Một số kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học làm văn nghị luận

  • 1 month ago
  • 0 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của chương trình Làm văn ở phổ thông. Để học tốt thể loại này, người học không chỉ có vốn kiến thức vững chắc về thể loại mà còn phải nắm vững các kĩ năng làm văn nghị luận.

Thông tin tài liệu

Loại file: PDF , dung lượng : 1.01 M, số trang : 4 ,tên

Xem mẫu

Chi tiết

  1. VJE Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 46-48; 45 MỘT SỐ KĨ NĂNG CƠ BẢN CẦN RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN Phạm Khánh Dương - Nghiên cứu sinh K36, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Ngày nhận bài: 18/6/2019; ngày chỉnh sửa: 20/7/2019; ngày duyệt đăng: 05/8/2019. Abstract: The argumentative text is one of the important contents of the writing program in high school. In order to study this genre well, learners not only have knowledge of genre but also have to master the skills of the argumentative writing. The training of some basic skills will contribute to developing the competency of writing argumentative text for high school students today. Keywords: Skills, argumentative writing, competency of writing argumentative text. 1. Mở đầu Như vậy, có thể thấy, kĩ năng là năng lực của con Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước người đạt được ở mức sơ giản dựa trên cơ sở nhận thức chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang khoa học. Nó được bộc lộ thông qua việc con người vận tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo được điều dụng những kiến thức đã có vào giải quyết một nội dung đó, phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền hoặc một yêu cầu nào đó. Nói cách khác, kĩ năng của con thụ một chiều” sang cách dạy học, cách vận dụng kiến người chính là khả năng con người thực hiện một hành thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm động nào đó có tính chất kĩ thuật, được rèn luyện thông chất của người học. Nói cách khác, rèn luyện kĩ năng cho qua hoạt động luyện tập thực hành. học sinh (HS) trong dạy học có vai trò quan trọng trong Cũng nói về kĩ năng, nhà tâm lí Pêtrôvxki nhấn mạnh: phương pháp giáo dục hiện đại. “Kĩ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, tạo Đối với dạy học Làm văn, môn học có tính chất thực khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ hành, yêu cầu về rèn luyện kĩ năng luôn được coi trọng. trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện thay Kĩ năng làm văn được xem là thước đo năng lực ngôn đổi” [3; tr 88]. Theo đó, kĩ năng được xem xét ở hai ngữ, khả năng tạo lập văn bản, khả năng tư duy, sự phát phương diện: khả năng thực hiện một hành động nào đó triển nhân cách của HS... sau một giai đoạn học tập Tiếng trong điều kiện quen thuộc và khả năng thực hiện hành Việt và Văn học. Ở cấp trung học phổ thông (THPT) hiện động một cách thành thạo, tự động, linh hoạt, sáng tạo. nay, tri thức về văn nghị luận là một trong những tri thức Việc hình thành kĩ năng phải thực hiện trải qua 2 giai then chốt. Việc rèn luyện kĩ năng trong dạy học Làm văn đoạn: hình thành khả năng thực hiện hành động và rèn nghị luận cho HS là quan trọng và cần thiết. Ở bài viết luyện khả năng đó thành năng lực riêng của mỗi cá nhân. này, chúng tôi bàn đến việc hình thành và rèn luyện một 2.1.2. Rèn luyện kĩ năng trong dạy học số kĩ năng cơ bản trong làm văn nghị luận cho HS, gồm: Về kĩ năng học tập: Devine (1987) xác định kĩ năng kĩ năng sử dụng lập luận, kĩ năng sử dụng các thao tác học tập là một chiến lược học, là công cụ quan trọng của lập luận (TTLL) và kĩ năng kết hợp các TTLL. hoạt động học tập. Ông cho rằng, hệ thống kĩ năng học 2. Nội dung nghiên cứu tập không đơn thuần chỉ là tập hợp của các kĩ năng thành 2.1. Kĩ năng và rèn luyện kĩ năng trong dạy học phần mà còn bao gồm một hệ thống các quy trình sử 2.1.1. Khái niệm ‘Kĩ năng” dụng tương ứng, nhờ vậy, hiệu quả học tập của HS được Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, cải thiện [4]. các nhà khoa học đều nhận thấy tầm quan trọng của kĩ Trong quá trình dạy học, các nhà khoa học khẳng năng. Theo Từ điển tiếng Việt, “kĩ năng là khả năng vận định việc rèn luyện kĩ năng học tập cho HS là rất quan dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực trọng. Để quá trình đó đạt hiệu quả, chủ thể phải thực nào đó vào thực tế” [1; tr 426]. Tâm lí học dạy học cho hiện các hoạt động theo trình tự vận động hợp quy luật rằng: “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái của nó. Con đường hình thành kĩ năng học tập vì thế phải niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một trải qua các bước: nhiệm vụ mới, là khả năng hay năng lực của chủ thể thực - Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hiện thành thạo một hay một chuỗi các hành động trên hành động cần thực hiện. Đây là bước trang bị những cơ sở hiểu biết nhằm tạo ra kết quả mong đợi” [2; tr 109]. hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thành kĩ năng. 46 Email: kduong.van@gmail.com
  2. VJE Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 46-48; 45 - Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu. Đây chính dẫn tới kết luận. Kết luận lập luận là điều rút ra được sau là bước theo dõi kĩ lưỡng các động tác thực hiện hành khi đã giải thích, phân tích và chứng minh trong quá trình động, đối chiếu với lí thuyết, từ đó hình thành kĩ năng. lập luận. Đây là cái đích của một lập luận, là điều người - Bước 3: Luyện tập. Trên cơ sở bước 2, con người viết, người nói muốn người đọc chấp nhận. Cách thức lập tiến hành luyện tập, hoàn thiện kĩ năng, phát triển thành luận là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo năng lực riêng của từng cá nhân. những cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận. Như vậy, khi tiến hành lập luận, chỉ Trong quá trình này, ở mỗi giai đoạn, giáo viên (GV) khi nào người viết, người nói xác định thật rõ được mối tìm cách tổ chức, hướng dẫn HS đi từ cái chưa biết, chưa quan hệ giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận cứ với kết có tới những nội dung mà các em biết và biến những kiến luận thì khi ấy người nói, người viết mới có thể lựa chọn thức ấy thành sử dụng kĩ năng, kĩ xảo cho riêng mình, từ được một cách thức lập luận phù hợp. đó hình thành, bồi dưỡng nhân cách cho HS. Đối với quá GV cần rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng lập luận trình dạy học Làm văn, đây là con đường GV giúp HS khi tiến hành làm văn nghị luận. Theo đó, để có kĩ năng hình thành, phát triển những kĩ năng, kĩ xảo sử dụng lời này, ngoài việc trang bị cho các em hệ thống lí thuyết nói vào giao tiếp. hoàn chỉnh về lập luận, những hiểu biết nhất định về các 2.2. Các kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho học sinh yếu tố hình thành lập luận: luận điểm, luận cứ, luận trong dạy học làm văn nghị luận chứng..., GV cần hình thành cho HS cách tổ chức lập Yêu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình dạy học Làm văn luận. Để xây dựng lập luận trong văn nghị luận, HS cần là hình thành và rèn luyện những kĩ năng cơ bản và cần xác định được luận điểm chính; tìm các luận cứ (lí lẽ và thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi sản sinh lời bằng chứng) thuyết phục và vận dụng các phương pháp nói. Theo đó, dạy học Làm văn chính là quá trình HS “có lập luận hợp lí dùng trong phương thức nghị luận. Nói được các kĩ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình cách khác, đó là những kĩ năng giúp HS có thể lập trình bằng ngôn ngữ đó để suy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương thức và giao tiếp” [5; tr 234]. Cũng bởi thế, nội dung tri tiện ngôn ngữ khi biểu đạt nội dung nghị luận. thức của Làm văn đều hướng tới việc trang bị cho các em 2.2.2. Kĩ năng sử dụng thao tác lập luận những kĩ năng cần thiết phục vụ cho việc tạo lập văn bản. Trong văn nghị luận, TTLL được xem là hệ thống kĩ Để đạt được điều đó, trong mọi khâu, mọi hoạt động của năng khi tiến hành hành động lập luận. Bản chất của nó quá trình dạy học, GV đều phải hướng tới việc hình thành là trang bị cho HS những hiểu biết và cách tổ chức lập và phát triển kĩ năng cho HS. Đối với Làm văn nghị luận, luận khi biểu đạt nội dung nghị luận. Trang bị hệ thống việc rèn luyện kĩ năng trong dạy học là yêu cầu quan trọng kiến thức về TTLL là hình thành cho HS kĩ năng thiết đặt ra đối với GV và HS trong quá trình lĩnh hội tri thức và yếu về cách tổ chức lập luận, từ đó giúp các em biết vận thực hành. Theo chúng tôi, việc rèn luyện kĩ năng trong dụng kĩ năng ấy vào thực tế tạo lập văn bản của bản thân. dạy học Làm văn nghị luận hướng đến rèn luyện kĩ năng TTLL là những động tác được người viết thực hiện sử dụng lập luận, rèn luyện kĩ năng sử dụng các TTLL, rèn nhằm tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện dụng luyện kĩ năng kết hợp các TTLL. ý riêng của bản thân khi nghị luận. Nói cách khác, TTLL 2.2.1. Kĩ năng sử dụng lập luận giúp người viết định hướng và tổ chức những nội dung Trong chương trình Ngữ văn THPT, đối với Làm văn cần trình bày khi lập luận. nghị luận, tri thức về lập luận là then chốt, vì vậy hình Rèn luyện kĩ năng sử dụng các TTLL trước hết và quan thành năng lực lập luận cho HS là điều quan trọng, cần trọng nhất là phải qua thực hành giúp cho HS nắm được thiết. Lập luận trong văn nghị luận là hành động ngôn các phương tiện, phương thức để thực hiện tổ chức lời nói ngữ giúp cho người tạo lập biểu đạt nội dung nghị luận theo những mục đích nhất định. Qua thực hành, HS sẽ có sâu sắc, đầy đủ, chính xác. Nó không chỉ là một câu, một điều kiện vận dụng, sử dụng và bộc lộ con người các em đoạn mà là hành động được người nghị luận thực hiện trong những sản phẩm cụ thể. Muốn hoạt động tương tác trong toàn bộ văn bản. “Lập luận là đưa ra những lí lẽ, ấy đạt hiệu quả, GV cần phải đặt chủ thể HS trong mối dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tương quan giữa ngôn ngữ với lời nói. Bởi lẽ, ngôn ngữ tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến với một được xem như phương tiện hình thành và thể hiện ý, còn kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người lời nói được xem như phương thức hình thành và thể hiện viết, người nói muốn đạt tới” [6; tr 10-11]. Mỗi lập luận ý nhờ ngôn ngữ trong quá trình hoạt động lời nói của cá thường bao gồm 3 yếu tố: luận cứ lập luận, kết luận lập nhân. Như vậy, năng lực nhận thức, suy nghĩ và cả những luận, cách thức lập luận; trong đó, luận cứ lập luận là kĩ năng của HS được bộc lộ một cách đầy đủ nhất trong những lí lẽ, dẫn chứng dùng để làm chỗ dựa, làm cơ sở các sản phẩm cụ thể - trong lời nói, trong văn bản. 47
  3. VJE Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 46-48; 45 Vì thế, muốn tổ chức rèn luyện hoạt động lời nói nói viết có thể tạo ra cách diễn đạt chính xác, phù hợp với chung, rèn luyện kĩ năng sử dụng các TTLL nói riêng, GV các chân lí khách quan, khoa học, qua đó gây dựng sự tin cần quan tâm tới những yêu cầu cũng như các mức độ đạt tưởng ở phía người tiếp nhận. Yêu cầu cần thiết đối với được trong quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của người tạo lập là phải căn cứ vào mục đích, đối tượng nghị mỗi người. Theo đó, việc hình thành kĩ năng sử dụng các luận để lựa chọn và kết hợp các TTLL cho phù hợp. HS TTLL có thể được cụ thể theo các giai đoạn sau: cần có kĩ năng kết hợp các TTLL khi làm văn nghị luận. - Giai đoạn 1: GV định hướng cho HS nắm được Để có kĩ năng này, cần tuân theo trình tự sau: phương thức thực hiện TTLL. Việc làm này nhằm trang - Giai đoạn 1: Muốn triển khai nội dung cần nghị bị cho các em những hiểu biết cơ bản về TTLL (về mục luận, HS phải xác định rõ luận điểm chính. Đây là khâu đích, yêu cầu, về cách thực hiện TTLL). không thể thiếu được trong quá trình tạo lập văn bản, bởi - Giai đoạn 2: Sau khi đã tác động bên ngoài, GV tổ qua đó, người nói, người viết có cơ sở thực tế định hướng chức cho HS luyện tập cách thực hiện TTLL. Đây chính nội dung cần trình bày. là quá trình HS quan sát, tập vận dụng và rèn luyện kĩ - Giai đoạn 2: Từ luận điểm đã được xác định, HS năng sử dụng TTLL. Giai đoạn này được tiến hành theo lựa chọn và sử dụng các TTLL để tổ chức lập luận. Cần các công việc cụ thể: trước hết, GV hướng dẫn HS xác có sự kết hợp các TTLL một cách hợp lí để làm rõ nội định mục đích nghị luận (xác định luận điểm cần nghị dung nghị luận. Có thể gợi ý một số bước cụ thể như sau: luận); tiếp theo, GV hướng dẫn cho HS cách thực hiện Trước hết, người viết sử dụng TTLL giải thích để lí TTLL; sau đó, GV tổ chức cho HS luyện tập. giải nội dung, ý nghĩa của luận điểm. Nhờ TTLL này, - Giai đoạn 3: GV tạo điều kiện để HS củng cố nhận người viết có thể cung cấp những hiểu biết cơ bản về đối thức và biến những kĩ năng ấy thành cái riêng, thành năng tượng nghị luận, qua đó, gây dựng cơ sở khoa học để tiến lực lập luận của chính bản thân HS. hành bàn luận. Sau khi giải thích nội dung, ý nghĩa luận Quá trình hình thành và rèn luyện kĩ năng sử dụng điểm, người viết chia nội dung của luận điểm thành các TTLL chủ yếu được thực hiện trong điều kiện học tập ở nhà khía cạnh nhỏ. Việc phân tách nội dung luận điểm cũng trường một cách có chủ định, gắn liền với ý thức học tập của cần căn cứ vào nội dung ý nghĩa đã được giải thích trước chủ thể HS. Việc hình thành và phát triển các kĩ năng ngôn đó. Quá trình phân tách được thực hiện nhằm dẫn dắt ngữ thường bắt đầu từ thấp đến cao, từ phân tích đến tổng người đọc tiếp cận với bản chất của nội dung được bàn hợp, từ vận dụng tới sáng tạo. Theo đó, việc rèn luyện các luận. Khi phân tích nội dung nghị luận, người viết có thể năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực lập luận nói riêng kết hợp giải thích để xác định đặc trưng của từng phương cũng phải thực hiện theo đúng các cấp độ đó. diện bằng các cách như chỉ ra bản chất, nêu định nghĩa, Tuy nhiên, khi hình thành cho HS những hiểu biết về hay thông qua các mối quan hệ nhân quả của chúng. TTLL, GV cần phải có các giải pháp khoa học vì đó là kĩ Không chỉ kết hợp với TTLL giải thích, người viết còn có năng khó và trừu tượng. Muốn HS sử dụng được các thể kết hợp TTLL phân tích với TTLL chứng minh để TTLL khi nghị luận, giải pháp hữu hiệu nhất là khái quát đánh giá tính chính xác của từng yếu tố, từng phương diện. thành các bước (tương ứng với các động tác) cụ thể, bởi Khi lập luận, người tạo lập nếu muốn chứng minh khi khái quát thành các bước, những kiến thức trừu tượng tính đúng sai của nội dung nghị luận, còn có thể kết hợp trở nên cụ thể, dễ nhận thấy, dễ vận dụng. Cơ sở để xác giữa TTLL chứng minh và TTLL bác bỏ. TTLL chứng định các bước thực hiện TTLL được chúng tôi chọn là minh là cách người viết dùng lí lẽ, dẫn chứng để khẳng luận điểm, luận cứ, luận chứng - các yếu tố của lập luận. định tính đúng đắn của nội dung. Tuy nhiên, khi gặp Đó là những kiến thức HS đã được trang bị ở bậc trung những nội dung chưa chính xác, người tạo lập phải tìm học cơ sở và hơn nữa, trong đoạn, bài văn nghị luận, cấu cách chỉ ra chỗ sai, từ đó dẫn người tiếp nhận đi tới nhận trúc lập luận được biểu hiện cụ thể bởi các yếu tố đó. Tuy thức đúng cho nội dung được bàn luận. Hai TTLL này nhiên, mỗi TTLL lại được thực hiện theo một cách riêng. được người viết thực hiện kết hợp với nhau khi muốn Vì vậy, khi hình thành kĩ năng sử dụng TTLL, GV cần nhấn mạnh tính đúng đắn của nội dung nghị luận và qua linh hoạt trong hướng dẫn HS thực hiện ở các bước cụ đó tác động tới nhận thức của độc giả. thể cho từng TTLL. Không chỉ vậy, trong quá trình lập luận, người viết 2.2.3. Kĩ năng kết hợp các thao tác lập luận còn có thể kết hợp TTLL phân tích và TTLL so sánh. Hai Trong văn bản nghị luận, mỗi TTLL có đặc điểm TTLL này khi kết hợp với nhau sẽ giúp người viết vừa riêng và được sử dụng nhằm một mục đích, một dụng ý xác định các phương diện của nội dung nghị luận, vừa riêng của người viết. Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLL chỉ ra nét chung và riêng của từng yếu tố, tạo ra sự sinh lại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong việc tường minh động, hấp dẫn cho lời văn nghị luận. nội dung bàn luận; và khi kết hợp chúng với nhau, người (Xem tiếp trang 45) 48
  4. VJE Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 41-45 mà HS có thể học tập khi chẳng may phải ở vào tình huống MỘT SỐ KĨ NĂNG CƠ BẢN… tương tự trong cuộc sống. (Tiếp theo trang 48) 3. Kết luận Như vậy, qua các văn bản tự sự từ dân gian đến trung đại, hiện đại trong chương trình Ngữ văn THCS hiện hành Tóm lại, một bài văn nghị luận nói chung luôn là sự chứa đựng rất nhiều tình huống truyện có khả năng phát kết hợp một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn các TTLL; triển KN tự nhận thức cho HS. Vấn đề là GV cần phải biết trong đó, tuỳ theo yêu cầu của đề bài, căn cứ vào vấn đề lựa chọn và xác định được những tình huống phù hợp để nghị luận được nêu ra trong bài mà có sự lựa chọn và sử HS liên hệ, trải nghiệm. Bởi việc được nếm trải qua những dụng kết hợp các thao tác. Rèn luyện kĩ năng kết hợp các tình huống, nhất là những tình huống éo le trong các văn bản TTLL trong làm văn nghị luận vì thế rất quan trọng và tự sự không chỉ giúp các em hiểu rõ hơn về văn bản mà còn cần thiết cho HS THPT. giúp các em có thêm những khám phá thú vị về chính bản 3. Kết luận thân mình, tự nhận thức sâu sắc hơn về khả năng vượt khó Dạy học hướng đến rèn luyện kĩ năng, hình thành của chính mình. Đây cũng là