Xem mẫu

  1. MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu
  2. đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học: - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích.
  3. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét.
  4. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học: - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn.
  5. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi
  6. - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học:
  7. - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o
  8. MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét.
  9. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học: - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn.
  10. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi
  11. - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học:
  12. - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o
  13. MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau.
  14. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học: - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa.
  15. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO BĂNG
  16. Định nghĩa: là môi trường đặc trưng bởi trầm tích lắng đọng trên lục địa, hồ và biển, do kết quả của quá trình tan chảy của những khối băng mang theo vật liệu trầm tích do đất lỡ, tuyết lỡ hoặc do ma sát, bào mòn các tầng đá trong quá trình di chuyển của băng. (hình I.1) Hình I.1: Anh chụp môi trường thành tạo do băng. Thạch học: - Thành phần: rất đa dạng về thạch học, từ những mảnh đá magma, trầm tích, biến chất cho đến những khoáng vật sét. Sự đa dạng này là do bởi đặc điểm của tầng đá bên dưới, do địa hình và tốc độ di chuyển của băng, vị trí của vật liệu được chuyển đi - Kiến trúc hạt: độ chọn lọc rất kém, kích thước hạt thay đổi từ cuội, tảng cho đến bột, sét, đôi khi ở thể keo. Hình dáng hạt thường là góc cạnh, nhất là cát, cuội và tảng thì tương đối tròn cạnh hơn. Những vật liệu bị rữa trôi thì độ chọn lọc tốt hơn. Cấu trúc trầm tích: trầm tích này được chia thành 2 loại chính: phân tầng và không phân tầng. Trầm tích không phân tầng gồm những khối vật liệu không đồng nhất, không có phân lớp nhất định, trừ khi cuội kết xếp chồng lên nhau. Trầm tích phân tầng gồm vật liệu xắp xếp theo phân lớp xiên chéo, với các cấu trúc bào mòn và lấp đầy trong trầm tích rữa trôi (outwash, hình I.2) và phân phiến trong trầm tích theo mùa (varves, hình I.3) Hình I.2: Trầm tích rữa trôi Hình I.3: trầm tích theo mùa Ranh giới: Ranh giới dưới thường là sắc nét hoặc bị bào mòn. Trong trầm tích rữa trôi, ranh giới trên là phân lớp từ từ, trong trầm tích theo mùa ranh giới trên rõ ràng, sắc nét. Nhịp trầm tích: thường thấy kiểu trầm tích mịn dần từ dưới lên trong cả trầm tích rữa trôi và trầm tích theo mùa (vật liệu thô lắng đọng vào mùa hè, vật liệu mịn lắng đọng vào mùa đông). Hình dáng và hướng trầm tích: các tảng lăn có thể tích tụ thành những gờ băng tích với kích thước và hình dáng khác nhau hoặc những đồi băng tích phẳng, kéo dài. Những đồi này có thể dày 8-60m, dài 0,5- 1km, có trục kéo dài song song với hường dòng băng trôi. Trầm tích theo mùa, đặc biệt là hồ băng tích, thường có bề dày nhỏ (6-10cm), mỗi mùa tạo nên những lớp phân phiến dày 0,2-1mm, tổng số lớp khoảng 75-150, đôi khi có những lớp dày đến hơn 10m, thể hiện sự dao động trong tốc độ cung cấp nguồn trầm tích. Tướng đá bao quanh: thông thường trầm tích do băng được tiếp tục bởi trầm tích sông kiểu dòng bện. Nếu băng bị giới hạn bởi nước thì sẽ tạo ra trầm tích kiểu tam giác châu, hồ hoặc biển. Đặc tính chứa: do chứa nhiều vật liệu mịn (bột và sét) nên khả năng chứa rất kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thay đổi nhiều do sự thay đổi về mặt hoá học, khoáng vật và kích thước của đá, Gamma-ray thay đổi từ 45-75API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và dolomite, ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật nặng (feldspar, plagioclase, amphibole). Độ rỗng thay đổi từ 5-15% (hình I.4) Hình I.4: Biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng của trầm tích do băng.
