Xem mẫu

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 446 (Kì 2 - 1/2019), tr 9-13; 8<br /> <br /> MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG<br /> CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY<br /> Đỗ Khánh Năm - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội<br /> Ngày nhận bài: 20/09/2018; ngày sửa chữa: 20/10/2018; ngày duyệt đăng: 17/12/2018.<br /> Abstract: The Party and State have indicated the need for fundamental and comprehensive reform<br /> of Vietnamese education in the direction of standardization, modernization, socialization and<br /> international integration. In which, improving the labor quality of university lecturers and<br /> management staffs is a key factor, because university lecturers are factors that determine the quality<br /> and effectiveness of education. The article mentions some basic solutions to improve the labor<br /> quality of university lecturers, contributing to improving the quality of training to meet the needs<br /> of the society.<br /> Keywords: Quality, labor quality, lecturer, university.<br /> đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng<br /> tăng của sự phát triển KT-XH” [4; tr 24].<br /> Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: chất lượng<br /> nguồn nhân lực là những yếu tố cấu thành quyết định<br /> nhất đến năng lực lao động của mỗi con người; được cụ<br /> thể hóa thành các yếu tố về sức khỏe, trình độ học vấn,<br /> trình độ chuyên môn kĩ thuật, phẩm chất đạo đức và văn<br /> hóa nghề nghiệp, khả năng đảm nhiệm và hoàn thành<br /> công việc của mỗi người lao động.<br /> 2.1.2. Chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên đại học<br /> - Chất lượng là một phạm trù phức tạp và trừu tượng.<br /> Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về chất lượng.<br /> Theo tác giả Phạm Ngọc Trung, có thể xem chất lượng<br /> thể hiện thông qua “Tổng thể những thuộc tính của sản<br /> phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được<br /> hoặc so sánh được, phù hợp với những điều kiện hiện có<br /> và có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của xã hội và<br /> của cá nhân” [5; tr 38]. Ở góc độ quản lí, Nguyễn Kim<br /> Định cho rằng, chất lượng là “Sự thỏa mãn nhu cầu hoặc<br /> hơn nữa nhưng với những phí tổn là thấp nhất” [1; tr 64].<br /> - Chất lượng lao động là một tổng hòa, một phức hợp<br /> các quan hệ KT-XH và tư tưởng, biểu hiện không chỉ<br /> trong ý thức, nhận thức, tình cảm mà điều quan trọng hơn<br /> là được chứng thực trong hành vi, trong những kết quả<br /> cụ thể, trong hiệu quả công tác và năng suất lao động.<br /> Với tư cách là một hiện tượng lịch sử - xã hội, chất lượng<br /> lao động chứa đựng trong bản thân nó những mối quan<br /> hệ khác nhau, những yếu tố, thành phần đa dạng khác<br /> nhau. Nó được biểu hiện trong thực tiễn lao động của con<br /> người cũng như trong những mối liên hệ, tác động lẫn<br /> nhau của các nhân tố kinh tế, tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ<br /> và văn hóa nhằm đạt được những mục tiêu định sẵn và<br /> những tiêu chuẩn xác định.<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Hiện nay, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội<br /> nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết. Điều<br /> này đã mở ra những triển vọng, điều kiện thuận lợi cho<br /> Việt Nam, đồng thời cũng đặt nước ta trước nhiều nguy<br /> cơ, thách thức trong tiến trình hội nhập. Để vượt qua lực<br /> cản và thách thức, cần phải đổi mới giáo dục đại học<br /> (GDĐH), bắt đầu từ những cải biến trong chất lượng lao<br /> động của đội ngũ cán bộ quản lí cũng như các thế hệ<br /> giảng viên (GV) đại học, góp phần thực hiện đổi mới căn<br /> bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam.<br /> Bài viết đề cập một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao<br /> chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học góp phần<br /> nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Một số khái niệm cơ bản<br /> 2.1.1. Chất lượng nguồn nhân lực<br /> Theo tác giả Nguyễn Kim Định, “chất lượng” là “Sự<br /> thỏa mãn nhu cầu hoặc hơn nữa nhưng với những phí tổn<br /> là thấp nhất” [1; tr 64]. Tác giả Nguyễn Tiệp cho rằng:<br /> “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của<br /> nguồn nhân lực, là tố chất, là bản chất bên trong của<br /> nguồn nhân lực, luôn có sự vận động và phản ánh trình độ<br /> phát triển KT-XH” [2; tr 10]. Tác giả Trần Xuân Cầu và<br /> Mai Quốc Chánh quan niệm: “Chất lượng nguồn nhân lực<br /> thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản<br /> chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông<br /> qua các chỉ tiêu: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ<br /> chuyên môn/lành nghề…” [3; tr 56]. Tác giả Vũ Bá Thể<br /> xác định: “Chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con<br /> người, cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, cả trí tuệ lẫn<br /> tâm hồn cũng như kĩ năng nghề nghiệp, làm cho con người<br /> trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất<br /> <br /> 9<br /> <br /> Email: dokhanhnampgdbt@gmail.com<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 446 (Kì 2 - 1/2019), tr 9-13; 8<br /> <br /> Đây là một khái niệm đa chiều, bao trùm chức trách,<br /> nhiệm vụ của nhà giáo ở bậc đại học, biểu hiện kết quả<br /> tổng hợp các mặt hoạt động nghề nghiệp của người GV.<br /> Chất lượng lao động của GV đại học không chỉ biểu hiện<br /> ở việc đảm trách số lượng công việc mà còn phản ánh<br /> qua chất lượng các công trình khoa học hay những công<br /> việc kiêm nhiệm được giao trong quản lí giáo dục hoặc<br /> “kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện<br /> qua các phẩm chất, giá trị nhân cách, giá trị sức lao<br /> động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương<br /> ứng với mục tiêu đào tạo” [6; tr 184]. Trong đó, tỉ lệ việc<br /> làm của sinh viên sau tốt nghiệp, mức độ đáp ứng yêu<br /> cầu tại các vị trí làm việc cụ thể, khả năng phát triển nghề<br /> nghiệp, vai trò của nguồn nhân lực được đào tạo đối với<br /> sự phát triển KT-XH được xem là thước đo quan trọng<br /> để đánh giá chất lượng lao động của GV đại học.<br /> 2.1.3. Tính đặc thù của lao động giảng viên đại học<br /> Lao động của GV đại học trước hết là lao động trí óc.<br /> Đặc thù trong lao động của họ biểu hiện ở việc thường<br /> xuyên phải phát huy sức sáng tạo của tư duy, ở hàm<br /> lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm. Lao động hao<br /> phí của GV không chỉ được tính đến sức lực cơ bắp mà<br /> chủ yếu nhất vẫn là yếu tố trí tuệ, tình cảm. Hoạt động<br /> giảng dạy, nghiên cứu khoa học (NCKH), tổ chức, quản<br /> lí giáo dục ở bậc đại học là lao động phức tạp và bao hàm<br /> cả những căng thẳng đặc thù do thường xuyên phải suy<br /> ngẫm, tìm tòi, nghiên cứu. Dạng thức lao động ấy đòi hỏi<br /> nhiều chi phí năng lượng thần kinh trung ương, tạo ra<br /> những sản phẩm trí tuệ, những phát minh, sáng chế, sáng<br /> kiến, là nhân cách người học, là trình độ, kĩ năng lao động<br /> của nguồn nhân lực. Chính vì vậy, lao động của GV đại<br /> là lao động trí óc.