Xem mẫu

  1. Luận văn Thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế - Các biện pháp điều chỉnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
  2. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, đều thực hiện chính sách kinh tế thị trường mở cửa. Chính điều này đã tạo cho quá trình quốc tế hoá giao lưu thương mại, giao lưu vốn đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng phát triển, đồng thời tác động trực tiếp vào nền kinh tế của mỗi nước. Từ đó, kinh tế đối ngoại dần dần đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực nó còn có những tác động xấu đến nền kinh tế trong nước. Chính vì vậy, vấn đề quản lý kinh tế đối ngoại trở nên vô cùng quan trọng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển vững mạnh và hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra. Để có thể đề ra các chính sách quản lý kinh tế đối ngoại, các chính sách phát triển kinh tế có hiệu quả, các nhà hoạch định chính sách luôn quan tâm đặc biệt đến những diễn biến trong các cân thanh toán quốc tế vì nó phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, để lập được một bảng cán cân thanh toán đầy đủ, chính xác và kịp thời là một việc khó khăn do phạm vi thu nhập số liệu khá rộng. Mặc dù số liệu cán cân thanh toán được thu thập bằng các phương pháp và kỹ thuật mẫu đáng tin cậy, nhưng do nguồn cung cấp thông tin quá đa dạng nên số liệu thống kê cuối cùng chỉ là con số ước tính về giá trị cán cân thanh toán quốc tế thực. Đồng thời để có thể phân tích, đánh giá được những diễn biến trong cán cân thanh toán và đưa ra các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán có hiệu quả cũng là một việc rất khó. Thêm vào đó, đối với Việt Nam, việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế mới chỉ chính thức bắt đầu từ năm 1990 cho nên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc phân tích và điều chỉnh cán cân thanh toán. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có sự nghiên cứu một cách sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn trong việc thiết lập, phân tích và điều
  3. chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp với mục tiêu và hoàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam. Trên cơ sở những kiến thức lý luận đ ược học tại Học viện Ngân hàng cũng như qua nghiên cứu tài liệu về cán cân thanh toán quốc tế, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế - Các biện pháp điều chỉnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” cho khoá luận của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Phân tích cơ sở lý luận của việc xác định thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế và việc điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế. - Phân tích thực trạng cán cân thanh toán quốc tế và việc điều chỉnh tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay. - Trên cơ sở các phân tích trên đề ra các biện pháp điều chỉnh các cân thanh toán quốc tế của Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế, xác định thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế và các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: + Về mặt lý thuyết: Phân tích cơ sở lý luận của việc xây dựng cán cân thanh toán quốc tế, tình trạng thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế và các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế. + Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay. Từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thích hợp đảm bảo sự phát triển cân đối cả b ên trong và bên ngoài của nền kinh tế. 4. Phương pháp nghiên cứu
  4. Khoá luận sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp và phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với vận dụng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. 5. Kết cấu của khoá luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khoá luận bao gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cán cân thanh toán quốc tế và điều chỉnh Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế và việc điều chỉnh tại Việt Nam Chương 3: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để đạt được kết quả nghiên cứu như đã trình bày, song do trình độ có hạn và thiếu kinh nghiệm thực tế nên khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện và nâng cao hơn nữa. Em cũng xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Hải và các thầy cô giáo trong khoa Tiền tệ – Tín dụng Quốc tế đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận.