  17. MÔI TRƯỜNG QUẠT LŨ TÍCH Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích hạt thô, hình dạng như 1 cái quạt hoặc một phần của hình nón, lắng đọng do dòng chảy từ trên núi xuống đồng bằng hoặc thung lũng rộng. (hình I.5) Hình I.5: Anh chụp môi trường quạt lũ tích. Thạch học: - Thành phần: gồm chủ yếu là mảnh đá, thành phần khoáng vật phụ thuộc vào đá gốc. Hàm lượng mảnh đá giảm khi đi xuống bên dưới quạt do tác động bào mòn trong quá trình vận chuyển. Thành phần matrix bao gồm chủ yếu là cát, bùn có nguồn gốc tại sinh hoặc thứ sinh lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt. Thành phần cát là những loại trưởng thành về mặt hóa học kém như arkose, lithic arkose…, ngoài ra còn có những mảnh cây cối, khoáng vật sét xuất hiện dưới dạng những tấm phim mỏng bao quanh hạt cát hoặc lấp đầy một phần lỗ rỗng. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. - Kiến trúc hạt: Trầm tích môi trường này đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường về kích thước hạt và hình dạng hạt. Hình dạng hạt thay đổi từ góc cạnh đến rất tròn cạnh, càng xuống cuối quạt, độ tròn cạnh càng tăng. Kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, 50% hạt lớn hơn 2mm, cát và bột rất ít, sét chủ yếu trong các dòng bùn. Kích thước hạt giảm dần từ đầu đến cuối quạt. Tuy nhiên, ở cuối điểm chuyển tiếp, nơi nuớc không vận chuyển được nữa, vật liệu thô lắng đọng dưới đáy, đóng vai trò làm màng lọc, giữ lại vật liệu mịn. Bề dày trầm tích càng xuống cuối quạt càng giảm. Độ chọn lọc của các dòng mảnh vỡ và dòng bùn kém, trong khi đó vật liệu của dòng nước thì chọn lọc tốt hơn. Theo kiến trúc, trầm tích này chia làm 2 loại: cuội gắn kết bởi hạt, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng nước ở đầu quạt, và cuội gắn kết bởi matrix, chủ yếu là vật liệu lắng đọng bởi dòng mảnh vỡ và dòng bùn. Hình I.6: Trầm tích đầu quạt (khối cuội kết), giữa quạt (xen kẹp giữa cuội và cát, và cuối quạt (phân lớp xiên chéo của cát) Cấu trúc trầm tích: Chủ yếu là những trũng phân lớp xiên của cuội gắn kết bởi hạt, ít mặt phân lớp xiên của cuội, trũng và mặt phân lớp ngang của cát. Trầm tích thường là mịn dần từ dưới lên, hiện tượng thô dần từ dưới lên chỉ hiện diện khi hoạt động kiến tạo nâng lên. (hình I.7) Hình I.7: Cấu trúc trầm tích của môi trường quạt lũ tích Ranh giới: Ranh giới dưới bất thường và bào mòn. Ranh giới trên là phân lớp từ từ. Nhịp trầm tích: dày vài centimet đến vài mét, đôi khi các nhịp nằm chồng lên nhau lên đến hàng chục đến hàng trăm mét. Tiếp theo là trầm tích dòng bện và trầm tích đồng bằng lũ tích. Hình dáng: thường có dạng hình nón, mỗi nhịp là một thân hình lưỡi, hẹp, kéo dài ra đỉnh nón. Khu vực lắng đọng trầm tích có thể dài vài km, rộng 150-500m, bề dày từ vài trăm mét đến 10000m. Ở mặt cắt ngang của quạt, có thể thấy hình lõm từ dưới lên. Trong khi đó, ở mặt cắt dọc, có thể thấy hình lồi từ dưới lên (hình I.8). Góc của quạt thì thay đổi nhiều, nhưng thường nhỏ hơn 10o