<br /> Lao động của GV đại học là lao động sư phạm bậc<br /> cao. Mục đích cuối cùng trong lao động của GV đại học<br /> không phải là truyền thụ tri thức mà là GD-ĐT người học<br /> thành những nhân cách tích cực. Nhân cách ấy phải có<br /> đầy đủ năng lực và bản lĩnh tự khẳng định mình trước<br /> những đòi hỏi của thực tiễn đất nước, trước những yêu<br /> cầu của thời đại. Bằng phương pháp giảng dạy khoa học<br /> của mình, có thể chuyển hóa từ giáo dục sang tự giáo dục,<br /> từ đào tạo sang tự đào tạo, thông qua ảnh hưởng và tác<br /> động từ nhân cách của người thầy tới nhân cách của trò.<br /> Đó là yêu cầu sư phạm rất cao mà không phải bất kì GV<br /> hay nhà giáo ở bậc học nào cũng làm chủ và đảm bảo<br /> được giá trị ấy.<br /> Giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ song hành của<br /> GV đại học. Giảng dạy với NCKH là để thực hiện yêu<br /> cầu có kiến thức và biết truyền thụ kiến thức của GV. Suy<br /> đến cùng, GV bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tư duy,<br /> năng lực tự học, tự nghiên cứu và đó chính là bồi dưỡng<br /> phương pháp NCKH. Đây là điểm khác biệt căn bản của<br /> <br /> 10<br /> <br /> GV đại học so với các bậc học khác, đồng thời cũng là<br /> yêu cầu rất cao mà chỉ những GV am hiểu sâu, đạt được<br /> một số kết quả trong NCKH mới có nhiều khả năng làm<br /> việc đó. Tính cập nhật, hiện đại, khoa học trong nội dung<br /> giảng dạy của mỗi GV chỉ có thể được hình thành và đảm<br /> bảo nếu họ có năng lực nghiên cứu và thường xuyên<br /> NCKH một cách hiệu quả. Vì vậy, giảng dạy và NCKH<br /> luôn là hai nhiệm vụ chủ yếu, có mối quan hệ tương hỗ<br /> trong lao động chuyên môn của GV đại học.<br /> 2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên đại học Việt Nam<br /> Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, năm học 2016-2017,<br /> tổng số GV trong các trường đại học là 72.792 người,<br /> trong đó GV có trình độ tiến sĩ là 16.514, chiếm tỉ lệ<br /> 22,6% (trong đó có 574 giáo sư; 4.113 phó giáo sư); thạc<br /> sĩ là 43.065, chiếm tỉ lệ 59,1%; đại học là 13.213, chiếm<br /> tỉ lệ 18,3% [7].<br /> Về chất lượng, trình độ đội ngũ GV có xu hướng<br /> nâng cao, tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới và hội nhập<br /> quốc tế, đây là vấn đề cần giải quyết. Cụ thể:<br /> - Trình độ, năng lực của đội ngũ GV chưa theo kịp<br /> với sự vận động của đời sống KT-XH. Nghị quyết Trung<br /> ương 8 (khoá XI) cũng đã chỉ rõ, một bộ phận chưa đáp<br /> ứng yêu cầu đổi mới, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm<br /> đạo đức nghề nghiệp. Kết quả cho thấy, nhìn chung, chất<br /> lượng GV trong trường đại học nước ta hiện nay còn yếu.<br /> Tỉ lệ tiến sĩ/GV còn thấp (12,4%), mặt khác, hoạt động<br /> NCKH của GV còn ít, số lượng bài báo công bố trên tạp<br /> chí chuyên ngành trong nước và quốc tế chưa nhiều.<br /> NCKH là yếu tố nền tảng khoa học của kiến thức và trình<br /> độ của GV, nhưng chưa trở thành nhu cầu thực sự của<br /> GV. Đề tài và các nội dung NCKH vẫn còn nặng về hình<br /> thức, chưa gắn với yêu cầu của thực tiễn.<br /> - Hiện nay, nhiều GV vẫn còn duy trì phương pháp<br /> giảng dạy cũ, lỗi thời; chủ yếu là “độc thoại” hay là “thầy<br /> đọc, trò chép”... Việc áp dụng phương pháp giảng dạy<br /> như vậy sẽ không phát huy được tính chủ động, tích cực<br /> của sinh viên trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, sinh<br /> viên sau khi ra trường không có kĩ năng nghề nghiệp đáp<br /> ứng với yêu cầu của thực tiễn.<br /> - Việc tuyển dụng GV có trình độ chuyên môn giỏi ở<br /> trong và ngoài nước tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào<br /> tạo còn nhiều khó khăn do chính sách thu hút chưa đủ<br /> mạnh. Cơ chế quản lí và sử dụng cán bộ chưa tạo động<br /> lực để thu hút cán bộ giỏi về làm việc.