Xem mẫu

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH PHẠM HỒNG PHONG CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC GIỮA CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT HÀ NỘI – 2021
  2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH PHẠM HỒNG PHONG CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC GIỮA CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Mã số: 9 38 01 06 Người hướng dẫn khoa học: GS,TS. TRẦN NGỌC ĐƯỜNG HÀ NỘI - 2021
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Đề tài luận án được tôi nghiên cứu, sử dụng các số liệu, trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và tuân theo quy định về thực hiện đề tài luận án. Tôi chịu trách nhiệm về các nội dung trình bày trong luận án. Tác giả Phạm Hồng Phong
  4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 8 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8 1.2. Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 25 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC GIỮA CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ QUYỀN TƯ PHÁP 29 2.1. Một số khái niệm cơ bản, đặc điểm, cơ cấu, vai trò cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp 29 2.2. Các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp 55 2.3. Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt Nam 62 Chương 3: SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC GIỮA CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 66 3.1. Khái quát sự hình thành và phát triển cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam 66 3.2. Thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam hiện nay 78 3.3. Thực trạng vận hành cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam 91 3.4. Đánh giá chung về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam 104 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC GIỮA CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP VÀ QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 121 4.1. Quan điểm xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam 121 4.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam 124 KẾT LUẬN 154 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 155 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC 163
  5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CQĐP : Chính quyền địa phương CQNN : Cơ quan nhà nước HĐND : Hội đồng nhân dân QLNN : Quyền lực nhà nước TAND : Tòa án nhân dân UBND : Uỷ ban nhân dân UBTVQH : Uỷ ban thường vụ Quốc hội VAHC : Vụ án hành chính VBPL : Văn bản pháp luật VKS : Viện Kiểm sát VKSND : Viện Kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
  6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Quyền lực nhà nước (QLNN) là thuộc tính của nhà nước, khẳng định ưu thế và tầm quan trọng của nhà nước so với các tổ chức khác của hệ thống chính trị trong quản lý xã hội. Tuy nhiên, QLNN bên cạnh khả năng vượt trội bởi tính hướng đích hiệu quả, sức mạnh bắt buộc trong điều chỉnh các quan hệ xã hội để thiết lập, duy trì trật tự xã hội thì còn có yếu tố cấu thành khách quan gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nó là sự tha hóa của QLNN. Sự tha hóa của QLNN luôn có nguy cơ đe dọa phá hủy tất cả các thành quả của chính nó, thông qua việc phá vỡ các giới hạn trật tự, nền tự do dân chủ và thành tựu nhân quyền mà QLNN tạo ra. Ở nước ta, một trong những nguyên tắc nền tảng của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân là nguyên tắc “Tất cả QLNN thuộc về Nhân dân” [42]. Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong các Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và được thể chế hóa bằng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc “Tất cả QLNN thuộc về Nhân dân” xuất phát từ bản chất QLNN có nguồn gốc từ Nhân dân. Nhân dân thành lập nên Nhà nước, ủy quyền cho Nhà nước, các cơ quan nhà nước (CQNN) thực hiện quyền lực nhân dân. Để bảo đảm cho QLNN không bị lũng đoạn, các CQNN không thể lạm dụng quyền lực được giao, cần phải xây dựng một cơ chế kiểm soát việc thực hiện QLNN một cách minh bạch và chặt chẽ. Đây cũng là đòi hỏi tất yếu của nguyên tắc tất cả QLNN thuộc về Nhân dân, bảo đảm ngăn chặn sự lạm dụng QLNN, xâm phạm chủ quyền nhân dân, bảo đảm cho Nhân dân luôn ở vị thế là chủ thể tối cao của QLNN. Chính vì thế, Hiến pháp năm 2013 khẳng định “QLNN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3 Điều 2). Trong các cơ chế kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện QLNN thì cơ chế kiểm soát giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp đóng vai trò quan trọng, bởi vì: Thứ nhất, quyền hành pháp với chức năng nhiệm vụ của mình, hoạch định chính sách và tổ chức thi hành pháp luật trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, có tác động đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Do vậy,
  7. 2 việc lạm dụng quyền hành pháp có nguy cơ xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Trong khi đó, quyền tư pháp với chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, có khả năng tác động, ngăn chặn quyền hành pháp trong việc ban hành, thực hiện những chính sách gây ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân. Thứ hai, các chính sách do quyền hành pháp hoạch định được chuyển hóa thành quy định của pháp luật để đưa vào cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, pháp luật không bao giờ có thể dự liệu được tất cả mọi tình huống phát sinh trong thực tiễn của đời sống. Vì vậy, về nguyên tắc, trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, cơ quan thực hiện quyền hành pháp phải thực hiện một cách chủ động, sáng tạo để thích ứng kịp thời với những diễn biến đa dạng và sinh động của thực tiễn đời sống. Tuy nhiên, để bảo đảm cho việc thực hiện quyền hành pháp không đi quá giới hạn, đòi hỏi cần xây dựng cơ chế ngăn cản sự lạm quyền của cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Trong đó, cơ quan thực hiện quyền tư pháp phải đóng vai trò là chốt chặn, ngăn cản sự lạm quyền của cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Thứ ba, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của cơ quan tư pháp được thực hiện thông qua chức năng xét xử của tòa án. Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật, thực hiện chức năng xét xử. Tức là, cơ quan tư pháp, căn cứ vào chính sách do cơ quan hành pháp hoạch định được chuyển hóa thành quy định của pháp luật để thực hiện chức năng của mình. Để bảo vệ chính sách đã được luật hóa, cơ quan hành pháp cần kiểm soát hoạt động của cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của quyền tư pháp là độc lập, cơ quan hành pháp không thể tác động trực tiếp vào hoạt động xét xử của tòa án, mà thông qua khả năng tác động đến tổ chức nhân sự của tòa án, bảo đảm việc lựa chọn thẩm phán của tòa án đáp ứng được các yêu cầu về phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Để bảo đảm cho việc kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp có hiệu lực và hiệu quả, trước hết, đòi hỏi xây dựng cơ chế pháp lý kiểm soát hoạt động thực hiện QLNN giữa các cơ quan này. Tuy nhiên, kể từ khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, chưa có nhiều thay đổi trong các thể chế pháp lý cũng như thực tế thực hiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa hai nhóm cơ quan nêu trên. Điều đó dẫn đến cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN nói chung, kiểm soát QLNN giữa các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư
  8. 3 pháp nói riêng chưa hình thành và phát huy hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài: “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án Mục đích của luận án là nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp; đồng thời, nghiên cứu, xây dựng luận cứ thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Để thực hiện được mục đích trên đây, luận án có những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp trên các phương diện làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. Thứ hai, nghiên cứu vận dụng lý luận trong và ngoài nước về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp để làm sáng rõ cơ sở lý luận cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta. Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta hiện nay trên các phương diện những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, bất cập. Thứ tư, đề xuất những quan điểm, luận giải tính khả thi của các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án Luận án nghiên cứu các quan điểm lý luận khoa học với những tư tưởng, quan điểm về tổ chức QLNN; cơ chế kiểm soát QLNN nói chung, cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp nói
  9. 4 riêng; các quy định của Hiến pháp và luật về tổ chức cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền tư pháp; thực tiễn kiểm soát quyền lực giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. 3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án - Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các nội dung những vấn đề liên quan đến việc xác định cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp; nghiên cứu thực tiễn cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp và hoàn thiện cơ chế này. Việc nghiên cứu so sánh cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở một số nước trên thế giới nhằm mục đích tham khảo và làm tăng tính thuyết phục cho những lập luận, phân tích, đánh giá và kiến nghị hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta hiện nay. - Về phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay. Bên cạnh đó, với mục đích so sánh, tham khảo, luận án có nghiên cứu khái quát cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp theo quy định của các Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu của luận án Việc nghiên cứu đề tài luận án được tiếp cận dựa trên cơ sở lý luận sau: - Cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về tổ chức, kiểm soát QLNN, tổ chức bộ máy nhà nước. - Các học thuyết chứa đựng những tư tưởng, quan điểm về nền dân chủ pháp quyền, về tổ chức QLNN, tổ chức bộ máy nhà nước. Những học thuyết, triết lý này được trình bày trong tác phẩm của các nhà tư tưởng, chính trị, luật học, được vận dụng để phân tích nguyên tắc kiểm soát QLNN, kiểm soát QLNN giữa cơ quan
  10. 5 thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp; vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các thiết chế thực hiện quyền hành pháp, quyền tư pháp. - Các quan điểm, chủ trương cải cách bộ máy nhà nước của Đảng định hướng cho việc tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. - Các quan điểm của Đảng về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới tổ chức và hoạt động nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. 4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các quy luật và các phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng để nghiên cứu về quá trình phát triển nhận thức của xã hội về QLNN, kiểm soát QLNN nói chung, cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và tư pháp nói riêng. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu các tài liệu phục vụ quá trình xây dựng tổng quan tình hình nghiên cứu ở Chương 1; nghiên cứu các vấn đề lý luận và kinh nghiệm của các nước ở Chương 2; nghiên cứu thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam tại Chương 3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận án. Thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp này hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học của cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp; phân tích, làm rõ thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam; đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng này. Trên cơ sở đó, luận án phân tích quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. Phương pháp đánh giá, tổng kết thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 3, khi nghiên cứu thực trạng thể chế, thiết chế tổ chức bộ máy để đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập của cơ chế pháp lý kiểm soát
  11. 6 QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng này. Phương pháp so sánh và dự báo: Phương pháp này được sử dụng giúp cho việc nhận diện chuẩn xác về những điểm tương đồng và khác biệt của cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam trong từng thời kỳ phát triển, từng giai đoạn lịch sử cụ thể; giữa cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN ở Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới; sự đồng hành hay bất cập giữa cơ sở lý thuyết và pháp lý với thực tiễn cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án xác định những thiếu vắng và yêu cầu hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN trong xu thế vận động, phát triển để dự báo và chọn lọc những tri thức khoa học từ thực tiễn nhằm đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 4 của luận án. 5. Những đóng góp mới của luận án Việc nghiên cứu đề tài luận án góp phần triển khai, thực hiện nguyên tắc kiểm soát QLNN mới được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Đây là một trong số công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và chuyên biệt về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam trên cả phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn. Dưới góc độ tiếp cận của Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, đề tài luận án có những đóng góp mới sau: Một là, luận án kế thừa, tổng hợp các công trình đi trước và bổ sung vào hệ thống lý luận, các khái niệm về cơ chế kiểm soát QLNN; cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp; các lý thuyết liên quan đến tổ chức thực hiện QLNN, cơ chế kiểm soát về QLNN nói chung, cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp nói riêng phù hợp với Việt Nam. Hai là, luận án cũng đã chỉ ra và phân tích đặc điểm, cơ cấu, vai trò, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba là, luận án đã phân tích, đánh giá một cách đồng bộ, chi tiết thực trạng cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành
  12. 7 pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực cho đến nay. Từ đó, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của thực trạng này. Đây là những đóng góp mới về phương diện thực tiễn. Bốn là, luận án đã xây dựng được hệ thống những quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta hiện nay. Những kiến nghị này có ý nghĩa cho hoạt động lập pháp, thực thi pháp luật và khoa học pháp lý. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án Về mặt lý luận, luận án đã nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở nước ta. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận về tổ chức thực hiện QLNN, về kiểm soát QLNN, cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Bộ máy nhà nước ta. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết. Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp Chương 3: Sự hình thành, phát triển và thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam Chương 4: Quan điểm và giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam
  13. 8 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Sự quan tâm của các nhà khoa học về vấn đề kiểm soát QLNN nói chung và kiểm soát thực hiện QLNN giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền (trong đó có quyền hành pháp và quyền tư pháp) được phản ánh qua nhiều công trình nghiên cứu. Có thể phân chia các công trình nghiên cứu tiêu biểu thành các nhóm sau đây: Một là, các công trình nghiên cứu về QLNN, quyền hành pháp, quyền tư pháp Trong cuốn sách: “Quyền lực nhà nước và quyền công dân” của PGS.TS Đinh Văn Mậu [31] đã trình bày về QLNN và khẳng định thực chất QLNN là quyền lực của nhân dân. Với những đặc thù vốn có, QLNN cần phải được thực hiện bởi những cơ quan nhất định. Tuy nhiên, cơ quan đó phải bảo đảm nhận và thể hiện ý chí của chính nhân dân - nguồn gốc của QLNN. Về bản chất, ý chí, lợi ích của nhân dân phải được bảo đảm trong quá trình thực hiện QLNN. Nhà nước phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và bảo vệ các quyền ấy, thông qua các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong cuốn sách: “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Trần Ngọc Đường, Chu Văn Thành [19]; và “Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” do GS.TS Trần Ngọc Đường chủ biên [20], các tác giả đã phân tích, lập luận trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ các mối liên hệ cơ bản. Đó là quan hệ giữa chủ thể QLNN với chủ thể có vai trò lãnh đạo nhà nước và mối quan hệ giữa các CQNN với nhau. Một trong những đóng góp quan trọng của các tác giả được trình bày trong các cuốn sách trên là đã tiếp cận khoa học và lý giải cụ thể vấn đề nguồn gốc, đặc điểm, bản chất xu hướng của QLNN.
  14. 9 Sách chuyên khảo: “Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính”, do Viện Chính sách công và pháp luật xuất bản là một tài liệu phân tích về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và một vấn đề quan trọng trong xã hội hiện nay là sự liêm chính trong các hoạt động tư pháp [62]. Đây là những nền tảng lý luận quan trọng cho việc tổ chức nghiên cứu về vị trí, vai trò của hệ thống Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp và sự gắn kết giữa cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, sách được viết dưới dạng tập hợp các chuyên đề nên chưa có hệ thống đầy đủ và toàn diện, chưa đề cập nhiều đến cải cách của hệ thống Tòa án. Trong cuốn sách: “Tổng kết một số vấn đề lý luận - Thực tiễn 30 năm đổi mới (1986-2016) về phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, do Ban Nội chính Trung ương phát hành [3] đã tập trung vào ba vấn đề quan trọng là tư pháp, nội chính và phòng, chống tham nhũng. Trong đó, về lĩnh vực tư pháp, cuốn sách đã nêu lên những thành tựu 30 năm đổi mới (1986-2016), cụ thể là làm rõ quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống tư pháp. Từ đó, tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được, những nhược điểm, hạn chế cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới. Đây là cuốn sách có những đánh giá mang tính tổng quan, toàn diện về một thời kỳ dài thực hiện các cải cách về hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Tòa án; qua đó, chỉ rõ những nhược điểm cần phải khắc phục khi tiến hành nghiên cứu về đổi mới hệ thống Tòa án nhân dân (TAND). Tác giả Bùi Ngọc Sơn nêu vấn đề “Quyền tư pháp trong chính thể hiện đại” thông qua khẳng định việc xác định một mô hình chính thể cần phải dựa vào cả ba loại quyền lực [46]. Tác giả đã đi sâu phân tích sự khác nhau của quyền tư pháp trong các chính thể hiện đại (chính thể cộng hòa tổng thống, chính thể đại nghị, chính thể cộng hoà lưỡng tính, chính thể của các nhà nước XHCN). Kết luận của tác giả về vấn đề này là quyền tư pháp “một cành QLNN không chỉ mang tính chất tố tụng mà còn mang yếu tố chính trị”. Bài viết: “Một số vấn đề về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp” của PGS.TS Trần Đình Nhã [33]. Tác giả đã đưa ra quan niệm về quyền tư pháp là quyền xét xử và cơ quan tư pháp là Tòa án; hoạt động tư pháp là hoạt động của quyền tư pháp trong đời sống xã hội, đó là hoạt động
  15. 10 xét xử; cơ quan tư pháp - cơ quan nhân danh QLNN thực hiện quyền tư pháp - là cơ quan xét xử. Trong bài viết: “Bàn về quyền hành pháp trong Hiến pháp năm 2013”, TS Nguyễn Văn Cương [5] đã phân tích về khái niệm quyền hành pháp theo quan điểm lịch sử. Tác giả viện dẫn quyền hành pháp trong quan niệm của Montesquieu; trình bày quan niệm về quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay dưới cách đánh giá, lập luận của các nhà khoa học, cho thấy sự đa dạng trong quan niệm về quyền hành pháp ở Việt Nam. Tác giả cũng gợi mở góc nhìn so sánh về vấn đề này, nhằm cung cấp cách đánh giá khách quan về quyền hành pháp. Tác giả Nguyễn Ngọc Toán trình bày quan điểm về quyền hành pháp trong bài viết: “Quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013” [57]. Trong đó, tác giả trình bày quá trình hiến định quyền hành pháp cho Chính phủ trên cơ sở làm rõ quan niệm về quyền hành pháp, quá trình hiến định quyền hành pháp cho Chính phủ. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra quan điểm xác định nội dung và phạm vi quyền hành pháp của Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013, cấu trúc tương thích của Chính phủ để thực hiện quyền hành pháp, kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ trong Hiến pháp. Bài viết: “Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung [10]. Tác giả nhấn mạnh chức năng, nhiệm vụ của Tòa án là phải bảo vệ công lý, sự công bằng, nêu rõ sự tiến bộ vượt bậc của Hiến pháp năm 2013 khi ghi nhận Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và bảo vệ quyền công dân. Tác giả còn cho rằng, Tòa án phải nhân danh công lý trong xét xử, chứ không phải nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Bài viết: “Quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013: những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện” của PGS.TS Bùi Xuân Đức [18]. Tác giả đã phân tích về quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013; sự thể hiện quyền hành pháp trong mô hình tổ chức QLNN theo Hiến pháp năm 2013. Tác giả đề xuất trong thời gian tới cần có các quy định pháp luật xác định đúng tính chất, vị trí của Chính phủ, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và mối quan hệ qua lại giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các thiết chế quyền lực khác; xác định rõ tính
  16. 11 chất, vai trò và các mối quan hệ giữa Chính phủ và các Bộ. Xác định rõ mối quan hệ giữa Chính phủ (Trung ương) với chính quyền địa phương (CQĐP) (địa phương) và quy định rõ cơ chế chịu trách nhiệm của Chính phủ và các thành viên Chính phủ. Hai là, các công trình nghiên cứu về kiểm soát QLNN, kiểm soát quyền hành pháp, quyền tư pháp Cuốn sách: “Sự hạn chế QLNN” của tác giả Nguyễn Đăng Dung [6]. Cuốn sách giải thích lý do giới hạn và chỉ rõ nội dung giới hạn QLNN. Những trình bày của tác giả tập trung làm rõ tính pháp quyền và đòi hỏi của tính pháp quyền đối với hạn chế QLNN. Vấn đề cốt lõi là khâu tổ chức thực hiện, nghĩa là phải xác định rõ ràng sự phân công QLNN. Tuy nhiên, sẽ khó có thể có hiệu quả nếu sự phân công đó không gắn liền với sự giám sát QLNN. Những mô hình và giá trị của việc thực hiện các mô hình tổ chức QLNN trên thế giới sẽ là chỉ dẫn quan trọng cho Việt Nam tham khảo kinh nghiệm. Gợi ý của tác giả liên quan đến nhiều vấn đề (bao gồm cả sự tổ chức QLNN cũng như thực hiện QLNN); nhưng chưa bao hàm kiểm soát QLNN với việc thể hiện rõ nét vai trò của từng loại CQNN. Cuốn sách: “QLNN và quyền công dân” của PGS.TS Đinh Văn Mậu [31]. Trên cơ sở khẳng định trách nhiệm bảo đảm quyền con người, quyền công dân của nhà nước, tác giả nhấn mạnh việc bảo đảm, bảo vệ các quyền này được thực hiện thông qua ba quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp). QLNN có khả năng bắt buộc cư dân phải phục tùng ý chí của nhà nước, điều này sẽ xảy ra xu hướng dễ lạm quyền. Vì vậy, phải kiểm soát đối với các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để bảo đảm quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân không bị xâm phạm. Mặc dù có đề cập tới nhu cầu phải kiểm soát QLNN nhưng công trình này không đi sâu phân tích về vấn đề này. Công trình khoa học: “Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước” của tác giả Nguyễn Đăng Dung, đề cập tới một số phương thức kiểm soát QLNN [8]. Trên cơ sở luận chứng về sự cần thiết của nhà nước đối với xã hội và khẳng định nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền, sự tha hoá của QLNN. Để tránh sự lạm quyền, phải chế ước quyền lực bằng cơ chế của hiến pháp, pháp luật và phân chia quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thành ba nhánh quyền lực để chế ước lẫn nhau, bảo đảm các nhánh quyền lực không được lạm quyền, thực hiện “quyền lực giám sát
  17. 12 quyền lực”. Vì vậy, để thực hiện “quyền lực giám sát quyền lực” có hiệu quả, bắt buộc phải xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền và giám sát xã hội đối với QLNN. Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn hệ thống chính trị Hoa Kỳ, tác giả đã khảo cứu và đưa ra các kiến nghị về chế ước QLNN Việt Nam. Tuy nhiên dưới góc độ chủ yếu phân tích về chế độ trách nhiệm của nhà nước, tác giả chú tâm nghiên cứu về phân chia quyền lực và quyền lực chế ước quyền lực trong bộ máy nhà nước, chưa đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. Sách chuyên khảo: “Kiểm soát QLNN một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” của TS Trịnh Thị Xuyến [68]. Tác giả tiếp cận vấn đề kiểm soát QLNN dưới góc độ chính trị học. Trên phương diện này, nhiều nội dung đã được tác giả phân tích, liên quan trực tiếp tới kiểm soát QLNN như làm rõ vấn đề lý luận (có đối chiếu, so sánh với vấn đề tương tự của một số nước); thực trạng (bao gồm cả thành tựu và hạn chế); phương hướng, giải pháp chủ yếu trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam. Mặc dù đã trình bày tương đối cụ thể về vấn đề này, song tác giả cũng chưa đề cập một cách rõ ràng nội dung, yêu cầu của cơ chế kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam. Công trình khoa học: “Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của nhóm tác giả, do Lê Minh Thông làm chủ biên [52]. Trên cơ sở kết quả công trình khoa học cấp Nhà nước, các tác giả chỉ rõ tính gắn bó chặt chẽ, mật thiết giữa đổi mới hệ thống chính trị với đổi mới các mối quan hệ cơ bản trong hệ thống chính trị đó. Điểm mấu chốt của tất cả các hoạt động đổi mới là phải phục vụ cho lợi ích của nhân dân và chủ thể tối cao trong giám sát QLNN không ai khác cũng chính là nhân dân. Từ thực trạng, đặc biệt là những hạn chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, các tác giả khẳng định những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm soát QLNN trong thời gian tới. Cuốn sách: “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của Trần Ngọc Đường và Chu Văn Thành [19] và “Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” do GS.TS Trần Ngọc Đường chủ biên [20]. Trong hai cuốn sách
  18. 13 trên, các tác giả đề cập đến hai nhóm vấn đề có mối liên hệ mật thiết với nhau. Một là, vấn đề phân công, phối hợp, kiểm soát QLNN và hai là, điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đòi hỏi đối với việc tổ chức QLNN. Sự tham gia của các chủ thể, với vị trí, vai trò nhất định trong hệ thống chính trị, sẽ khẳng định mức độ phân công, phối hợp và kiểm soát QLNN. Tuy nhiên, nghiên cứu trực tiếp và sâu sắc về vấn đề cơ chế kiểm soát QLNN giữa các cơ quan, nhất là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp thì chưa được phản ánh trong hai cuốn sách trên. Sách chuyên khảo: “Tổ chức và kiểm soát QLNN” của PGS. TS Thái Vĩnh Thắng [51]. Đây là một trong những công trình chuyên sâu về vấn đề tổ chức, kiểm soát QLNN. Công trình sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử với việc đánh giá cách thức tổ chức và kiểm soát QLNN của các kiểu nhà nước, từ nhà nước phong kiến tới nhà nước tư sản. Bên cạnh đó, tác giả đã giải thích khá rõ về vấn đề tổ chức, kiểm soát QLNN ở Việt Nam từ khi có Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp hiện hành năm 2013. Những khuyến nghị của tác giả có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Việt Nam nói chung và tổ chức, hoạt động của từng loại cơ quan trong bộ máy nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, trong công trình khoa học này, tác giả chưa phân tích sâu về vấn đề kiểm soát QLNN của cơ quan hành pháp và bảo đảm tính độc lập của cơ quan tư pháp khi thực hiện các hoạt động xét xử đối với các vi phạm của cơ quan hành pháp. Luận án tiến sỹ luật học: “Kiểm soát đối với quyền lực hành pháp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Huy Tùng [60]. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát đối với quyền lực hành pháp ở Việt Nam. Luận án đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm sự kiểm soát của lập pháp đối với quyền lực hành pháp dưới hình thức các thủ tục pháp lý như: Thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn; cách thức tổ chức các phiên họp giải trình tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; cách thức hoặc bộ phận chuyên môn giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các Bộ, ngành thuộc Chính phủ và CQĐP; cách thức thành lập và nhiệm vụ, quyền hạn của các Ủy ban điều tra do Quốc hội thành lập...; cơ chế xét xử của Tòa án đối với các văn bản quy phạm pháp
  19. 14 luật của Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành. Tuy nhiên, luận án không đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp. Luận án tiến sỹ luật học: “Cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hoài An [1]. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN đối với việc thực hiện quyền hành pháp. Trên cơ sở làm rõ lý luận, đánh giá thực trạng, luận án cũng đã đề xuất được hệ thống các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam. Mặc dù luận án có đề cập đến phương thức kiểm soát quyền hành pháp từ phía cơ quan tư pháp; tuy nhiên, luận án không nghiên cứu cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN của cơ quan hành pháp đối với cơ quan tư pháp. Bài viết: “Kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” của GS.TS Phạm Hồng Thái [49]. Nội dung bài viết đã phân tích vấn đề kiểm soát (chủ yếu và trực tiếp là kiểm soát QLNN) giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, tác giả bài viết đã đề xuất một số kiến nghị khắc phục những hạn chế của Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước liên quan đến vấn đề này. Bài viết: “Hiến pháp phải là văn bản kiểm soát QLNN” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung [9]. Bài viết đã phân tích sự cần thiết phải kiểm soát QLNN xuất phát từ sự tham lam của con người và mức độ nguy hiểm của QLNN. Từ đó, tác giả cho rằng, kiểm soát QLNN phải được thể hiện về hình thức và nội dung. Với quy định của Hiến pháp năm 2013 đã cho thấy quyết tâm về việc kiểm soát QLNN, tuy nhiên vấn đề kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013 vẫn còn hai hạn chế lớn là phải đặt trong khung cảnh tập quyền và kiểm soát quyền lực chủ yếu nằm ở trạng thái phòng ngừa. Bài viết: “QLNN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” của tác giả GS.TS Trần Ngọc Đường [23]. Bài viết đã chỉ ra rằng QLNN là thống nhất và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, để bảo đảm cho quyền lực được thống nhất, được thực hiện đúng
  20. 15 theo yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân thì một yêu cầu nảy sinh tự nhiên là sự kiểm soát QLNN. Bài viết: “Về phân công, phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo Hiến pháp năm 2013” của Vũ Duy Tú [58]. Trong bài viết, tác giả đã khẳng định việc kế thừa những giá trị tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 trong việc quy định vấn đề phân công, phối hợp giữa các CQNN thực hiện ba quyền trên. Tác giả đã so sánh, phân tích, từ đó làm rõ một số vấn đề cơ bản về QLNN, các quy định có liên quan về sự phân công, phối hợp và kiểm soát QLNN. Tác giả nhấn mạnh cần phải chú ý cả hai phương diện, bao gồm kiểm soát bên trong Nhà nước và kiểm soát bên ngoài Nhà nước. Bài viết: “Kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án Việt Nam” của Phạm Hồng Phong. Tác giả đã khẳng định “kiểm soát quyền tư pháp là hệ thống cơ chế, thể chế được thực hiện bởi nhà nước và xã hội để xem xét, giám sát tính hợp pháp, tính đúng đắn của cơ quan thực hiện quyền tư pháp” [35]. Trên cơ sở khái quát về kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án, tác giả nêu rõ cơ chế, hình thức kiểm soát và đưa ra một số kiến nghị tăng cường hiệu quả kiểm soát quyền tư pháp. Tác giả nhấn mạnh việc quyền tư pháp phải được kiểm soát trực tiếp bằng quyền hành pháp và tăng cường cơ chế tự kiểm soát của Tòa án. Bài viết: “Phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền hành pháp” của TS Hoàng Thị Ngân [34]. Tác giả nêu khái quát các quy định của pháp luật (gồm quy định của Hiến pháp năm 2013 và các luật có liên quan) về quyền hành pháp, cơ quan thực hiện quyền hành pháp; nguyên tắc về mối quan hệ giữa các CQNN trong thực hiện QLNN. Tác giả cũng đã đi sâu phân tích vấn đề phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp; theo các phương diện: Tổ chức thi hành pháp luật, hoạch định chính sách và QLNN. Bài viết: “Nguyên tắc kiểm soát việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp” của PGS.TS Vũ Hồng Anh [2]. Tác giả nêu lên các hạn chế, bất cập của quy định của pháp luật và việc thực hiện quy định của pháp luật về kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp. Từ đó, tác giả xác định cần phải cụ thể hóa nguyên tắc kiểm soát quyền lực giữa Quốc hội và Chính phủ theo tinh thần của Hiến pháp