  5. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH 1.1.Cán cân thanh toán quốc tế 1.1.1.Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế Để phục vụ cho việc thiết lập, phân tích v à điều chỉnh, theo quan điểm của Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cán cân thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa như sau: “ Cán cân thanh toán quốc tế là một bản thống kê được tổng hợp một cách có hệ thống các giao dịch kinh tế của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhất định. Các giao dịch, chủ yếu giữa người cu trú và người không cư trú, bao gồm các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ và thu nhập; các giao dịch về các tài sản và các khoản nợ tài chính đối với phần còn lại của thế giới; và các giao dịch (như quà tặng ) được xếp loại chuyển giao, mà đòi hỏi phải có các bút toán bù đắp để cân bằng - theo ý nghĩa kế toán- các giao dịch một chiều. Bản thân một giao dịch được nhìn nhận như một luồng kinh tế phản ánh sự phát sinh, sự biến đổi, sự trao đổi, sự chuyển giao, hay sự thanh toán các giá trị kinh tế và dẫn đến những thay đổi về quyền sở hữu hàng hoá hay các tài sản tài chính, cung cấp các dịch vụ, hay cung cấp lao động và vốn”. Tóm lại, cán cân thanh toán quốc tế của một nước là bản ghi chép có hệ thống tất cả các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú của nước lập báo cáo và
  6. những người cư trú ở phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm). Để nhất quán các nội dung phản ánh vào cán cân thanh toán quốc tế, IMF đã quy định chỉ ghi chép vào cán cân thanh toán của mỗi quốc gia các giao dịch kinh tế giữa “người cư trú” với “người không cư trú” của quốc gia đó. Mọi giao dịch kinh tế giữa người cư trú với nhau của cùng một quốc gia không được phản ánh trong cán cân thanh toán quốc tế. Khi thống kê cán cân thanh toán, việc phân biệt giữa người cư trú và người không cư trú là rất cần thiết do mối quan hệ giữa hệ thống tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán. Nhìn chung, khái niệm người cư trú và người không cư trú được hiểu theo luật định của từng quốc gia cụ thể và nó tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Ở Việt Nam, vấn đề này được quy định rõ trong Nghị định số 164/NĐ-CP ngày 16/11/1999. Người cư trú và người không cư trú ở đây bao gồm các cá nhân, các hộ gia đình, các công ty, các cơ quan đại diện cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế... Căn cứ để phân biệt giữa người cư trú và người không cư trú chủ yếu dựa vào khoảng thời gian sinh sống làm việc liên tục cần thiết phải có tại một quốc gia ( thường là một năm trở lên). Về nguyên tắc, tổ chức hoặc người nước ngoài sinh sống và làm việc ở nước sở tại từ một năm trở lên được coi là người cư trú của nước đó. Ngược lại, tổ chức hoặc người của nước sở tại sinh sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên được coi là người không cư trú ở nước đó. Tuy nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt như các công dân của nước khác đến học tập, du lịch, chữa bệnh và thăm viếng không kể thời gian d ài, ngắn bao nhiêu, đều được coi là người không cư trú (chỉ tạm trú). Ngược lại, các công dân đi học tập, du lịch, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài không kể thời gian dài, ngắn vẫn được coi là người cư trú. Đối với các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, lực lượng vũ trang của nước sở
  7. tại hoạt động ở nước ngoài cũng vậy, vẫn được coi là người cư trú của nước đó mà không phụ thuộc vào thời gian sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Đối với các công ty đa quốc gia có chi nhánh ở nhiều nước sẽ là người cư trú đồng thời tại nhiều quốc gia. Tuy vậy, để tránh trùng lặp thì chi nhánh đặt ở nước nào được coi là người cư trú của nước đó. Còn đối với các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB)... thì không được coi là những người cư trú của quốc gia nơi mà chúng đóng trụ sở. Tức là các tổ chức này được xem như là người không cư trú đối với mọi quốc gia. Do đó, các giao dịch kinh tế của chúng với người cư trú của nước sở tại được ghi chép vào cán cân thanh toán của nước đó. Vậy, giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú bao gồm các giao dịch sau: các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ; thu nhập của người lao động; đầu tư trực tiếp; đầu tư chứng khoán như tín phiếu, trái phiếu và cổ phiếu; quan hệ tín dụng; các hình thức đầu tư và các giao dịch khác làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ giữa người cư trú và người không cư trú; các khoản chuyển giao một chiều. 1.1.2. Nội dung cán cân thanh toán quốc tế Trước đây, mỗi quốc gia biên lập cán cân thanh toán quốc tế theo cách riêng của mình. Mỗi chính phủ thường có cơ quan riêng nhằm thực hiện công việc thống kê liên quan đến cán cân thanh toán. Do không có mẫu và phương pháp thống nhất để thống kê cán cân thanh toán cho nên mỗi quốc gia có phương pháp đo lường và trình bầy cán cân thanh toán khác nhau. Chính vì vậy, để có thể so sánh tình hình cán cân thanh toán giữa các quốc gia với nhau, hiện nay IMF đ ã công bố một mẫu cán cân thanh toán quốc tế thống nhất cho tất cả các nước thành viên. Theo IMF, cán cân thanh toán quốc tế bao gồm những khoản mục chủ yếu sau: 1.1.2.1.Cán cân vãng lai Cán cân vãng lai còn được gọi là tài khoản vãng lai, là một trong những bộ phận chính hình thành bảng cán cân thanh toán của một nước. Cán cân này phản