môi trường thuận lợi để HS năng lực và phẩm chất người học đang trở thành xu thế phát triển các KN quan trọng khác như: KN giao tiếp, KN tất yếu của giáo dục hiện nay. Phương pháp dạy học theo chế ngự cảm xúc, KN làm việc nhóm, KN tư duy sáng tạo,... quan điểm này không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt và góp phần phát triển tư duy sáng tạo ở các em. động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực, kĩ năng giải quyết vấn đề. Trong dạy học Làm văn nghị luận, ngoài Tài liệu tham khảo việc trang bị cho HS hệ thống lí thuyết về văn nghị luận, [1] Phạm Lê Liên (chủ biên, 2015). Từ điển tiếng Việt GV cần tiến hành rèn luyện cho HS các kĩ năng về sử thông dụng. NXB Hồng Đức. dụng lập luận, kĩ năng sử dụng TTLL và kĩ năng sử dụng [2] Vũ Dũng (chủ biên, 2008). Từ điển Tâm lí học. NXB kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận. Có được Từ điển Bách khoa - Viện Tâm lí học. những kĩ năng cơ bản này, cùng với những kĩ năng chung [3] N.Đ. Lêvitov (1983). Tâm lí học cá nhân (tập 3). về Làm văn, HS sẽ viết được những bài văn nghị luận NXB Giáo dục. chặt chẽ, thuyết phục, từ đó chất lượng dạy học Làm văn [4] Huỳnh Văn Sơn (2009). Nhập môn Kĩ năng sống. nghị luận ở THPT sẽ được nâng cao. NXB Giáo dục Việt Nam. [5] Trần Trọng Thủy (1998). Tâm lí học lao động. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Tài liệu tham khảo [6] Bộ GD-ĐT (2010). Giáo dục kĩ năng sống trong [1] Hoàng Phê (chủ biên, 1992). Từ điển tiếng Việt. môn Ngữ văn. NXB Giáo dục Việt Nam. Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội. [7] Travis Bradberry - Jean Greaves (2014). Thông [2] Lê Văn Hồng (2001). Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí minh cảm xúc thế kỉ 21. (Dịch giả: Uông Xuân Vy, học Sư phạm. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Trần Đăng Khoa). NXB Phụ nữ. [3] Nguyễn Trí (2009). Một số vấn đề dạy học tiếng Việt [8] Daniel Goleman (2007). Trí tuệ xúc cảm ứng dụng theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học. NXB Giáo dục trong công việc (Biên dịch: Phương Thúy, Minh Việt Nam. Phương, Phương Linh). NXB Tri thức. [4] Devine, T. G. (1987). Teaching study skills: A guide [9] Andrea Bacon - Ali Dawson (2012). Giải mã trí tuệ for teachers. Boston: Allyn and Bacon. cảm xúc. (Biên dịch: Kim Vân, Song Thu, Vi Thảo Nguyên). NXB Trẻ. [5] Hoàng Thị Mai (chủ biên, 2009) - Kiều Thọ Long. Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường [10] Trần Thanh Bình (2013). Giúp trẻ tự nhận thức bản phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam. thân. NXB Văn hóa - Thông tin. [11] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ [6] Nguyễn Quang Ninh - Nguyễn Thị Ban - Trần Hữu thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư Phong (2000). Luyện cách lập luận trong đoạn văn số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ nghị luận cho học sinh phổ thông. NXB Đại học trưởng Bộ GD-ĐT). Quốc gia Hà Nội. [12] Nguyễn Minh Châu (1994). Trang giấy trước đèn. [7] Chu Huy - Chu Văn Sơn - Vũ Nho (2005). Nâng cao NXB Khoa học xã hội. kĩ năng làm văn nghị luận. NXB Giáo dục. [13] Bùi Việt Thắng (biên soạn và sưu tầm, 2000). [8] Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán Truyện ngắn - Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn (1996). Phương pháp dạy học môn Làm văn. NXB thể loại. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Giáo dục. 45

Download

Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