<br /> - Công tác bồi dưỡng, quy hoạch và phát triển đội ngũ<br /> GV và cán bộ quản lí chưa được quan tâm đồng đều trong<br /> toàn hệ thống, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế,...<br /> - Phân bố GV có trình độ cao lại không đồng đều ở<br /> các trường, các khu vực và giữa các khối ngành đào tạo.<br /> Phần lớn GV có học hàm, học vị cao đều tập trung ở<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 446 (Kì 2 - 1/2019), tr 9-13; 8<br /> <br /> những thành phố với các đại học quy mô lớn. Tình trạng<br /> thiếu lực lượng GV đại học trình độ cao chủ yếu thuộc<br /> vùng miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên, Đồng bằng<br /> Nam bộ, ở các trường mới hoặc các trường ngoài công<br /> lập. Đặc biệt, ở các ngành văn hóa nghệ thuật thì tỉ lệ cán<br /> bộ giảng dạy có học vị tiến sĩ rất thấp.<br /> Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt<br /> cán bộ giảng dạy “đầu ngành” nhưng nguyên nhân chủ<br /> yếu là do công tác quy hoạch đội ngũ GV đại học chưa<br /> tốt, còn thiếu tính chiến lược lâu dài. Hơn nữa, có một<br /> thời gian tương đối dài, đời sống của GV rất khó khăn;<br /> đến nay tuy đã được cải thiện đáng kể nhưng chế độ đãi<br /> ngộ đối với GV ở thời điểm hiện tại còn kém hấp dẫn,<br /> việc đào tạo nâng cao trình độ chưa trở thành nhu cầu nội<br /> tại, thiết yếu của mỗi cán bộ giảng dạy.<br /> <br /> - Các trường đại học cần dựa trên nhận thức sâu sắc,<br /> toàn diện, thấu đáo về lao động của đội ngũ GV đại học,<br /> về ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa của việc nâng cao<br /> chất lượng lao động của đội ngũ này để từ đó có thái độ<br /> tôn trọng, có cách ứng xử văn hóa thể hiện sự đãi ngộ và<br /> tôn vinh lao động trí óc, sáng tạo của đội ngũ GV đại học.<br /> Mỗi GV phải tự giác nhận lấy trách nhiệm về mình trong<br /> việc đảm bảo hiệu quả đào tạo để cung ứng cho xã hội<br /> nguồn nhân lực chất lượng cao và những sản phẩm khoa<br /> học có giá trị.<br /> 2.3.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và<br /> trách nhiệm của các cơ sở đào tạo đối với chất lượng lao<br /> động của đội ngũ giảng viên đại học<br /> <br /> 2.3. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng lao<br /> động của đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam<br /> <br /> - Đảng cần quán triệt đầy đủ, sâu sắc và cụ thể hóa<br /> các quan điểm, đường lối, nghị quyết để chỉ đạo nâng cao<br /> chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học trong hệ<br /> thống chính trị, ngành GD-ĐT và trong toàn xã hội.<br /> Trong đó, đổi mới công tác thông tin và truyền thông để<br /> thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động<br /> sự tham gia đánh giá, giám sát, phản biện của toàn xã hội<br /> đối với chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học ở<br /> nước ta hiện nay là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và<br /> thiết thực.<br /> <br /> 2.3.1. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về chất lượng<br /> lao động của đội ngũ giảng viên đại học<br /> - Đảng và Nhà nước cần xây dựng một triết lí về chất<br /> lượng lao động của đội ngũ GV đại học trong thời kì mới<br /> hướng tới việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,<br /> thích ứng với những yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế thị<br /> trường trong bối cảnh hội nhập. Triết lí ấy phải mô tả được<br /> những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đất nước, thời đại đối<br /> với lao động nghề nghiệp của đội ngũ GV đại học, đồng<br /> thời phải quán triệt quan điểm coi đầu tư cho chất lượng<br /> lao động của đội ngũ GV đại học là đầu tư cho vấn đề có<br /> ý nghĩa lớn đối với sự thành bại của nền giáo dục và phát<br /> triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Trên cơ<br /> sở đó, tuyên truyền rộng rãi đến quần chúng nhân dân lao<br /> động nói chung, nhất là đội ngũ cán bộ quản lí, lãnh đạo ở<br /> các trường đại học, đội ngũ GV, sinh viên sao cho mỗi chủ<br /> thể nêu trên đều thấm nhuần, thấu hiểu sâu sắc triết lí về<br /> chất lượng lao động của GV đại học trong thời kì đổi mới,<br /> đưa đất nước ngày càng phát triển.