  8. ánh toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều. Do vậy, cán cân vãng lai được chia thành bốn hạng mục chi tiết là: hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều.  Hạng mục hàng hoá Hạng mục hàng hoá hạch toán các khoản thu, chi về xuất nhập khẩu hàng hoá trong kỳ. Chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu hàng hoá và các khoản chi để nhập khẩu hàng hoá được gọi là cán cân thương mại hay xuất khẩu hàng hoá ròng. Thông thường, đây là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cán cân vãng lai. Hàng hoá ở đây bao gồm: hàng hoá thông thường; hàng hoá gia công, chế biến; hàng nhiên liệu và hàng mua tại cảng; hàng sửa chữa; hàng viện trợ; vàng phi tiền tệ, các kim loại quý và đá quý; hàng quân sự. Giá trị kim ngạch ghi vào cán cân thương mại được đánh giá theo giá FOB nếu là hàng xuất khẩu và theo giá CIF nếu là hàng nhập khẩu. Tỷ giá sử dụng là tỷ giá tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.  Hạng mục dịch vụ Hạng mục dịch vụ hạch toán các khoản thu, chi về xuất nhập khẩu các loại hình dịch vụ. Chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu dịch vụ và các khoản chi để nhập khẩu dịch vụ được gọi là cán cân dịch vụ hay xuất khẩu dịch vụ ròng. Theo IMF, hạng mục dịch vụ có thể phân loại chi tiết như sau: + Dịch vụ vận tải (hàng hải, hàng không...) bao bồm: cước phí thuê các phương tiện chuyên chở có kèm đội lái, cước phí chuyên chở, cước phí thuê kho chứa, bến bãi, bảo hiểm... + Dịch vụ du lịch bao gồm: chi phí đi lại; chi phí thuê khách sạn, nhà nghỉ; chi phí ăn uống, mua sắm và các loại chi phí du lịch khác. + Dịch vụ bảo hiểm + Dịch vụ bưu chính, viễn thông, thông tin và tin học. + Các dịch vụ Tài chính- Ngân hàng
  9. + Các dịch vụ xây dựng + Các dịch vụ khác giữa người cư trú và người không cư trú như các giao dịch của các đại sứ quán, các nhà tư vấn, các cơ quan quân sự và quốc phòng; các giao dịch với các cơ quan khác như: phái đoàn viện trợ, các phái đoàn du lịch chính phủ, thông tin và các văn phòng thúc đẩy thương mại; các chi phí bản quyền và giấy phép kinh doanh; các dịch vụ phục vụ cá nhân. Tuỳ theo điều kiện của từng quốc gia m à có thể cán cân thương mại hoặc cán cân dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng doanh số của cán cân vãng lai. Nhưng trong những năm gần đây, doanh số xuất nhập khẩu các loại hình dịch vụ tăng lên nhanh chóng so với doanh số xuất nhập khẩu hàng hoá. Các loại hình dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh bao gồm: du lịch, vận tải biển, b ưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng.  Hạng mục thu nhập Hạng mục thu nhập bao gồm: + Thu nhập của người lao động là các khoản thu từ lao động gồm các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền hoặc là bằng hàng hoá do người không cư trú trả cho người cư trú. + Thu nhập đầu tư là các khoản thu từ vốn gồm: các khoản lợi nhuận từ đầu tư trực tiếp; các khoản lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá; thu nhập đầu tư khác như các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay (ngắn hạn, d ài hạn) giữa người cư trú và người không cư trú. Trong thống kê cán cân thanh toán, thu nhập từ việc cung cấp các tài sản phi tài chính, phi sản xuất như bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thương mại... được đưa vào hạng mục dịch vụ, không đưa vào phần thu nhập đầu tư.  Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều ghi chép các khoản chuyển giao không hoàn lại cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người cư trú và ngược lại. Bao gồm:
  10. + Các khoản viện trợ, quà tặng, quà biếu như: quà tặng về thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng hoá tiêu dùng khác của các chính phủ với mục đích cứu trợ; các khoản viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (tổ chức chữ thập đỏ quốc tế) bằng tiền hoặc bằng hàng trợ giúp dưới hình thức kỹ thuật... + Các khoản chuyển giao khác bằng tiền hoặc hiện vật như chuyển tiền của người lao động ở nước ngoài gừi về cho gia đình, tiền lương trả cho cư dân nước ngoài... Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều này phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú và người không cư trú. 1.1.2.2. Cán cân vốn và tài chính (loại trừ dự trữ quốc tế) Cán cân vốn và tài chính còn gọi là tài khoản vốn và tài chính. Cán cân này ghi chép các dòng vốn ra và vào của một quốc gia, tức là nó phản ánh sự chuyển dịch tư bản (vốn) của một nước với các nước khác. Các luồng vốn chuyển dịch bao gồm: + Luồng vốn ngắn hạn: là những luồng vốn giao dịch kéo dài dưới 12 tháng. Nó gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu là tín dụng thương mại ngắn hạn, tín dụng ngắn hạn của ngân hàng, các hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối... Ngày nay, luồng vốn ngắn hạn có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thanh toán quốc tế nói chung của một quốc gia do các luồng vốn đầu cơ tăng lên nhanh chóng trong môi trường tự do hoá tài chính. + Luồng vốn dài hạn: là những luồng vốn giao dịch kéo dài trên 12 tháng gồm các khoản mua, bán tài sản cố định ở nước ngoài (nhà xưởng, hầm mỏ, đất đai...), mua bán các giấy tờ có giá dài hạn; các khoản đi vay và cho vay dài hạn... + Chuyển giao vốn một chiều: gồm các khoản viện trợ không ho àn lại cho mục đích đầu tư; các khoản nợ được xoá giữa người cư trú và không cư trú; các loại tài sản bằng tiền, hiện vật của người cư trú di cư mang ra nước ngoài và của người không cư trú di cư mang vào trong nước lập báo cáo.
