Mot so yeu to chu quan va khach quan anh huong den ky nang giao tiep su pham cua giao vien mam non voi tre mau giao

  • 2 months ago
  • 0 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Ki nang giao tiep su pham cua giao vien mam non voi tre mau giao la su van dung kien thuc, kinh nghiem cua giao vien mam non vao thuc hien co hieu qua viec thiet lap moi quan he, trao doi thong tin ve nhan thuc tinh cam hanh dong va su dung cac phuong tien giao tiep voi tre mau giao trong nhung dieu kien xac dinh, huong toi hinh thanh phat trien nhan cach toan dien cho tre.

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : 0.22 M, số trang : 8 ,tên

Xem mẫu

Chi tiết

  1. 90 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ H NỘI MỘT SỐ SỐ YẾ YẾU TỐ TỐ CHỦ CHỦ QUAN V, KHÁCH QUAN ẢNH HƯỞ HƯỞNG ĐẾĐẾN KỸ KỸ NĂNG GIAO TIẾ TIẾP SƯ PHẠ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦ MẦM NON VỚ VỚI TRẺ TRẺ MẪ MẪU GIÁO GIÁO Vũ Thúy Hoàn Trường Đại học Thủ ñô Hà Nội Tóm tắ tắt: Kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm của giáo viên mầm non vào thực hiện có hiệu quả việc thiết lập mối quan hệ, trao ñổi thông tin về nhận thức tình cảm hành ñộng và sử dụng các phương tiện giao tiếp với trẻ mẫu giáo trong những ñiều kiện xác ñịnh, hướng tới hình thành phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Sự hình thành, phát triển cũng như biểu hiện của kĩ năng này ở mỗi giáo viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan: Nhận thức của giáo viên về kĩ năng giao tiếp sư phạm mầm non, về ñặc ñiểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo; kinh nghiệm nghề nghiệp; lòng yêu nghề mến trẻ; ý thức tu dưỡng, rèn luyện; bầu không khí tâm lí tập thể và phong cách quản lí của cán bộ quản lí. Từ khóa: khóa Kĩ năng giao tiếp, sư phạm, mầm non, yếu tố ảnh hưởng, trẻ mẫu giáo Nhận bài ngày 14.9.2017; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt ñăng ngày 15.9.2017 Liên hệ tác giả: Vũ Thúy Hoàn; Email: vthoan@daihocthudo.edu.vn 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo là một trong những kĩ năng quan trọng của người giáo viên mầm non khi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Bởi nếu kĩ năng giao tiếp của cô với trẻ không tốt, trẻ có thể sẽ chống ñối, không nghe lời cô hoặc sợ hãi khi giao tiếp với cô; từ ñó công tác chăm sóc giáo dục trẻ sẽ trở thành công việc thực sự khó khăn vất vả ñối với mỗi giáo viên. Nghiên cứu của các nhà tâm lí học trong và ngoài nước, ñặc biệt của Ngô Công Hoàn [5, 6, 7] và nhóm tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa [9] ñã chỉ ra rằng kĩ năng giao tiếp nói chung, kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo nói riêng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình rèn luyện và trong quá trình ñó, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan.