<br /> <br /> - Nhà nước phải tập trung vào các chức năng cơ bản:<br /> “Chỉ đạo chính sách chung, giám sát, quy định và kiểm<br /> soát chất lượng hệ thống; thông tin chính xác, kịp thời về<br /> tình hình cung cầu và giá trị của những kĩ năng và trình<br /> độ cụ thể để kết nối giữa các trường đại học và các ngành<br /> nghề’’ [6; tr 36], đảm bảo hiệu quả kinh tế khi cấp kinh phí<br /> cho các trường đại học theo những tiêu chí minh bạch, dựa<br /> trên kết quả thực hiện và chất lượng đào tạo của từng<br /> trường, khắc phục tình trạng phân bổ kinh phí bình quân<br /> dựa trên chỉ tiêu tuyển sinh đầu vào như hiện nay.<br /> <br /> - Bộ GD-ĐT cần khẩn trương hoàn thiện và công<br /> khai tiêu chí đánh giá chất lượng lao động của đội ngũ<br /> GV đại học theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo tính khoa<br /> học, tính thực tiễn và định lượng được trong công tác<br /> kiểm định. Tiêu chí đánh giá cần đứng trên quan điểm<br /> xem GV đại học là dịch vụ trong thể chế kinh tế thị<br /> trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì thế người dạy<br /> cũng chịu sức ép từ “khách hàng” trong vấn đề đảm bảo<br /> chất lượng và cung ứng nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu<br /> phát triển đất nước. Trên cơ sở các tiêu chí đó, toàn xã<br /> hội có thể kiểm tra, giám sát về chất lượng lao động của<br /> đội ngũ GV của các trường đại học.<br /> <br /> - Vai trò của Chính phủ là xác định nhiệm vụ của<br /> GDĐH, lập kế hoạch chiến lược, đánh giá chương trình<br /> đào tạo, đảm bảo chất lượng, đánh giá chuẩn, giám sát và<br /> điều tiết, lập và phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ<br /> sở. Trong khi duy trì vai trò của trung ương trong việc<br /> chỉ đạo chính sách chung về chất lượng GDĐH, Nhà<br /> nước cần chuyển giao quyền tự quyết định chuyên môn<br /> cho các cơ sở đào tạo với sự phân công vai trò rõ ràng<br /> giữa các đối tượng tham gia. Mặt khác, Nhà nước cần tập<br /> trung xây dựng một chiến lược toàn diện giữa các cơ sở<br /> đào tạo đại học, Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội để có thể hình thành và sử dụng<br /> tốt hơn các thông tin về thay đổi và yêu cầu của thị trường<br /> lao động về nguồn nhân lực. Vấn đề này có ý nghĩa thiết<br /> thực đối với các trường đại học, nhất là đội ngũ GV, nhà<br /> quản lí giáo dục trong việc xác định mục tiêu đào tạo theo<br /> nhu cầu và định hướng nghề nghiệp, khắc phục tình trạng<br /> <br /> 11<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 446 (Kì 2 - 1/2019), tr 9-13; 8<br /> <br /> “lệch chuẩn” giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nguồn<br /> nhân lực.<br /> Để đảm bảo chất lượng lao động của đội ngũ GV đại<br /> học ở nước ta hiện nay, yêu cầu nâng cao trách nhiệm<br /> của các cơ sở đào tạo tất yếu được đặt ra. Cụ thể:<br /> - Nhà trường phải thực hiện chế độ tự chủ về tổ chức<br /> bộ máy, biên chế, nhân sự, tài chính và tăng cường thanh<br /> tra, kiểm tra công tác giảng dạy, thi cử, hoạt động chuyên<br /> môn của các Khoa.<br /> - Về nguyên tắc, quyền tự chủ phải gắn với hệ thống<br /> trách nhiệm của nhà trường, của đội ngũ GV đại học về<br /> chất lượng đào tạo. Nó đòi hỏi Ban Giám hiệu Nhà<br /> trường, đội ngũ GV và cán bộ quản lí ở các phòng, ban<br /> phải xác định rõ sứ mệnh, nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo<br /> của Nhà trường.<br /> - Nhà trường phải chủ động đưa ra những cam kết về<br /> đảm bảo chất lượng GD-ĐT đối với người học, các cấp<br /> quản lí và trực tiếp nhất là các chủ thể sử dụng sản phẩm<br /> của GDĐH.<br /> - Mỗi GV, mỗi cán bộ lãnh đạo quản lí ở các cơ sở<br /> GDĐH phải có trách nhiệm thực hiện các giải pháp để<br /> thực hiện những cam kết về chất lượng đào tạo đã đề ra.<br /> 2.3.3. Hiện đại hóa giáo dục đại học là khâu đột phá để<br /> nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên đại<br /> học ở Việt Nam<br /> Hiện đại hóa GDĐH thực chất là nhằm nâng cao chất<br /> lượng khoa học của việc dạy, nghiên cứu, quản lí, “khắc<br /> phục tình trạng thương mại hóa GDĐH, hình thức hóa<br /> NCKH gây lãng phí các nguồn lực và tầm thường hóa<br /> các giá trị” [8; tr 32], trong đó, khắc phục sự yếu kém<br /> không ngang tầm quốc tế của chất lượng GDĐH là điều<br /> mấu chốt. Để hiện thực hóa yêu cầu này, cần tập trung<br /> giải quyết những vấn đề sau đây:<br /> - Hiện đại hóa mục tiêu GDĐH. Đây là vấn đề cần<br /> thiết được làm sáng tỏ trên cơ sở tính đến những đòi hỏi<br /> được đặt ra từ bối cảnh của thời đại, trước những biến đổi<br /> của tình hình thế giới và trong nước. Đây là vấn đề hệ<br /> trọng cần được Bộ GD-ĐT, nhất là các trường đại học<br /> quan tâm đúng mức. Không xác định rõ mục tiêu, chuẩn<br /> đầu ra của từng chuyên ngành đào tạo thì sẽ không có<br /> những định hướng giá trị quy định toàn bộ quá trình lao<br /> động chuyên môn của đội ngũ GV đại học.<br /> - Hiện đại hóa chương trình và nội dung giáo dục<br /> trình độ đại học. Trọng tâm trong khâu này là việc tinh<br /> giản và sàng lọc, làm mới những tri thức đảm bảo tính<br /> hiện đại, tránh tình trạng ôm đồm, quá tải, trùng lặp đã<br /> được đặt ra như một đòi hỏi khoa học trong quy trình<br /> hiện đại hóa nội dung giảng dạy. Đặc biệt, phải quan tâm,<br /> chú trọng đến chất lượng giảng dạy ngoại ngữ và tin học<br /> <br /> 12<br /> <br /> theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử<br /> dụng của người học.<br /> - Hiện đại hóa phương pháp GD-ĐT ở bậc đại học,<br /> trước hết là phương pháp dạy và học. Đây là khâu then<br /> chốt để vượt qua tình trạng lạc hậu của GDĐH ở nước ta.<br /> Xét về thực chất, nhiều nhà khoa học thống nhất rằng,<br /> hiện đại hóa phương pháp dạy và học bao hàm hai nhiệm<br /> vụ: “thanh toán” tình trạng lạc hậu của các phương pháp<br /> giáo dục cũ; khoa học hóa, trí tuệ hóa phương pháp mới,<br /> lấy học trò làm trung tâm, thầy là chủ đạo định hướng,<br /> dẫn dắt người học trong việc tiếp nhận, tái tạo, xử lí tri<br /> thức, qua đó hình thành kĩ năng nghề nghiệp tương ứng.<br /> Muốn đổi mới phương pháp dạy và học có hiệu quả, mỗi<br /> cơ sở GDĐH cần trang bị đầy đủ những thiết bị hiện đại<br /> phục vụ hoạt giảng dạy, học tập của SV.<br /> - Hiện đại hóa GDĐH còn bao hàm đổi mới và nâng<br /> cao chất lượng, trình độ của các thiết chế giáo dục.<br /> Trách nhiệm này trước hết thuộc về Bộ GD-ĐT trong<br /> việc kịp thời định hướng cho các cơ sở đào tạo xây dựng<br /> thiết chế “GDĐH mở”, tăng cường hoạt động hợp tác<br /> quốc tế. Đây vừa là môi trường để GV đại học Việt Nam<br /> trao đổi chuyên môn, học thuật với GV của các trường<br /> đại học danh tiếng, vừa là hệ quy chiếu để GV đại học<br /> nước ta tự soi mình vào thế giới và tự hoàn thiện mình<br /> trước những đòi hỏi của đất nước cũng như xu thế chung<br /> của thời đại.<br /> 2.3.4. Tạo chuyển biến căn bản trong công tác đào tạo,<br /> bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đại học đáp ứng chuẩn<br /> nghề nghiệp<br /> Đào tạo, bồi dưỡng là con đường trực tiếp nhất, là hình<br /> thức cơ bản để phát triển đội ngũ GV đại học đáp ứng<br /> những đòi hỏi ngày càng cao của đặc thù nghề nghiệp.<br /> Trước hết, mỗi GV đại học cần phải hình thành thói quen<br /> tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, tự làm mới, làm giàu tri thức.<br /> Không có năng lực, nhu cầu và thói quen tự làm mới kiến<br /> thức, học vấn của mình, GV sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu<br /> không theo kịp xu thế phát triển chung của toàn thế giới.<br /> Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV đại học cần<br /> tạo ra được những áp lực để mỗi GV chuyên tâm vào<br /> việc học, nghiên cứu bằng việc đặt ra yêu cầu cao trong<br /> quá trình đào tạo và bồi dưỡng. Áp lực ấy không phải do<br /> những thủ tục hành chính đem lại mà phải được tạo ra từ<br /> yêu cầu cao của việc tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo buộc<br /> mỗi GV phải thật sự tận tâm, tận lực gắn bó và cống hiến<br /> mới có thể hoàn thành. Nếu không đảm bảo được điều<br /> đó thì dù xét ở khía cạnh nào cũng khó có thể khắc phục<br /> được tính hình thức của chương trình đào tạo, bồi dưỡng.<br /> Bộ GD-ĐT cần cải tiến phương thức đào tạo, bồi<br /> dưỡng đội ngũ GVĐH theo hướng đa dạng hóa các loại<br /> hình: tập huấn cập nhật kiến thức, hội thảo chuyên đề,<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 446 (Kì 2 - 1/2019), tr 9-13; 8<br /> <br /> đào tạo tập trung và không tập trung, chính quy và không<br /> chính quy, bồi dưỡng dài hạn và ngắn hạn, đào tạo trong<br /> nước kết hợp với đào tạo ở các cơ sở đại học danh tiếng<br /> trên thế giới. Trong đó, đào tạo và bồi dưỡng phải được<br /> gắn kết với nhau thành một quy trình liên tục, thống nhất;<br /> cần có chế độ, chính sách tu nghiệp thường xuyên đối với<br /> đội ngũ GV đại học ở nước ngoài, trao đổi chuyên gia,<br /> học giả với các nước, sớm hình thành các chuyên gia đầu<br /> ngành và cán bộ khoa học có trình độ cao cho đất nước.<br /> 2.3.5. Đổi mới chính sách trọng dụng, đảm bảo đãi ngộ<br /> xứng đáng đối với lao động của đội ngũ giảng viên đại học<br /> Đây được xem là biện pháp có tính đột phá nhằm<br /> nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học ở<br /> Việt Nam hiện nay. Để làm được điều này, trước hết, cần<br /> có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài. Cần phải<br /> đổi mới cơ chế tri trả lương hàng tháng cho đội ngũ GV<br /> đại học theo hướng: Ngạch, bậc lương được tính theo<br /> trình độ đào tạo, chức danh khoa học kết hợp với việc<br /> tăng lương tối thiểu theo lộ trình chung. Phần phụ cấp<br /> được tính đối với đội ngũ GV đại học tham gia giảng dạy,<br /> cộng với phụ cấp theo thâm niên công tác và chức vụ<br /> đảm nhiệm.<br /> Nhà nước và mỗi cơ sở đào tạo cần chú ý đảm bảo hệ<br /> thống cơ sở vật chất, các thiết bị, công nghệ cho giảng<br /> dạy, NCKH và quản lí đào tạo, xây dựng các trường đại<br /> học trọng điểm, các cơ sở phục vụ nghiên cứu và thực<br /> nghiệm, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo ra nhiều khả năng<br /> cho đội ngũ đội ngũ GV đại học học tập, nâng cao trình<br /> độ và cống hiến.<br /> Cần coi trọng công tác thi đua, khen thưởng, Nhà<br /> trường cần tạo cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp<br /> cho GV. Xây dựng môi trường dân chủ, đoàn kết và nêu<br /> cao ý thức trách nhiệm trong giảng dạy và NCKH, quản lí<br /> giáo dục, khuyến khích, trân trọng những tìm tòi khoa học,<br /> phát huy tư duy sáng tạo của đội ngũ GV đại học. Đây là<br /> biện pháp kích thích tinh thần mạnh mẽ để đội ngũ GV đại<br /> học tích cực nâng cao hiệu quả lao động một cách tự giác.<br /> 2.3.6. Đổi mới căn bản công tác quản lí, coi trọng kiểm<br /> định chất lượng lao động của đội giảng viên đại học<br /> Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lí chất lượng lao<br /> động của đội ngũ GV đại học cần tập trung vào hai vấn<br /> đề chính: Quản lí đội ngũ GV đại học và quản lí hoạt<br /> động lao động của họ.<br /> Quản lí đội ngũ GV đại học bao gồm các vấn đề: đào<br /> tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng một cách hợp lí giữa yêu<br /> cầu của thực tiễn với thực trạng đội ngũ GV đại học, khắc<br /> phục nhanh chóng sự hẫng hụt đội ngũ cán bộ trình độ<br /> cao và tình trạng “chảy chất xám” đồng thời phải có<br /> chính sách đãi ngộ thỏa đáng theo cống hiến của đội ngũ<br /> GV đại học.<br /> <br /> Quản lí lao động của đội ngũ GV đại học bao gồm tổ<br /> chức giao nhiệm vụ, đảm bảo quá trình thực hiện nhiệm<br /> vụ và đánh giá kết quả thực hiện theo hướng dân chủ,<br /> khách quan, công bằng. Quản lí chất lượng lao động của<br /> đội ngũ GV đại học cần gắn liền với việc đẩy mạnh công<br /> tác đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực làm phương<br /> hại đến kết quả hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của đội<br /> ngũ GV, góp phần tạo lập môi trường dân chủ, công bằng,<br /> kỉ cương cho lao động sáng tạo của đội ngũ GV đại học.<br /> Thực chất kiểm định chất lượng lao động của đội ngũ<br /> GV đại học là đo lường mức độ đáp ứng mục tiêu giáo<br /> dục của GV và cán bộ quản lí. Do vậy, các biện pháp<br /> quan trọng hiện nay cần tập trung tiến hành là:<br /> - Bộ GD-ĐT cần ban hành chuẩn chất lượng lao động<br /> của đội ngũ GV đại học bổ sung và thực hiện nghiêm túc<br /> tiêu chí đánh giá ngoài thông qua tổ chức đánh giá độc<br /> lập, có tư cách pháp nhân và chuyên sâu về đo lường,<br /> đánh giá, kiểm định chất lượng lao động của đội ngũ GV<br /> đại học nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực, tin<br /> cậy. Tổ chức đó gồm các cơ quan doanh nghiệp, công ty<br /> sử dụng sản phẩm của GDĐH, các đơn vị đánh giá độc<br /> lập, những cơ sở đào tạo khác ở trong nước và quốc tế.<br /> Kết quả đánh giá cần thiết phải lượng hóa bằng con số<br /> hay thứ hạng để phản ánh một cách tường minh chất<br /> lượng lao động của đội ngũ GV đại học.<br /> - Các trường đại học có trách nhiệm xây dựng và thực<br /> hiện kế hoạch bảo đảm chất lượng; định kì đăng kí kiểm<br /> định; tự đánh giá, công khai các điều kiện bảo đảm chất<br /> lượng và kết quả kiểm định chất lượng.<br /> 3. Kết luận<br /> <br /> 13<br /> <br /> Chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học là vấn<br /> đề có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong và phát triển<br /> của các trường đại học ở nước ta hiện nay. Vì vậy, việc<br /> nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ GV đại học<br /> được xác định là trách nhiệm lớn lao của toàn xã hội.<br /> Trong mức độ đầy đủ, chất lượng lao động của đội ngũ<br /> GV đại học chỉ được đảm bảo trên cơ sở định hướng từ<br /> những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà<br /> nước, của Bộ GD-ĐT; từ cơ chế tổ chức, quản lí kết hợp<br /> với việc kiểm tra, giám sát chất lượng lao động đến hoạt<br /> động tự giác, trách nhiệm, sáng tạo của đội ngũ GV đại<br /> học. Vì vậy, cần thiết phải có những tác động đồng bộ,<br /> tổng hợp nhằm khuyến khích họ nhiệt tình, tâm huyết,<br /> phát triển tính sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp của<br /> mình để đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao<br /> góp phần đổi mới và phát triển đất nước.<br /> (Xem tiếp trang 8)<br /> <br />