, trong đó chỉ có khoảng sản phẩm CNHT trong nước chủ CNHT kém phát triển khiến Việt 300 doanh nghiệp tham gia được yếu vẫn là linh kiện và chi tiết đơn Nam không tự chủ được về các vào mạng lưới sản xuất của các giản, với hàm lượng công nghệ yếu tố đầu vào của sản xuất, dẫn tập đoàn đa quốc gia. Số doanh trung bình và thấp, có giá trị nhỏ đến tình trạng phụ thuộc phần lớn nghiệp đang hoạt động trong trong cơ cấu giá trị sản phẩm. vào linh phụ kiện, nguyên vật liệu CNHT chiếm khoảng 4,5% tổng Hiện nay, do CNHT kém phát nhập khẩu, khiến giá trị gia tăng số doanh nghiệp của ngành công triển, các ngành công nghiệp chế của các ngành công nghiệp nội nghiệp chế biến, chế tạo và tạo biến, chế tạo của Việt Nam phụ địa rất thấp. việc làm cho hơn 600.000 lao động. Một số doanh nghiệp sản thuộc nhiều vào nguồn cung cấp Vài năm gần đây, ngành công xuất linh kiện của Việt Nam có nguyên phụ liệu, linh kiện đầu nghiệp chế biến, chế tạo đã năng lực tốt ở các lĩnh vực như: vào nhập khẩu, đặc biệt là các chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản xuất khuôn mẫu các loại; ngành công nghiệp chủ lực (điện doanh thu thuần sản xuất kinh linh kiện xe đạp, xe máy; linh tử, dệt may, da giày - túi xách, doanh của nền kinh tế, nhưng chỉ kiện cơ khí tiêu chuẩn; dây cáp sản xuất và lắp ráp ô tô...). Chính đóng góp khoảng gần 14% GDP, điện; linh kiện nhựa - cao su kỹ vì vậy, khi dịch bệnh COVID-19 giá trị gia tăng rất thấp so với các thuật; săm lốp các loại… Các sản xuất hiện và diễn biến phức tạp ngành công nghiệp khác. Số liệu phẩm này đã đáp ứng tốt nhu cầu tại các quốc gia cung ứng linh của Tổ chức hợp tác và phát triển trong nước và được xuất khẩu phụ kiện sản xuất chủ yếu cho kinh tế (OECD) cho thấy, 5 năm sang nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam như Trung Quốc, Hàn trở lại đây, trong cơ cấu giá trị gia Doanh nghiệp CNHT trong nước Quốc, Nhật Bản..., các ngành tăng các sản phẩm xuất khẩu của cũng ngày càng tích cực áp dụng công nghiệp trong nước đã gặp Việt Nam, giá trị gia tăng từ nước rất nhiều khó khăn trong việc bảo ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn, trong các tiêu chuẩn, công cụ quản lý đảm các yếu tố đầu vào sản xuất. khi tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa hiện đại vào sản xuất, chế tạo. Tuy nhiên, thực trạng chung Việc đánh giá tác động của đại vẫn còn thấp và chưa có nhiều của ngành CNHT là quy mô và dịch COVID-19 đến các ngành chuyển dịch đáng kể (2 mặt hàng 24 Số 4 năm 2021
  2. Diễn đàn khoa học và công nghệ xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là dệt may và điện tử có tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước lần lượt là hơn 50% và hơn 37%). Điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, mà còn liên quan đến phát triển công nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những hạn chế về nguồn lực để tổ chức thực hiện các chính sách. Ví dụ như, vẫn còn thiếu các chính sách phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được ưu tiên phát triển như điện tử, cơ khí, sản xuất nhiên với nguồn lực hỗ trợ có hạn, nghiệp trong nước. Trong điều và lắp ráp ô tô, dệt may, da giày… vẫn cần một quá trình dài để các kiện cạnh tranh khốc liệt từ các nhằm tạo thị trường cho các sản doanh nghiệp CNHT Việt Nam có doanh nghiệp FDI cũng như bối phẩm CNHT. Một số chính sách thể bứt phá, cạnh tranh được với cảnh đại dịch bệnh COVID-19, tuy đã được ban hành, nhưng các