  2. TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 19/2017 91 2. NỘI DUNG Trên cơ sở nghiên cứu về kĩ năng, kĩ năng giao tiếp sư phạm, kĩ năng giao tiếp sư phạm mầm non, kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm của giáo viên mầm non vào thực hiện có hiệu quả việc thiết lập các mối quan hệ, trao ñổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành ñộng... và sử dụng các phương tiện giao tiếp với trẻ mẫu giáo trong những ñiều kiện xác ñịnh, hướng tới hình thành phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Như vậy, kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo không phải là những hành vi thao tác ñơn thuần, bởi nó ñược diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với con người, chứa ñựng những yếu tố, ñặc thù riêng. Chính vì thế trong quá trình hình thành và phát triển, nó luôn chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, có thể chia thành 2 nhóm: khách quan và chủ quan. Các yếu tố khách quan bao gồm nhận thức về kĩ năng giao tiếp, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, lòng yêu nghề mến trẻ, khả năng hiểu tâm lí trẻ, kiểu nhân cách (hướng nội, hướng ngoại) của giáo viên mầm non; các yếu tố chủ quan gồm khả năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, khả năng biểu lộ tình cảm, khả năng nhận thức, môi trường ñiều kiện làm việc, phong cách quản lí… Tính chất, vai trò quan trọng của các yếu tố này cũng như sự kết hợp hài hòa hay không hài hòa, ñồng bộ hay rời rạc... giữa chúng hoặc sẽ trở thành ñộng lực thúc ñẩy nhanh, hoặc ngược lại, kìm hãm sự hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo. Sau ñây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể hơn vai trò và tác ñộng của từng yếu tố. 2.1. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng ñến kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo 2.1.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về kĩ năng giao tiếp sư phạm mầm non Nhận thức là một trong 3 mặt hoạt ñộng tâm lí cơ bản của cá nhân: Nhận thức, thái ñộ, hành ñộng. Trong quá trình hoạt ñộng, con người phải phản ánh ñược ñối tượng và môi trường xung quanh, tức là nhận thức. Nhận thức là hoạt ñộng giúp con người nhận ra và sáng tỏ về bản chất, quan hệ và quy luật vận ñộng của ñối tượng, từ ñó có thái ñộ và hành ñộng ñúng ñắn. Hoạt ñộng nhận thức là tổ hợp nhiều hoạt ñộng cụ thể, với mức ñộ phản ánh khác nhau về ñối tượng. Mức thấp là sự tác ñộng của chủ thể lên ñối tượng bằng các giác quan. Mức cao là nhận thức lý tính, tức là sự phản ánh gián tiếp của chủ thể lên ñối tượng thông qua các hình ảnh, các biểu tượng cảm tính ñể ñưa ra khái niệm, phản ánh bản chất, các mối liên hệ phổ biến và quy luật vận ñộng của ñối tượng. Tác giả Lusier xem nhận thức của mỗi cá nhân trong một tổ chức nào ñó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
  3. 92 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ H NỘI thực hiện các kĩ năng giao tiếp, bởi nhận thức có ảnh hưởng trực tiếp ñến nhu cầu và hành vi của họ trong giao tiếp. Cũng từ ñó, tác giả nhấn mạnh ñến việc phải nâng cao nhận thức cho bản thân ñể có ñược sự nhận thức tích cực về công việc và môi trường thực hiện. Nhận thức của giáo viên về kĩ năng giao tiếp sư phạm, về vai trò, tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp sư phạm là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn ñến thực trạng kĩ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên. Kĩ năng giao tiếp sư phạm chính là chiếc cầu nối quan trọng giữa người giáo viên với trẻ, giúp trẻ tiếp nhận thông tin, trao ñổi cảm xúc, học tập bắt chước theo cô ñể từ ñó hình thành các hành vi ở trẻ. Nếu người giáo viên có nhận thức ñúng ñắn về kĩ năng giao tiếp sư phạm và tầm quan trọng của yếu tố này ñối với kết quả quá trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo thì họ sẽ không chỉ tập trung vào việc nắm vững chương trình, nội dung chăm sóc trẻ mà còn không ngừng rèn luyện ñể nâng cao kĩ năng khi giao tiếp với trẻ, ñể quá trình chăm sóc giáo dục ñạt mục ñích như ñã ñịnh. Nhận thức chính là cơ sở ñể người giáo viên có thái ñộ và hành vi ñúng ñắn, thực hiện sự thống nhất giữa ba mặt: nhận thức, thái ñộ, hành vi. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhận thức tới kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo, chúng tôi lưu ý các khía cạnh sau: − Nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm và các biểu hiện của kĩ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo. − Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của kĩ năng giao tiếp sư phạm ñối với hoạt ñộng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo. − Nhận thức của giáo viên mầm non về mục ñích, chức năng của giao tiếp sư phạm ñối với hoạt ñộng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo. 2.1.2. Kinh nghiệm nghề nghiệp Kĩ năng giao tiếp sư phạm ñược hình thành thông qua các giai ñoạn khác nhau trong quá trình hoạt ñộng nghề nghiệp. Vì vậy những bài học rút ra trong quá trình công tác sẽ giúp các giáo viên ứng xử linh hoạt, khéo léo hơn với trẻ. Điều ñó góp phần tạo nên môi trường thân thiện giữa cô và trẻ, và công tác chăm sóc giáo dục trẻ sẽ ñạt ñược kết quả tốt. Nói cách khác, kinh nghiệm thực tiễn trong việc giáo dục mầm non có ảnh hưởng không nhỏ ñến hiệu quả giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo. Kinh nghiệm thực tiễn trong việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo cũng là một yếu tố có ảnh hưởng nhất ñịnh ñến biểu hiện kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo. Những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn mà người giáo viên mầm non tự ñúc kết ñược trong quá trình làm việc sẽ tạo nền tảng ñể học vận dụng vào quá trình giao tiếp sư phạm, tạo hiệu quả cho quá trình giáo dục và hoàn thiện nhân cách trẻ
  4. TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 19/2017 93 mẫu giáo. Kinh nghiệm thường có ñược sau một quá trình, nghĩa là có sự liên quan ñến tuổi tác và mức ñộ tích cực tham gia hoạt ñộng nghề nghiệp của người giáo viên. Một giáo viên lớn tuổi chưa chắc ñã ứng xử tốt hơn, có kĩ năng giao tiếp tốt hơn giáo viên trẻ. Chỉ những giáo viên vừa có kinh nghiệm vừa có tâm với nghề, yêu nghề mến trẻ và ñược ñào tạo thường xuyên mới có ñược khả năng ứng xử, giao tiếp phù hợp, hiệu quả này. Tri thức, kinh nghiệm trong công việc và cuộc sống tạo cho giáo viên mầm non nền tảng ñể họ vận dụng vào quá trình giao tiếp sư phạm, tạo hiệu quả cho việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho trẻ mẫu giáo. Người giáo viên mầm non có kinh nghiệm sẽ biết lắng nghe, quan sát, yêu thương trẻ và thể hiện tình cảm yêu thương ñúng mực, biết cách kiềm chế cảm xúc của mình trong quá trình giao tiếp. Người giáo viên có kinh nghiệm và có tâm với nghề sẽ thực hiện quá trình sư phạm một cách khéo léo, biết lắng nghe và thể hiện tình cảm yêu thương ñúng mực, biết truyền ñạt và hướng dẫn trẻ phù hợp với nội dung chương trình giáo dục và ñặc ñiểm tâm lí trẻ. Khi nghiên cứu về vai trò và kinh nghiệm nghề nghiệp của người giáo viên mầm non, chúng tôi chú ý tới các mặt sau: − Kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt ñộng nghề nghiệp (tuổi nghề). − Kinh nghiệm trong giao tiếp với ñối tượng giáo dục (trẻ mẫu giáo). − Kinh nghiệm ñúc rút từ quá trình ñào tạo, tập huấn, rèn luyện về kĩ năng giao tiếp ở các lớp ñào tạo (trong trường chuyên nghiệp, các khóa bồi dưỡng, các khóa tập huấn...). Tóm lại, kinh nghiệm nghề nghiệp ñược xem là một yếu tố quan trọng tác ñộng ñến kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo. 2.1.3. Lòng yêu nghề, mến trẻ Lòng yêu nghề, mến trẻ là một trong những phẩm chất ñạo ñức cao quý của người Việt Nam nói chung; ñối với những người làm nghề giáo, ñặc biệt là giáo viên mầm non thì lòng yêu trẻ là ñiều kiện tiên quyết ñể có thể làm một người giáo viên. Nhà giáo dục vĩ ñại Comenxki ñã nhấn mạnh: “Anh không thể như một người cha thì cũng không thể như một người thầy”. Muốn dạy người, trước tiên phải yêu người. Càng yêu trẻ bao nhiêu càng làm tốt chức trách, nhiệm vụ của một người thầy bấy nhiêu. Lòng yêu trẻ của người giáo viên mầm non ñược thể hiện trong thái ñộ quan tâm chu ñáo ñầy thiện ý và ân cần với trẻ, kể cả những trẻ bình thường và trẻ có những biểu hiện bất bình thường trong tâm lí và sức khỏe. Những cô giáo mầm non yêu nghề, mến trẻ luôn có tinh thần sẵn sàng làm việc hết mình; họ có thể hy sinh những lợi ích cá nhân vì lợi ích của trẻ, của nghề nghiệp. Chính cái tâm - lòng nhân ái, cái ñức “như mẹ hiền” vốn là phẩm chất nhân cách cốt lõi - của nhà giáo ñã tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh, ñầy nhân ái yêu thương của nhà trường và diện mạo nhân cách trẻ sau này.