  11. Cán cân vốn và tài chính được chia thành cán cân vốn và cán cân tài chính. Cán cân vốn bao gồm hai hạng mục: chuyển giao vốn và các giao dịch về tài sản phi tài chính, phi sản xuất. Căn cứ theo chức năng, cán cân tài chính được chia thành các phần sau đây: đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư vào giấy tờ có giá (như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, trái phiếu ngắn hạn, các công cụ thị trường tiền tệ và các công cụ tài chính phái sinh) và đầu tư khác (gồm những khoản vay nợ d ài hạn - trung hạn - ngắn hạn, tín dụng thương mại, các khoản tiền gửi và các tài sản có, tài sản nợ khác. Thông thường, để thuận tiện trong việc theo dõi tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế, người ta tổng hợp cán cân vãng lai với cán cân vốn và tài chính vào một cán cân chung được gọi là cán cân tổng thể. Kết quả của cán cân tổng thể này thể hiện tình trạng kinh tế đối ngoại của một quốc gia trong một thời kỳ (hoặc tại một thời điểm) nhất định. 1.1.2.3. Khoản mục dự trữ chính thức Khoản mục dự trữ chính thức còn được gọi là tài khoản dự trữ chính thức, bao gồm: vàng tiền tệ, ngoại hối, quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại IMF và tài sản có nước ngoài khác. Khoản mục này phản ánh những thay đổi về các tài sản dự trữ chính thức của một quốc gia. Các tài sản dự trữ chính thức là các tài sản tài chính nước ngoài nằm trong tay các cơ quan quản lý tiền tệ trong nước (Ngân hàng Trung ương - NHTƯ) để tài trợ và điều hoà sự mất cân đối trong cán cân thanh toán. Tức là NHTƯ thường dự trữ một khoản ngoại hối nhất đ ịnh nhằm điều chỉnh tỷ giá khi tỷ giá có nguy cơ biến đổi ngoài mong muốn. Khi số dư tài khoản vãng lai và tài khoản vốn là âm thì NHTƯ phải rút từ quỹ dự trữ ngoại hối, vay NHTƯ nước ngoài hoặc IMF để bù đắp (ghi dấu dương trong cán cân thanh toán). Và ngược lại, khi số dư tài khoản vãng lai và tài khoản vốn là dương thì NHTƯ có nguồn để tăng dự trữ ngoại hối, trả nợ nước ngoài hoặc trả nợ IMF (ghi dấu âm trong cán cân thanh toán).
  12. Tóm lại, giá trị của tài khoản dự trữ chính thức đúng bằng với kết quả của cán cân tổng thể nhưng ngược dấu. Thực tế đây là một dạng “cân đối tài khoản kế toán” để tổng các hạng mục trong cán cân thanh toán quốc tế phải bằng không. Nhìn vào hạng mục này, có thể thấy ngay dự trữ ngoại hối của một quốc gia đ ược tăng thêm hay giảm đi. Ngoài các khoản mục nêu trên, trong cán cân thanh toán quốc tế còn có một khoản mục nữa được gọi là lỗi và sai sót thống kê. Khoản mục này được đưa vào cán cân thanh toán để đảm bảo sự cân bằng kế toán đáp ứng nguyên tắc kế toán (tổng nợ bằng tổng có). Số dư của khoản mục này nếu có là do sự sai lệch về thống kê do nhầm lẫn, bỏ sót hoặc không thu thập được số liệu trong các hạng mục của cán cân thanh toán. Số dư này sẽ bằng không nếu tất cả các khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế đã được thống kê chính xác. Giá trị của khoản mục này nếu được ghi, chỉ là ước tính sự thay đổi về giá trị của tư bản đầu tư, tái đầu tư, về giá cả khi hạch toán (giữa giá CIF và giá FOB). 1.1.3. Nguyên tắc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán quốc tế là một trong những tài khoản kinh tế vĩ mô quan trọng, nó phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại của thế giới. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác như bảng cân đối ngân sách, cân đối tiền tệ, hệ thống tài khoản quốc gia. Chính vì vậy, khi thiết lập cán cân thanh toán quốc tế cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:  Nguyên tắc hạch toán kép: Theo quan điểm kế toán, cán cân thanh toán quốc tế luôn cân bằng. Bởi vì, một giao dịch quốc tế được hạch toán trong cán cân thanh toán theo nguyên tắc ghi sổ kép giống như các hạch toán kế toán ở các công ty kinh doanh. Nghĩa là một khoản giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú được ghi hai lần trong cán cân thanh toán: một ghi nợ và một ghi có (đối ứng) với giá trị như nhau.
  13. + Ghi nợ: trong trường hợp phải chi trả cho nước ngoài, nghĩa là những giao dịch làm cho quỹ tiền tệ ở trong nước (của chính phủ hoặc tư nhân) giảm đi. Trong cán cân thanh toán, những khoản này được mang dấu âm (-). + Ghi có: trong trường hợp nhận được chi trả từ nước ngoài, tức là những khoản giao dịch mang về cho quốc gia một lượng ngoại tệ nhất định. Trong cán cân thanh toán, những khoản này được mang dấu dương (+). Nhìn chung, những khoản ghi dấu âm (ghi nợ) thể hiện việc mua thực tế ngoại tệ được thực hiện bởi những người cư trú nhằm chi trả cho những nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ và các tài sản khác từ nước ngoài. Nó phản ánh luồng vốn ra của một quốc gia. Tương tự, những khoản ghi dấu d ương (ghi có) thể hiện việc bán thực tế những ngoại tệ thu được của người cư trú do xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và các tài sản khác. Nó phản ánh luồng vốn vào của một quốc gia.  Nguyên tắc hạch toán trên cơ sở số phát sinh Nguyên tắc này đảm bảo rằng các giao dịch quốc tế được hạch toán tại thời điểm mà giá trị kinh tế được tạo ra, được chuyển giao và trao đổi. Bởi vì, khi hạch toán các giao dịch quốc tế trong cán cân thanh toán, chúng ta sử dụng số đến hạn chứ không phải số thực trả. Hơn nữa, nguyên tắc này còn tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích mối quan hệ qua lại giữa khu vực tài chính và các khu vực khác trong nền kinh tế.  Nguyên tắc hạch toán trị giá toàn bộ và trị giá ròng Các hạng mục của cán cân vãng lai được đánh giá trên cơ sở trị giá toàn bộ để phù hợp với mối quan hệ giữa các giao dịch của cán cân vãng lai với hệ thống tài khoản quốc gia. Các hạng mục của cán cân vốn và tài chính không kể đầu tư trực tiếp, được đánh giá trên cơ sở trị giá ròng. Bởi vì, chúng ta không có số liệu trên cơ sở trị giá toàn bộ và có những thay đổi của Bảng tổng kết tài sản được đưa vào cán cân vốn và tài chính trên cơ sở trị giá ròng.  Nguyên tắc định giá các giao dịch
  14. Trị giá các giao dịch quốc tế ghi trong cán cân thanh toán đều đ ược tính theo giá thị trường. Xét từ góc độ cán cân thanh to án, giá thị trường là số tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra để mua một loại hàng hoá nào đó từ người bán. Theo định nghĩa này, giá thị trường là giá của một giao dịch cụ thể trong các các điều kiện nhất định. Tuy nhiên, đối với các hàng hoá xuất nhập khẩu thì trị giá giao dịch không bao gồm chí phí vận tải, bảo hiểm. Các chi phí này được ghi chép trong “hạng mục dịch vụ”.  Các thời kỳ và thời gian ghi chép Về nguyên tắc, thời kỳ để ghi chép các dòng giao dịch của cán cân thanh toán có thể có độ dài bất kỳ. Còn về độ dài của khoảng thời gian ghi chép thì còn phụ thuộc vào tần số thu thập số liệu. Cho nên, tuỳ thuộc vào từng quốc gia mà thời gian ghi chép được tính theo năm hoặc theo quý. Nhưng vẫn phải tuân theo quy tắc cả hai bên trong giao dịch quốc tế đều ghi chép giao dịch này khi có sự thay đổi hợp pháp về quyền sở hữu.  Đơn vị tiền tệ hạch toán và tỷ giá quy đổi Đồng tiền được sử dụng để ghi chép hạch toán trong cán cân thanh toán quốc tế tuỳ thuộc vào địa vị tiền tệ của từng quốc gia. Nhưng để thuận tiện cho việc so sánh đối chiếu giữa các nước và cũng gần như là thông lệ quốc tế, các nước thường sử dụng đồng đô la Mỹ (USD). Tỷ giá quy đổi (tỷ giá trên thị trường hiện hành thời gian hạch toán) được sử dụng để chuyển đổi các số liệu trong các giao dịch sang số liệu tính toán. 1.2. Vấn đề thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế 1.2.1. Khái niệm về mất cân bằng cán cân thanh toán (thặng dư và thâm hụt) Xét từ góc độ hạch toán, cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia luôn luôn được cân bằng vì nó được lập theo nguyên tắc bút toán kép. Tức là, trong cán cân thanh toán, tổng các bút toán ghi có đúng bằng tổng các bút toán ghi nợ. Tuy nhiên, cán cân thanh toán luôn cân bằng không có nghĩa là tất cả các cán cân thành phần đều phải trong trạng thái cân bằng. Ví dụ, cán cân vãng lai có thể thâm hụt
  15. trong khi cán cân vốn và tài chính thặng dư. Vì vậy, khi xem xét khái niệm thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán, các nhà kinh tế luôn phải phân biệt các giao dịch tự định và các giao dịch điều chỉnh. Bởi vì, về nguyên tắc, các giao dịch được ghi trong cán cân thanh toán được chia thành hai loại chính: các khoản giao dịch tự địnhvà các khoản giao dịch tự điều chỉnh. + Giao dịch tự định là những giao dịch được thực hiện vì lợi ích bản thân chúng. Các tài khoản giao dịch tự định ghi các giao dịch độc lập, không phụ thuộc vào trạng thái cán cân thanh toán của nước lập báo cáo. Các giao dịch trong cán cân vãng lai và cán cân vốn do các hộ gia đình, các công ty, cơ quan chính phủ trung ương và địa phương thực hiện được xếp vào các giao dịch tự định. + Giao dịch điều chỉnh là những giao dịch không được thực hiện vì lợi ích bản thân nó. Hay nói cách khác, tất cả các giao dịch do cơ quan tiền tệ tiến hành nhằm cân bằng cán cân thanh toán chính là các giao dịch điều chỉnh. Các tài khoản giao dịch điều chỉnh ghi chép các giao dịch để bù đắp cho chênh lệch của các giao dịch tự định. Như vậy, cán cân thanh toán thặng dư khi tổng số các khoản thu tự định (những khoản ghi có) lớn hơn tổng số các khoản chi tự định (những khoản ghi nợ). Tức là khi đó số tổng số dư của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn dương. Và cán cân thanh toán thâm hụt khi tổng số các khoản thu tự định nhỏ hơn tổng số các khoản chi tự định. Tức là khi đó tổng số dư của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn âm. Còn khi số dư của các giao dịch tự định bằng không có nghĩa là tổng số các khoản thu tự định bằng tổng số các khoản chi tự định thì cán cân thanh toán cân bằng. Tóm lại, cán cân thanh toán quốc tế cân bằng, thặng d ư hay thâm hụt đều được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định và tổng số những khoản chi tự định. + Thu tự định = Chi tự định  cán cân thanh toán cân bằng + Thu tự định > Chi tự định  thặng dư cán cân thanh toán
  16. + Thu tự định < Chi tự định  thâm hụt cán cân thanh toán Do cán cân thanh toán là một đồng nhất thức nên ta có: Tổng các giao dịch tự định + Tổng các giao dịch điều chỉnh = 0 hay Tổng các giao dịch tự định = - Tổng các giao dịch điều chỉnh Do đó, đo lường sự mất cân bằng cán cân thanh toán cũng có thể xác định như là số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh. Tuy nhiên, trong thực tế, để phân biệt được giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh là hết sức khó khăn. Vấn đề là ở chỗ những giao dịch kinh tế nào được xếp vào loại giao dịch tự định và những giao dịch kinh tế nào được xếp vào loại giao dịch điều chỉnh. Bất đồng trong quan điểm về vấn đề này dẫn đến xác định trạng thái cán cân thanh toán (thâm hụt hay thặng d ư) không đồng nhất. Khó khăn trong xác định tính tự định hay tính điều chỉnh của giao dịch kinh tế xuất phát từ thực tế khó có thể xác định chính xác động cơ của giao dịch. Ví dụ, nếu dòng vốn ngắn hạn đầu tư vào thị trường nội địa do lãi suất nội địa cao hơn lãi suất nước ngoài thì khi đó dòng vốn ngắn hạn thuộc loại tự định. Tuy nhiên, nếu dòng vốn ngắn hạn đó được vay để tài trợ cho hoạt động nhập khẩu thì được xếp vào tài khoản điều chỉnh. Chính khó khăn này làm nảy sinh các khái niệm khác nhau về mất cân bằng cán cân thanh toán. Nói chung, để phản ánh trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia, người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổng hợp cán cân vãng lai với cán cân vốn và tài chính). Còn đối với các nước đang phát triển thì người ta lại quan tâm nhiều hơn tới cán cân vãng lai mà cụ thể là cán cân thương mại. 1.2.2. Phân loại mất cân bằng cán cân thanh toán Căn cứ vào bản chất, người ta chia mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế thành hai loại: mất cân bằng tạm thời và mất cân bằng cơ bản. Về nguyên tắc, mất cân đối tạm thời thường chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, do các xáo trộn ngoại lai có tính chất thời vụ hay tính chu kỳ. Mất cân đối tạm thời có khả năng và có thể được tài trợ bằng cách thay đổi dự trữ quốc tế.
  17. Chẳng hạn như trong trường hợp thâm hụt cán cân thanh toán tạm thời quốc gia đó có thể rút ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối để bù đắp. Mặt khác, mất cân bằng cơ bản lại mang tính thường xuyên, nó có xu hướng kéo dài, dai dẳng. Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân đối cơ bản là do sự mất cân đối sâu sắc trong nền kinh tế các nước. Trong trường hợp thâm hụt cơ bản, quốc gia đó có thể thoả thuận với IMF phá giá đồng tiền với mục đích giải quyết thâm hụt và vay ngoại tệ để tài trợ cho việc thực hiện chính sách đó. Trong trường hợp phải đối phó với thâm hụt cơ bản, một nước có thể phá giá đồng tiền trong khoảng dưới 10% mà IMF có thể không phản đối. Nhưng trong trường hợp phá giá nhiều hơn 10% thì phải được sự thống nhất của IMF. Chính vì vậy, đối với mất cân bằng cơ bản thì cần có một sự điều chỉnh thật sự. Quá trình điều chỉnh các mất cân đối cơ bản của cán cân thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua cơ chế điều chỉnh như thu nhập, tiền tệ và tỷ giá. Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân biệt giữa mất cân đối tạm thời và mất cân đối cơ bản là rất khó. Cho nên, các quốc gia cần thực hiện việc phân tích tình trạng cán cân thanh toán quốc tế một cách sâu sắc nhằm đ ưa ra được các biện pháp, cơ chế điều chỉnh mất cân bằng cán cân thanh toán cho phù hợp với từng thời kỳ. 1.2.3. Mất cân bằng cán cân vãng lai - mục tiêu điều chỉnh của các nước đang phát triển. Tình trạng cán cân vãng lai luôn là một bộ phận không thể thiếu được trong phân tích kinh tế vĩ mô đối với các nền kinh tế mở. Nó phản ánh đúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế. Đặc biệt, nó có khả năng ảnh hưởng trực tiếp và nhanh chóng đến các chỉ tiêu quan trọng của nền kinh tế như tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế nội địa và nước ngoài. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển đều quan tâm đến việc phân tích cán cân vãng lai để có thể đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp.
  18. Như chúng ta đã biết, cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế của một nước với phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao một chiều. Hay nói cách khác, nó là tổng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M), cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NF) và chuyển khoản ròng từ nước ngoài (NTR). Như vậy, cán cân vãng lai (CA) sẽ bằng: CA = X-M + NF + NTR + Cán cân vãng lai thặng dư khi: X-M + NF + NTR > 0 + Cán cân vãng lai thâm hụt khi: X-M + NF + NTR < 0 + Cán cân vãng lai cân bằng khi: X-M + NF + NTR = 0 Nếu thặng dư, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trú lớn hơn so với chi cho người không cư trú. Hay nói cách khác, quốc gia này tăng thu nhập từ nước ngoài, từ đó tăng tích luỹ tài sản quốc tế ròng. Nếu thâm hụt, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trú thấp hơn so với chi cho người không cư trú. Hay nói cách khác, quốc gia này đang giảm thu nhập từ nước ngoài tức là giảm dần ngoại tệ hoặc tích luỹ thêm nghĩa vụ nợ nước ngoài. Tuy vậy, mặc dù cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của một quốc gia đối với phần thế giới còn lại tăng lên nhưng không phải bao giờ cũng xấu. Đôi khi thiếu hụt tài khoản vãng lai còn thể hiện sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào để phát triển sản xuất tăng xuất khẩu và tăng sản lượng. Không phải mọi sự thiếu hụt cán cân vãng lai đều đưa đến một cuộc khủng hoảng. Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng chịu đựng thiếu hụt của cán cân vãng lai trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế. Để có thể đánh giá đ ược khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai cuả một quốc gia thì ta phải dựa vào khả năng thanh toán của quốc gia đó. Khả năng thanh toán của một quốc gia là khả năng tạo ra thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai (không bao gồm các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả nợ hiện có của quốc gia đó. Tức là, thâm hụt hiện tại chưa hẳn đã là kết quả xấu nếu đảm bảo thặng dư trong tương lai. Trên quan điểm này, cũng cần quan tâm tới cơ cấu
  19. hàng hoá nhập khẩu trong cán cân thanh toán. Nếu hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu thì đây có thể là một dấu hiệu không tốt. Nhưng nếu máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn thì cơ cấu này có thể đảm bảo thúc đẩy xuất khẩu trong tương lai, tạo ra thặng dư ngoại tệ bù dắp thâm hụt cán cân vãng lai. Để đánh giá được khả năng thanh toán của một quốc gia (hay khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai), người ta thường dùng các chỉ số kinh tế vĩ mô như: tỷ lệ xuất khẩu so với GDP, tỷ giá hối đoái thực tế, tiết kiệm và đầu tư nội địa, cán cân ngân sách... Như vậy là đối với một nền kinh tế có cơ sở xuất khẩu lớn, tỷ giá hối đoái thực tế sát với tỷ giá thực, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao, không có thâm hụt ngân sách lớn thì những mất cân bằng lớn của cán cân vãng lai ít có khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Còn nếu một quốc gia bị thâm hụt cán cân vãng lai trong tình trạng lạm phát cao, tăng trưởng thấp thì hậu quả của thâm hụt sẽ là vấn đề đáng lo ngại hơn rất nhiều so với khi quốc gia đó đang trong tình trạng tăng trưởng cao và lạm phát thấp. Ngoài ra, số dư cán cân vãng lai là số dư của tất cả các hạng mục trong cán cân vãng lai (cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập, chuyển giao vãng lai một chiều) và bằng tổng tất cả các khoản mục tài trợ cho cân bằng tài khoản vãng lai. Xét trên ý nghĩa kinh tế vĩ mô rộng hơn thì cán cân vãng lai phản ánh chênh lệch giữa tổng thu nhập quốc dân khả dụng (GNDI) và tổng chi tiêu (hấp thụ) của nền kinh tế, hay chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của một quốc gia. Điều này chứng tỏ rằng cán cân vãng lai có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố khác trong nền kinh tế. Những mối liên hệ này càng nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của cán cân vãng lai với vai trò là trung tâm kết nối nền kinh tế trong nước với phần còn lại của thế giới. Chính vì vậy, tình trạng thặng dư hay thâm hụt cán cân vãng lai có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia và là mục tiêu điều chỉnh của các quốc gia đang phát triển trên thế giới. 1.3. Vấn đề điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế 1.3.1. Các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế
  20. 1.3.1.1. Cơ chế điều chỉnh tỷ giá Các quốc gia khác nhau áp dụng chế độ tỷ giá khác nhau tuỳ thuộc vào tình trạng nền kinh tế của mỗi nước và mức độ kiểm soát tỷ giá của chính phủ. Một quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi tức là quốc gia đó cho phép đồng tiền của nó tự do tăng hay giảm trên thị trường nhằm phản ứng lại những thay đổi trong cung cầu đồng tiền. Ngược lại, một quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá cố định tức là mọi tỷ giá hối đoái đều do chính phủ đặt ra và điều chỉnh trong ngắn hạn. H ành động thay đổi tăng hay giảm tỷ giá (tăng hay giảm giá trị đồng ngoại tệ) của chính phủ đ ược gọi là phá giá hay nâng giá đồng nội tệ. Sự thay đổi về giá của một đồng tiền dẫn đến làm thay đổi giá trị trao đổi của đồng tiền đó. Thực tế cho thấy, cán cân thanh toán quốc tế chịu chi phối bởi cơ chế điều chỉnh tỷ giá. Mà việc áp dụng cơ chế điều chỉnh tỷ giá như thế nào để có thể cải thiện cán cân thanh toán của một quốc gia còn phụ thuộc vào chế độ tỷ giá của quốc gia đó. Việc điều chỉnh tỷ giá tức là việc phá giá hay nâng giá đồng tiền có tác động khác nhau đến cán cân thanh toán. Phá giá đồng tiền có xu hướng thúc đẩy cạnh tranh quốc tế và góp phần làm giảm thâm hụt cán cân thanh toán của một nước do nó giảm được chi phí và giá cả. Nhưng nó cũng có thể làm xấu đi cán cân thanh toán của một quốc gia. Có ba phương pháp để xem xét trong điều kiện nào thì việc phá giá đồng tiền có tác dụng cải thiện hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế, đó là: phương pháp hệ số co giãn (the elasticity approach), phương pháp hấp thụ (the absorption approach) và phương pháp tiền tệ (the monetary approach).  Phân tích tác động của phá giá đồng tiền theo phương pháp hệ số co giãn Để xét sự thay đổi nhu cầu hàng hoá theo giá, người ta dựa vào hệ số co giãn nhu cầu. Hệ số co giãn nhu cầu thể hiện sự đáp lại của người mua đối với những thay đổi trong giá cả. Nó phản ánh phần trăm thay đổi trong số lượng nhu cầu phát sinh từ một phần trăm thay đổi trong giá. Hệ số co giãn nhu cầu có thể được biểu thị như sau: Hệ số co giãn = (∆Q/Q)/(∆P/P)
nguon tai.lieu . vn