  18. Hình 1.8: Mặt cắt ngang của trầm tích quạt lũ tích Hướng trầm tích: thường là toả tia. Tướng đá bao quanh: thông thường quạt lũ tích cài răng lược với các vật liệu tách ra từ đá gốc. Rìa quạt có thể kết hợp hoặc cài răng lược với vật liệu đồng bằng lũ tích, đụn cát do gió và cát sông. Đặc tính chứa: trầm tích môi trường này thường không chứa do nó không thông thương với đá mẹ, không có tầng chắn, độ rỗng và thấm kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: do kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, thành phần có sự hiện diện của feldspar, mica và mảnh đá magma, biến chất, thậm chí trầm tích nên cường độ phóng xạ tự nhiên cũng thay đổi nhiều, Gamma-ray từ trung bình đến cao, thay đổi từ 30-90API, trung bình 40-60API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và sét tùy thuộc vào thành phần mảnh đá và phần trăm của matrix. MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO GIÓ Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích do gió, thường trộn lẫn với trầm tích sông và trầm tích trên triều. Trầm tích do gió có thể chia làm 3 loại: đụn cát, giữa đụn và tấm cát. Anh chụp đụn cát điển hình trình bày ở hình I.9. Hình I.9: Anh chụp môi trường thành tạo do gió. Thạch học: - Thành phần: đụn cát gồm chủ yếu là cát kết quartzite (hơn 85% thạch anh). Tuy nhiên, tùy thuộc vào nguồn vật liệu vụn và khoảng cách vận chuyển, trầm tích còn hiện diện những khoáng vật khác như: calcareous (Bahamas), oolitic (Abu Dhabi), gypsum (New Mexico). Đôi khi có khoáng vật nặng, nhưng chúng sắt thường có khuynh hướng bị biến đổi hóa học. Khoáng vật sét ít gặp, thường chỉ gặp trong trầm tích ở suối cạn, giữa đụn hoặc sabkha hoặc dưới dạng những khoáng vật thứ sinh. Ximăng gồm chủ yếu là calcite và dolomite, đôi khi gặp gypsum và anhydrite. Hiếm xương động vật, mảnh vỡ thực vật, nhiều bào tử phấn hoa bị oxi hóa. Theo thành phần, những đụn cát có thể được coi như đã trưởng thành về mặt hóa học. - Kiến trúc hạt: độ hạt từ mịn đến trung bình (0,2-0,5mm), độ mài tròn tốt, chọn lọc tốt. Ahlbrandt (1979) chia ra 3 nhóm kiến trúc khác nhau: + Độ chọn lọc trung bình đến tốt, hạt mịn đến trung bình ở đụn cát đất liền. + Độ chọn lọc tốt, hạt mịn ở đụn cát ven biển. + Độ chọn lọc trung bình đến rất kém ở giữa đụn hoặc cuội cát sa mạc.
  19. Cát thường thô hạt ở những vùng cao hơn là những vũng xung quanh. Nhưng hạt còn lại ở vùng đất thấp cũng có thể thô hơn ở những đụn cát xung quanh. Sự vắng mặt của sét và mica cũng làm tăng tỉ lệ hạt vụn/matrix. Cấu trúc trầm tích: đụn cát bao gồm những cấu trúc sau: + Gồm những phân lớp xiên chéo tỉ lệ lớn, với góc từ trung bình đến cao (có thể lên đến 34 o), đối diện hướng gió, thường có dạng hình nêm, lớp mỏng, phiến mỏng tiếp tuyến với bề mặt ranh giới bên dưới. + Các phân lớp ngang riêng lẽ, góc cắm thấp + Khi đụn cát phát triển cao lên, các phân lớp dần dần mỏng hơn về phía đỉnh, gió thường cắt xén các lớp mỏng bên trên. + Ở sau đụn cát , góc cắm lớn hơn nhiều so với phía trước đụn + Phân lớp méo mó, vặn vẹo và hiếm gờ phân phiến Ranh giới: rõ ràng, sắc nét, đôi khi nhấp nhô do gió thổi mòn ở giữa đụn tạo nên nickline và cuội cát (hình I.10). Ranh giới này liên quan đến quá trình tháo nước ở các giếng ngầm, bề mặt các mực thủy cấp tạo ra trầm tích giữa đụn. Lũ tích