  5. 94 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ H NỘI Tuy nhiên, không thể ñồng nhất lòng yêu nghề mến trẻ với sự ủy mị, mềm yếu, thiếu phương pháp giáo dục khoa học, thiếu yêu cầu cao và nghiêm khắc với trẻ. Tình yêu thương trẻ, coi trẻ như con, cô giáo như mẹ hiền và tâm huyết với nghề là những cung bậc tình cảm thiêng liêng và cao quý nhất của con người nói chung và của các thầy cô giáo nói riêng. 2.1.4. Ý thức tu dưỡng, rèn luyện tri thức, nghiệp vụ Tự ý thức, tự rèn luyện là một yếu tố rất quan trọng, quyết ñịnh sự thành công hay thất bại của một hoạt ñộng nào ñó. Nó không chỉ giúp cá nhân duy trì một kinh nghiệm hay kĩ năng nào ñó mà còn giúp cho những tố chất, kĩ năng sẵn có ở cá nhân ñược phát triển và ngày càng nâng cao. Kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non là một phẩm chất nhân cách, không tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình ñào tạo, kết hợp với ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của người giáo viên mầm non. Kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo là kĩ năng mềm, hiện các chương trình bồi dưỡng hàng năm cho giáo viên thường chưa có nội dung này. Vì vậy, việc tự bồi dưỡng, rèn luyện ñúc kết kinh nghiệm qua quá trình chăm sóc giáo dục trẻ là một hoạt ñộng thiết yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt ñộng chăm sóc giáo dục trẻ nói chung, kĩ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo nói riêng của giáo viên. 2.2. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng ñến kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo 2.2.1. Môi trường và ñiều kiện làm việc Môi trường, ñiều kiện làm việc là một phạm trù rộng bao gồm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp ñến hoạt ñộng và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của mỗi cá nhân, cán bộ, công chức (bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài). Môi trường và ñiều kiện làm việc ñối với giáo viên mầm non bao gồm: cơ sở vật chất của trường, tinh thần, chế ñộ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh ñạo ñối với giáo viên và giữa các giáo viên với nhau, phong cách quản lí của nhà trường. Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến sự phát triển năng lực chuyên môn nói chung, kĩ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên với trẻ mẫu giáo nói riêng. Thực tế cho thấy không ít tổ chức, ñơn vị có môi trường làm việc không tốt dẫn ñến những hậu quả có thể nhìn thấy ñược như: chất lượng, hiệu quả làm việc kém; mất ñoàn kết và năng lực chuyên môn không ñược phát triển. Một môi trường, ñiều kiện làm việc tốt sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi cho người giáo viên mầm non không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn qua các khóa ñào tạo, bồi dưỡng thường xuyên kèm theo những chế ñộ chính sách ñãi ngộ hợp lí như hỗ trợ học phí, tạo ñiều kiện về thời gian cho
  6. TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 19/2017 95 giáo viên có thể vừa học vừa làm yên tâm công tác. Thông qua ñào tạo, bồi dưỡng nhà trường cũng sẽ có thêm ñội ngũ cán bộ có ñủ năng lực, trình ñộ chuyên môn, bản lĩnh chính trị ñể ñảm ñương nhiệm vụ. Mối quan hệ giữa lãnh ñạo và giáo viên là vấn ñề hết sức quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ ñến chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung, tới kĩ năng giao tiếp của người giáo viên mầm non nói riêng. Người lãnh ñạo phải sáng suốt, công minh, biết lắng nghe, biết kìm chế trong mọi hoàn cảnh; luôn giữ ñược mối quan hệ mật thiết ñối với giáo viên. Quan hệ này nếu không tốt sẽ không chỉ tạo nên những khoảng cách không ñáng có giữa giáo viên và người quản lí mà còn gây nên những bức xúc, khó chịu ở người giáo viên, làm cho lòng yêu nghề, mến trẻ của họ bị ảnh hưởng, giảm sút. Tóm lại, môi trường và ñiều kiện làm việc có liên quan chặt chẽ ñến tinh thần, thái ñộ và kết quả làm việc của người giáo viên mầm non. Nếu môi trường làm việc không thuận lợi, không thoải mái, sẽ gây ức chế cho người giáo viên mầm non, dẫn ñến chất lượng giáo dục sẽ bị hạn chế. Elton Mayo ñã cho rằng, giao tiếp của mỗi nhân viên phụ thuộc vào sự quan tâm của cơ quan dành cho họ, họ sẽ cố gắng nỗ lực trong công việc cũng như duy trì và cải thiện các quan hệ trong tổ chức chừng nào mà họ vẫn còn cảm nhận ñược những cơ hội và giá trị mà tổ chức ñem ñến cho mình. 2.2.2. Phong cách quản lí của cán bộ quản lí Phong cách quản lí của cán bộ quản lí, của một tổ chức là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn ñến kĩ năng giao tiếp của các cá nhân trong tổ chức ñó. Phong cách quản lí trong trường mầm non bao gồm toàn bộ hệ thống các phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng với hành ñộng tương ñối bền vững của quản lí trường mầm non. Theo Điều lệ trường mầm non, giáo viên mầm non là những cá nhân ñược trang bị kiến thức phổ thông và ñược ñào tạo về kiến thức chuyên ngành mầm non, bao gồm các tri thức và kĩ năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Họ là bộ phận, là nhóm người có tri thức, ñảm bảo ñộ tin cậy trong chuyên môn ñể thực hiện nhiệm vụ theo quy ñịnh ñối với một giáo viên mầm non. Đây là lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu, kế hoạch của nhà trường nhằm giáo dục phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Giáo viên mầm non chính là người mẹ thứ hai của trẻ, vừa là cô dạy trẻ, vừa là mẹ dỗ trẻ ñể mang lại cho trẻ cảm giác an toàn, tự tin như ở trong gia ñình. Trong quá trình giao tiếp với trẻ, người giáo viên mầm non sẽ chịu sự chi phối bởi phong cách quản lí của hiệu trưởng, của nhà trường. Phong cách quản lí ñộc ñoán hoặc tự do dân chủ của người quản lí, của hệ thống quản lí sẽ tác ñộng ñến tâm lí của người giáo viên, làm hình thành hay ñem ñến cho họ trạng thái vui vẻ yêu nghề yêu trẻ hoặc ngược lại. Thực tế ñã cho thấy, nếu phong cách quản lí của lãnh ñạo trường mầm non phù hợp, ñáp
  7. 96 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ H NỘI ứng ñược nhu cầu mong muốn của người giáo viên thì họ sẽ tâm huyết với nghề hơn, toàn tâm toàn ý với công việc chăm sóc giáo dục trẻ, giao tiếp ứng xử với trẻ bằng toàn bộ năng lực và sự yêu thương của mình. Ngược lại, khi phong cách quản lí của nhà trường bất nhất, tồn tại nhiều bất cập, sẽ dẫn ñến tình trạng làm việc không tập trung, không yêu nghề mến trẻ, không gắn bó và khi ñó, quá trình giao tiếp của giáo viên với trẻ cũng gặp nhiều khó khăn, mục tiêu giáo dục trẻ mầm non không thể hoàn thành. 3. KẾT LUẬN Sự hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan. Mỗi yếu tố ñều có vai trò và ảnh hưởng nhất ñịnh ñến phẩm chất, năng lực, trình ñộ, kĩ năng giao tiếp của người giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo. Việc nhận thức rõ các yếu tố, ñánh giá mức ñộ ảnh hưởng của chúng sẽ góp phần ñịnh hướng cho việc rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo trong thực tế hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, ñáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện ñại. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Crucchetxki V.A (1981), Những cơ sở của tâm lí học sư phạm, tập 1,2, - Nxb Giáo dục, Hà Nội 2. Hồ Ngọc Đại (2012), Nghiệp vụ sư phạm hiện ñại, tập 1,2, - Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 3. Nguyễn Văn Đính (1997), Giáo trình giao tiếp và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch, - Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 4. Gônôbôlin Ph.N (1976), Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên, - Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Ngô Công Hoàn (1987), Giao tiếp sư phạm, - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. 6. Ngô Công Hoàn (1992), Một số vấn ñề tâm lí học về giao tiếp sư phạm, - Nxb Vụ Giáo viên. 7. Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử sư phạm (Dùng cho giáo viên mầm non), - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 8. Piaget (1986), Tâm lí học và giáo dục học, - Nxb Giáo dục, Hà Nội. 9. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa (2003), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, - Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  8. TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 19/2017 97 SOME OBJECTIVE FACTORS AND SUBJECTIVE AFFECT THE PEDAGOGICAL COMMUNICATION SKILLS OF PRESCHOOL TEACHERS WITH KINDERGATES Abstract: Abstract The pedagogical communication skills of preschool teachers with kindergarten children is the application of knowledge and experience of preschool teachers to effectively establish relationships and exchange information on awareness of active emotions and the use of means of communication with pre-school children in defined conditions, towards the development of comprehensive personality development for children. The formation, development and manifestation of this skill in each teacher are influenced by many subjective and objective factors: Teachers' perception of early childhood communication skills, mental characteristics pupil physiology; Professional experience; Love for young love; Consciousness training, training; The atmosphere of psychosocial and managerial style of managerial staff. Keywords: Keywords Communication skills, pedagogy, pre-school, influencing factors, kindergaten children.

Download

Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