doanh nghiệp FDI cũng như việc xây dựng gói tín dụng ưu đãi vẫn chậm so với thực tiễn, chưa đáp ứng được các yêu cầu của có thời hạn với cơ chế vay vốn tạo thuận lợi tối đa cho phát triển khách hàng. thương mại được ngân sách nhà CNHT. Các chính sách ưu đãi đối nước cấp bù chênh lệch lãi suất Các chính sách tín dụng ưu với các dự án sản xuất sản phẩm tương tự như gói tín dụng phát đãi đối với doanh nghiệp CNHT CNHT vẫn chưa tạo được động triển nông nghiệp công nghệ cao được ra đời khá sớm, từ năm lực cho các doanh nghiệp nội địa. để phát triển các ngành công 2011. Tuy nhiên, các chính sách Số lượng doanh nghiệp CNHT nghiệp ưu tiên là rất cần thiết. tín dụng đã ban hành có hiệu Việt Nam được hưởng các ưu đãi quả và hiệu lực rất thấp, hầu như Sản phẩm CNHT trong nước còn ít ỏi so với các doanh nghiệp chưa hỗ trợ được cho các doanh còn đơn giản, hàm lượng công FDI. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp CNHT. Các doanh nghiệp nghệ trung bình và thấp, có giá nghiệp CNHT hiện nay được cụ CNHT vẫn chưa tiếp cận được trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản thể hóa tại Chương trình phát triển các nguồn vốn vay ưu đãi, khiến phẩm. Khả năng tự cung ứng các CNHT được Thủ tướng Chính cho khả năng mở rộng sản xuất, sản phẩm CNHT còn nhiều bất phủ phê duyệt năm 2017 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh còn cập. Tình trạng nhập siêu nguyên hỗ trợ các doanh nghiệp CNHT nhiều trở ngại, khó khăn. Hiện liệu, linh kiện, phụ tùng rất lớn, tỷ Việt Nam nâng cao năng lực sản nay, các doanh nghiệp FDI hoạt lệ nội địa hóa các ngành công xuất, quản trị doanh nghiệp, nâng động trong cùng lĩnh vực CNHT nghiệp còn thấp. Các sản phẩm cao chất lượng nguồn nhân lực, thường vay vốn từ công ty mẹ CNHT có hàm lượng công nghệ thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hoặc từ ngân hàng nước ngoài cao vẫn chủ yếu do các doanh nghiên cứu và phát triển, từ đó với lãi suất chỉ từ 1-3%, trong khi nghiệp FDI cung cấp. Các doanh nâng cao năng lực cạnh tranh đó các doanh nghiệp trong nước nghiệp CNHT Việt Nam còn nhiều của các doanh nghiệp CNHT Việt phải vay với lãi suất từ 8-10%, sự hạn chế về năng lực tổ chức quản Nam và tăng cơ hội tham gia sâu chênh lệch lớn này đã làm triệt lý sản xuất và công nghệ; thiếu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy tiêu sự cạnh tranh của các doanh nguồn lực để đổi mới; lĩnh vực 25 Số 4 năm 2021
  3. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ sản xuất khá giống nhau, cả về 2030, sản phẩm CNHT đáp ứng trị toàn cầu. trình độ, quy mô, công nghệ và 70% nhu cầu cho sản xuất, tiêu Ba là, thúc đẩy phát triển thị sản phẩm; chưa đủ năng lực dùng trong nội địa, chiếm khoảng trường nội địa và thị trường ngoài cung cấp linh kiện và phụ tùng 14% giá trị sản xuất công nghiệp. nước để tạo điều kiện phát triển đáp ứng các yêu cầu để tham gia Có khoảng 2.000 doanh nghiệp CNHT và các ngành công nghiệp sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. đủ năng lực cung ứng trực tiếp chế biến, chế tạo ưu tiên; tìm Đặc biệt, Việt Nam còn thiếu các cho các doanh nghiệp lắp ráp và kiếm, mở rộng các thị trường doanh nghiệp “đầu tàu”, đủ khả tập đoàn đa quốc gia trên lãnh ngoài nước trên cơ sở tận dụng năng dẫn dắt các lĩnh vực CNHT thổ Việt Nam. Để làm được điều các hiệp định thương mại tự do phát triển. Bên cạnh đó, việc đầu đó, vấn đề quan trọng là chúng FTA đã ký kết; triển khai các biện tư cho nghiên cứu và phát triển ta phải từng bước tự chủ nguồn pháp hỗ trợ các doanh nghiệp (R&D) của doanh nghiệp cũng nguyên - vật liệu, linh phụ kiện CNHT và công nghiệp chế biến, chưa được chú trọng do thiếu vốn cho sản xuất trong nước. Bên đầu tư, tiềm lực tài chính chưa đủ chế tạo ưu tiên tham gia hiệu quả cạnh đó, cũng cần có các giải mạnh và thiếu nguồn nhân lực kỹ các FTA... pháp nhất quán, gồm: thuật cao. Bốn là, xây dựng và vận hành Một là, xây dựng, hoàn thiện hiệu quả các trung tâm kỹ thuật Giải pháp cơ bản để phát triển CNHT và triển khai hiệu quả, đồng bộ hỗ trợ phát triển công nghiệp các cơ chế, chính sách đặc thù Nhằm tháo gỡ khó khăn, vùng và địa phương nhằm hỗ phát triển CNHT và các ngành vướng mắc về cơ chế, chính sách trợ các doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo ưu liên quan đến CNHT; cải thiện công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên phát triển, đảm bảo điều kiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tiên; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, thuận lợi cho phát triển CNHT. thu hút, đón dòng vốn đầu tư và nghiên cứu - phát triển, chuyển Tiếp tục thực hiện chính sách làn sóng dịch chuyển sản xuất giao công nghệ, nâng cao năng ưu đãi về lãi suất đối với doanh của các công ty đa quốc gia; lực cạnh tranh và năng suất, chất nghiệp CNHT và công nghiệp đồng thời tạo điều kiện thuận lợi lượng sản phẩm. chế biến, chế tạo; ưu tiên phát cho doanh nghiệp CNHT và công triển khi vay vốn ngắn hạn tại Năm là, tập trung nâng cao nghiệp chế biến, chế tạo phát tổ chức tín dụng. Nhà nước cần năng lực khoa học và công nghệ triển, nâng cao năng lực cạnh có cơ chế cấp bù chênh lệch lãi cho doanh nghiệp CNHT nhằm tranh, ngày 6/8/2020, Chính phủ suất (tối đa 5%/năm) đối với các tạo sự bứt phá về hạ tầng công đã ban hành Nghị quyết số 115/ khoản vay trung và dài hạn của nghệ, chuyển giao công nghệ, NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp để thực hiện nâng cao năng lực hấp thụ công phát triển CNHT với nhiều chính dự án sản xuất sản phẩm CNHT nghệ của doanh nghiệp CNHT. sách mới kỳ vọng sẽ tạo được “cú ưu tiên phát triển. huých” cho CNHT. Nghị quyết đặt Sáu là, phát triển nguồn nhân mục tiêu đến năm 2025 doanh Hai là, thu hút đầu tư hiệu quả lực, đặc biệt là nguồn nhân lực nghiệp Việt Nam có khả năng và thúc đẩy kết nối kinh doanh, chất lượng cao trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm CNHT liên kết giữa các doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, có tính cạnh tranh cao, đáp ứng Việt Nam với các doanh nghiệp chế tạo thông qua các chương được 45% nhu cầu thiết yếu cho đa quốc gia, các công ty sản xuất, trình, kế hoạch quốc gia về nâng sản xuất, tiêu dùng nội địa; chiếm lắp ráp trong nước và nước ngoài; cao tay nghề, thúc đẩy liên kết khoảng 11% giá trị sản xuất toàn xây dựng các khu CNHT tập giữa cơ sở đào tạo và doanh ngành công nghiệp; có khoảng trung để tạo cụm liên kết ngành; nghiệp ? 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực phát triển các ngành công nghiệp cung ứng trực tiếp cho các doanh sản xuất vật liệu nhằm tự chủ về nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa nguyên vật liệu đầu vào cho sản quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam, xuất, giảm phụ thuộc nguồn nhập trong đó doanh nghiệp trong khẩu, nâng cao vị trí của doanh nước chiếm khoảng 30%. Năm nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá 26 Số 4 năm 2021