cũng tạo ra ranh giới bị bào mòn. Hình I.10: Cơ chế bào mòn các đụn cát và vai trò của mực thủy cấp. Nhịp trầm tích: mịn dần từ dưới lên, cấu trúc trầm tích cũng cho thấy sự xắp xếp theo chiều thẳng đứng và mỏng dần về bên trên. Ở đáy dưới là những lớp phát triển trên ranh giới dưới, tiếp theo mặt phân lớp xiên chéo, bao phủ bởi trầm tích chịu ảnh hưởng do sự thay đổi mực nước ngầm. Nhịp trầm tích có thể bị gián đoạn bởi lũ tích hoặc hệ thống sông ngòi. Hình dáng và hướng trầm tích: hướng trầm tích xác định hình dáng của đụn cát, bất chấp ảnh hưởng của góc nghiêng, do đó không thể tách rời hướng trầm tích với hình dáng đụn cát. Các đụn cát được phân biệt theo góc cắm, hình dáng, góc phương vị (hình I.11) Hình I.11: Các kiểu đụn cát chính. Tướng đá bao quanh: đụn cát được tìm thấy ở sa mạc, dọc sông, biển nên nó có thể được tiếp nối hoặc xen kẹp với cát biển gần bờ, bột sét sông, quạt lũ tích hoặc trầm tích bốc hơi ở sa mạc. Đặc tính chứa: phức tạp, không đồng nhất do các tầng chứa không thông thương, do sự xem kẹp giữa lớp cát (phân lớp xiên chéo, thấm tốt) với lớp đá carbonate (không thấm hoặc thấm kém) hoặc những lớp cát phân lớp phẳng, không có sự liên kết giữa các lớp do thấm không đẳng hướng, do thay đổi kiến trúc, do ximăng hóa dọc theo những lớp riêng biệt. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: Cường độ phóng xạ tự nhiên thấp ở đụn cát, cao hơn một ít ở giữa các đụn, Gamma-ray thay đổi từ 15-60API. Trên đường Gamma-ray có một số peak (nơi một chu kỳ của đụn cát mới bắt đầu, có sự hiện diện của khoáng vật hạt mịn, mica) sau đó Gamma-ray giảm dần lên trên. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này gần như rơi vào đường cát kết cho thấy thạch anh là thành phần chính. Độ rỗng thường cao 10-30%, khi độ rỗng giảm, điểm biểu diễn di chuyển về đường đá vôi phản ánh sự hiện diện của ximăng carbonate (hình I.12)
  20. Hình 1.8: Mặt cắt ngang của trầm tích quạt lũ tích Hướng trầm tích: thường là toả tia. Tướng đá bao quanh: thông thường quạt lũ tích cài răng lược với các vật liệu tách ra từ đá gốc. Rìa quạt có thể kết hợp hoặc cài răng lược với vật liệu đồng bằng lũ tích, đụn cát do gió và cát sông. Đặc tính chứa: trầm tích môi trường này thường không chứa do nó không thông thương với đá mẹ, không có tầng chắn, độ rỗng và thấm kém. Biểu hiện trên đường địa vật lý giếng khoan: do kích thước hạt thay đổi từ cuội đến sét, thành phần có sự hiện diện của feldspar, mica và mảnh đá magma, biến chất, thậm chí trầm tích nên cường độ phóng xạ tự nhiên cũng thay đổi nhiều, Gamma-ray từ trung bình đến cao, thay đổi từ 30-90API, trung bình 40-60API. Trên biểu đồ tỉ trọng/độ rỗng, trầm tích loại này rơi vào điểm giữa cát kết và sét tùy thuộc vào thành phần mảnh đá và phần trăm của matrix. MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO DO GIÓ Định nghĩa: là môi trường lục địa, đặc trưng bởi trầm tích do gió, thường trộn lẫn với trầm tích sông và trầm tích trên triều. Trầm tích do gió có thể chia làm 3 loại: đụn cát, giữa đụn và tấm cát. Anh chụp đụn cát điển hình trình bày ở hình I.9. Hình I.9: Anh chụp môi trường thành tạo do gió. Thạch học: