Xem mẫu

MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TS. Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục Thống kê Lạm phát và thất nghiệp là những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có tính nhậy cảm cao. Lạm phát không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý kinh tế, chủ doanh nghiệp mà còn của các tầng lớp nhân dân lao động, lạm phát tác động tới tâm lý, cách ứng xử về tiêu dùng, để dành và đầu tư của nền kinh tế. Người dân muốn biết tỷ lệ lạm phát để đánh giá thu nhập bằng tiền lương thực tế của họ, thu nhập từ sở hữu thực, họ có nên gửi tiền vào hệ thống ngân hàng hay không. Khác với lạm phát và thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế thể hiện qua tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) ở mức cao và ổn định luôn là mong ước của các nhà quản lý, của các tầng lớp nhân dân lao động vì tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với việc làm và thu nhập tăng, đời sống của người dân được cải thiện. Vì vậy, một trong những mục tiêu quan trọng của các nhà quản lý và điều hành nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đó là tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định với mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, cùng với mức lạm phát thấp. Trong nhiều thập kỷ gần đây, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng luôn là chủ đề gây tranh luận giữa các trường phái kinh tế, câu hỏi đặt ra đó là lạm phát thúc đẩy tăng trưởng hay tăng trưởng gây ra lạm phát. Các nhà kinh tế theo Trường phái Tiền tệ cho rằng lạm phát gây bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế, trong khi đó các nhà kinh tế theo Trường phái Tân cổ điển lập luận lạm phát là động lực của tăng trưởng. Thực tế nghiên cứu diễn biến của nhiều nền kinh tế trong những thập kỷ vừa qua, các nhà kinh tế đã chỉ ra mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và trong dài hạn, đồng thời cũng xác định ngưỡng Lạm phát của nền kinh tế theo nghĩa nếu lạm phát vượt qua ngưỡng này sẽ có hại cho tăng trưởng kinh tế. Trên hai thập kỷ qua, từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ trước, nền kinh tế nước ta đã trải qua giai đoạn lạm phát phi mã và những giải pháp kiềm chế lạm phát thành công của Chính phủ làm tiền đề cho tăng trưởng kinh tế. Khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2007 đều tác động xấu tới nền kinh tế nước ta làm cho lạm phát tăng cao trở lại và tăng trưởng kinh tế suy giảm. Đối với nước ta, phải chăng nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát hay vẫn có những giải pháp để đạt được tăng trưởng kinh tế ở mức cao với tỷ lệ lạm phát hợp lý. Để cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng, bài viết “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế” phần nào lý giải những câu hỏi này, bài viết gồm ba phần: Phần thứ nhất đề cập một số nội dung cơ bản về các mô hình tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng; Phần thứ hai trình bày kết quả kiểm chứng về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng của các nhà kinh tế trong vài thập kỷ gần đây; Phần cuối trao đổi một số nét về lạm phát và tăng trưởng của nước ta trong hai thập kỷ gần đây. 1 I. LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Năng lực sản xuất của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào số lượng, chất lượng các nguồn lực và trình độ công nghệ sử dụng trong quá trình sản xuất, vì vậy tăng trưởng kinh tế luôn liên quan tới quá trình mở rộng và hoàn thiện các yếu tố tạo nên năng lực sản xuất. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng khối lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển và sự thịnh vượng của đất nước, các nhà kinh tế thường nói tăng trưởng bản thân nó không phải là sự thành công, mà tăng trưởng chính là công cụ để đi tới thành công nhằm diễn tả vai trò quan trọng này. Lạm phát là tỷ lệ phần trăm thay đổi liên tục của mặt bằng giá chung theo thời gian. Để phản ánh tình hình lạm phát, người ta thường sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) - chỉ số giá biểu thị biến động mức giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định dùng cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, hoặc sử dụng chỉ số giảm phát GDP - chỉ số phản ánh sự biến động về mặt bằng giá chung của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia. Chỉ số giảm phát GDP chỉ bao gồm hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước, không bao gồm vật phẩm tiêu dùng là hàng hóa nhập khẩu. Thay đổi giá của vật phẩm tiêu dùng nhập khẩu không ảnh hưởng trực tiếp vào giảm phát GDP nhưng lại ảnh hưởng tới CPI nếu chúng thuộc rổ hàng tính CPI. Do CPI được tính dựa trên rổ hàng hóa và dịch vụ với quyền số cố định, trong khi đó chỉ số giảm phát GDP có rổ hàng hóa và dịch vụ thay đổi theo thời gian vì vậy chỉ số CPI có xu hướng phóng đại lạm phát, ngược lại chỉ số giảm phát GDP có xu hướng đánh giá thấp lạm phát. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới khi đánh giá lạm phát đều dựa vào chỉ số CPI. 1. Lý thuyết tăng trưởng Cổ điển Các nhà kinh tế theo trường phái Cổ điển đã đặt nền tảng cho một vài lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Adam Smith là người đặt nền tảng cho mô hình tăng trưởng cổ điển, dựa vào bên Cung của nền kinh tế với hàm sản xuất có biến phụ thuộc là sản lượng (Y) và các biến độc lập bao gồm lao động (L); máy móc thiết bị (K) và đất đai (T), một cách tổng quát, hàm sản xuất có dạng: Y = f (L, K, T). Các yếu tố dẫn tới tăng trưởng trong mô hình Cổ điển đó là tăng dân số, tăng đầu tư và tăng đất đai sử dụng vào sản xuất. Adam Smith lập luận tăng trưởng là quá trình tự củng cố bởi nền kinh tế vận hành theo quy luật lợi nhuận tăng theo quy mô và xác định để dành như “người tạo lập” nên đầu tư, từ đó dẫn tới tăng trưởng. Phân phối thu nhập là yếu tố quan trọng nhất quyết định tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế. Các nhà kinh tế theo Trường phái Cổ điển cho rằng lợi nhuận của các nhà sản xuất suy giảm không phải do suy giảm năng xuất cận biên mà do cạnh tranh giữa giới chủ về lao động dẫn tới tăng tiền lương của người lao động. Lý thuyết tăng trưởng cổ điển không xác định rõ mối liên kết giữa lạm phát với ảnh hưởng của thuế tới lợi nhuận và tăng trưởng, tuy vậy mối liên hệ giữa lạm phát và 2 tăng trưởng được ngầm hiểu là mối quan hệ tỷ lệ nghịch: tăng chi phí trả lương làm giảm lợi nhuận của nhà sản xuất và dẫn tới giảm sản lượng. 2. Lý thuyết Tân cổ điển Các nhà kinh tế theo Trường phái Tân cổ điển giả sử thị trường và kỳ vọng hợp lý phản ứng rất nhanh đến trạng thái cân bằng gần như tức thì, do vậy không có sự khác nhau nhiều giữa ngắn hạn và dài hạn, các biến động ngắn hạn và xu hướng dài hạn đều ít liên quan tới tổng cầu, nên quản lý tổng cầu không có tác dụng. Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển dựa vào sự thay thế giữa máy móc thiết bị và lao động trong Hàm sản xuất để đảm bảo tăng trưởng luôn ở trạng thái bền vững, vì vậy tình trạng phát triển không bền vững đề cập trong mô hình tăng trưởng Harrod-Domar với giả thiết hệ số sử dụng máy móc, thiết bị trong sản xuất luôn cố định đã được khắc phục. Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển giả thiết tiến bộ của công nghệ dùng vào sản xuất là một biến ngoại sinh và có thể áp dụng ngay vào sản xuất qua việc trang bị máy móc thiết bị mới hoặc cải tiến ngay máy móc thiết bị hiện đang sử dụng. Tính logic của mô hình tăng trưởng Tân cổ điển đã bị thực tiễn phản bác ở chỗ khi tiền lương của người lao động tăng lên (lợi nhuận của nhà sản xuất giảm), máy móc thiết bị không hoàn toàn thay thế được nhu cầu về lao động. Theo logic kinh tế, khi tiền lương tăng, lẽ ra các nhà sản xuất sẽ sử dụng nhiều máy móc thiết bị thay cho lao động. Nhưng máy móc cũng do lao động tạo ra nên giá của máy móc thiết bị cũng tăng lên khi tiền lương tăng. Vì vậy khi tiền lương tăng, các nhà sản xuất thường áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động hơn là áp dụng công nghệ sử dụng nhiều máy móc thiết bị. Robert Mundell là người đầu tiên của trường phái Tân cổ điển đưa ra cơ chế mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng. Theo mô hình của Mundell và một số nhà kinh tế cho rằng lạm phát có quan hệ tỷ lệ thuận đối với tăng trưởng. Hai lý do được viện dẫn để bảo vệ quan điểm này: Một là khi lạm phát tăng, luôn có độ trễ thời gian giữa tăng giá của sản phẩm đầu ra và tăng giá của sản phẩm đầu vào, đặc biệt là độ trễ về tăng tiền lương. Khi tiền lương được giữ ổn định trong giai đoạn khá dài sẽ làm tăng lợi nhuận cận biên, tăng quỹ đầu tư và khích lệ khả năng đầu tư của nhà sản xuất, điều này dẫn tới tăng đầu tư, tăng năng lực sản xuất của công ty và tăng trưởng kinh tế. Hai là lạm phát kéo theo việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư theo hướng mang mối lợi nhiều hơn cho nhóm có thu nhập cao (Nhóm này thường nắm giữ tài sản có lợi nhuận cao và thu nhập không phụ thuộc vào tiền lương). Nhóm thu nhập cao có tỷ lệ để dành cao hơn, vì vậy khi có lạm phát dẫn tới tăng để dành và đây là nguồn vốn để tăng đầu tư, làm giảm lãi suất dẫn tới tăng trưởng kinh tế. Cùng với quan điểm này, một số nhà kinh tế cho rằng lạm phát làm giảm giá trị tài sản của toàn bộ cộng đồng dân cư, để giá trị tài sản không bị suy giảm, người dân sẽ tăng để dành nhằm cơ cấu lại các loại tài sản họ đang nắm giữ. Tăng để dành đồng nghĩa với tăng đầu tư để tăng giá trị tài sản của họ, dẫn đến tăng trưởng kinh tế. 3. Lý thuyết Keynesian Lý thuyết tổng quát của Keynes ra đời từ thực tế cuộc Đại suy thoái kết hợp với kết quả của hơn nửa thế kỷ phát triển phát triển ý tưởng cân bằng tổng thể. Lý thuyết của Keynes mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng dựa vào mô hình của Tổng cung (AS) và Tổng cầu (AD). Trong ngắn hạn đường AS có hệ số góc dương và nhỏ 3 hơn 90o vì vậy khi có những thay đổi bên Cầu sẽ tác động vào lạm phát và sản lượng (Trong kinh tế vĩ mô và trong bài viết này thuật ngữ sản lượng được hiểu là GDP), cơ chế điều chỉnh trong ngắn hạn trong lý thuyết Keynes chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu lạm phát và sản lượng đều tăng – Lạm phát và sản lượng có mối quan hệ tỷ lệ thuận; giai đoạn tiếp theo lạm phát tiếp tục tăng nhưng sản lượng không tăng, thậm chí giảm (Giai đoạn “Đình lạm”) và sau đó lạm phát cũng sẽ giảm. Theo mô hình này, trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, tuy vậy sự đánh đổi này không diễn ra thường xuyên vì khi sản lượng giảm xuống dưới mức sản lượng tiềm năng (toàn dụng lao động), lạm phát cũng sẽ giảm. Trong dài hạn, đường Tổng cung (AS) là đường thẳng đứng với hệ số góc bằng 90o, vì vậy những thay đổi bên Cầu của nền kinh tế chỉ tác động vào giá cả và gây nên lạm phát. Các nhà kinh tế theo lý thuyết Keynes cho rằng điều chỉnh của thị trường và kỳ vọng tiến tới cân bằng rất chậm, những vấn đề về ngắn hạn có ý nghĩa quan trọng trong vận hành của nền kinh tế, vì vậy chính phủ cần có chính sách tài khóa và tiền tệ để tác động vào bên cầu. 4. Lý thuyết Keynes mới Lý thuyết tăng trưởng Keynes mới bắt nguồn từ trường phái Keynes với việc đưa ra khái niệm về sản lượng tiềm năng, nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng khi ở vào trạng thái toàn dụng lao động (Toàn dụng lao động được hiểu theo nghĩa thất nghiệp ở mức tỷ lệ tự nhiên – tỷ lệ thất nghiệp không làm tăng hoặc giảm lạm phát). Mô hình Keynes mới vận hành theo “Cơ chế lạm phát nội tại” nghĩa là lạm phát gây nên bởi các biến nội sinh của nền kinh tế: (1). Nếu chính sách kinh tế làm cho sản lượng (GDP) vượt mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, các yếu tố khác không đổi, khi đó lạm phát sẽ gia tăng vì các nhà sản xuất sẽ tăng giá sản phẩm và lạm phát nội tại xấu hơn. Nếu tiếp tục tình trạng này, nền kinh tế rơi vào trạng thái “đình lạm”; (2). Nếu chính sách kinh tế làm cho GDP giảm xuống dưới mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, các yếu tố khác không đổi, khi đó lạm phát sẽ giảm vì các nhà sản xuất sẽ cố gắng sử dụng hết tiềm năng của nền kinh tế bằng cách giảm giá dẫn tới lạm phát giảm (thiểu phát) và giảm tỷ lệ thất nghiệp; (3). Nếu chính sách kinh tế giữ cho GDP đứng ở mức sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và nền kinh tế không có các cú sốc bên Cung, khi đó tỷ lệ lạm phát sẽ không thay đổi. Điểm hạn chế của lý thuyết tăng trưởng Keynes mới ở chỗ các nhà kinh tế không biết được chính xác GDP tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và những chỉ tiêu này thay đổi theo thời gian. Mặt khác lạm phát luôn vận hành không cân xứng ở chỗ tăng lên nhanh nhưng giảm xuống chậm. 5. Lý thuyết tiền tệ Các nhà kinh tế theo Trường phái Tiền tệ, đi đầu là Milton Friedman quan tâm đến nét đặc trưng bên Cung của nền kinh tế trong dài hạn. Những người theo trường phái này tin rằng trong ngắn hạn, bất kỳ một tác động nào qua chính sách tài khóa và tiền tệ làm thay đổi tổng cầu, thay đổi sản lượng và việc làm là không thực tế, những lợi 4 ích trong dài hạn phải được ưu tiên hơn trong ngắn hạn, Trường phái này dựa vào Lý thuyết lượng tiền để giải thích nguyên nhân gây nên lạm phát. Có một số dạng mô tả Lý thuyết lượng tiền, chúng có bản chất giống nhau, chỉ khác nhau về cách thức thể hiện, dạng thức đơn giản là phương trình Cambridge mô tả thị trường tiền tệ cân bằng khi cung tiền (Ms) bằng Cầu tiền (Md), phương trình Cambridge được viết như sau: Ms = k. P. Y. Bên phải của phương trình biểu thị nhu cầu về tiền của nền kinh tế, với biến P biểu thị mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế; Y là tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh và k là hằng số, Cung tiền là biến ngoại sinh, được xác định qua chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Trong lý thuyết lượng tiền, các nhà kinh tế theo trường phái này giả sử Y không đổi và nhu cầu về tiền của nền kinh tế là một tỷ lệ cố định của GDP theo giá hiện hành. Lý thuyết về lượng tiền chỉ rõ khi Cung tiền tăng sẽ dẫn tới tăng giá của nền kinh tế, nói cách khác, lạm phát là sản phẩm của cung tiền tăng cao hơn tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế. Trong tác phẩm bất hủ: “Lịch sử tiền tệ của Hợp chủng quốc Hoa kỳ 1817-1960” Milton Friedman và Anna Schwart đã viết: “Vấn đề tiền tệ và giải thích những biến động về giá cả, sản lượng, việc làm luôn tìm thấy từ biến động của tiền tệ, Chính phủ chịu trách nhiệm về những biến động tiền tệ này”. Các nhà kinh tế theo Trường phái Tiền tệ luôn đề cập tới vai trò của Ngân hàng Trung ương với chức năng kiểm soát mức cung tiền, trực tiếp kiểm soát tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế, nếu Ngân hàng Trung ương giữ mức cung tiền ổn định, mức giá sẽ ổn định, từ đó ngụ ý vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ đối với biến động về giá cả của nền kinh tế. II. KIỂM CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà kinh tế đã sử dụng mô hình kinh tế lượng khác nhau để kiểm chứng bằng số liệu của các nước trên thế giới nhằm tìm ra câu trả lời liệu chăng tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong ngắn hạn theo dãy số thời gian hay trong dài hạn ở tất cả các nước hay cả hai mối quan hệ này đều tồn tại trong ngắn và dài hạn. Qua kiểm chứng số liệu của các nước bao gồm cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, với số liệu của giai đoạn 1950 – 2000, các nhà kinh tế đã có những phát hiện sau: 1. Lạm phát có thể gây tác hại đối với tăng trưởng Năm 1998, Atish Ghosh và Steven Phillips đã sử dụng số liệu về tăng trưởng GDP bình quân đầu người hằng năm theo giá so sánh và số liệu về lạm phát theo CPI bình quân năm của 145 nước trong giai đoạn 1960-1990 với 3603 hiện tượng quan sát và dùng phương pháp hồi quy đa biến theo các nhóm để kiểm chứng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Atish Ghosh và Steven Phillips cho rằng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không phải là mối quan hệ một chiều đơn giản đó là lạm phát tác động đến tăng trưởng hay tăng trưởng tác động đến lạm phát; giữa lạm phát và tăng trưởng có tác động qua lại phi tuyến tính. Tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng khác nhau trong cùng một chu kỳ kinh tế. Kết quả của kiểm chứng số liệu thể hiện qua các phát hiện chủ yếu sau: (1). Giữa lạm phát và tăng trưởng có quan hệ tỷ lệ nghịch; lạm phát không chỉ là yếu tố có ý nghĩa trong kiểm chứng thống kê mà còn là yếu tố quyết định quan trọng đối 5 ... - tailieumienphi.vn