Xem mẫu

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI GỐC GHÉP ĐẾN SINH  TRƯỞNG CÂY GIỐNG CÀ PHÊ VỐI TRONG VƯỜN ƯƠM TẠI GIA LAI Ngành: NÔNG HỌC Niên khóa: 2017 ­ 2021 Sinh viên thực hiện: LÊ ĐÌNH ĐẠT
  2. Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2020 2
  3. ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI GỐC GHÉP ĐẾN SINH  TRƯỞNG CÂY GIỐNG CÀ PHÊ VỐI TRONG  VƯỜN ƯƠM TẠI GIA LAI Tác giả LÊ ĐÌNH ĐẠT Đề cương được đệ trình để đáp ứng yêu cầu thực hiện Đề tài khóa luận tốt  nghiệp  kỹ sư ngành Nông học HỘI ĐỒNG HƯỚNG DẪN TS. Võ Thái Dân ThS. Dương Thị Oanh ThS. Phạm Thị Lệ Thủy 3
  4. Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2020 4
  5. MỤC LỤC Trang DANH SÁCH BẢNG Trang Bảng 2.1 Tình hình thời tiết khí hậu tỉnh Gia Lai trong thời gian làm thí nghiệm Bảng 2.2 Đặc điểm các giống cà phê sử dụng làm ngọn ghép Bảng 2.3 Quy cách chồi ghép sử dụng trong đề tài Bảng 2.4 Đặc điểm gốc ghép trước khi bố trí thí nghiệm Bảng 3.1 Dự kiến tiến độ thực hiện đề tài Bảng PL1 Giá thành sản xuất một cây giống DANH SÁCH HÌNH Trang Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 5
  6. DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ctv Cộng tác viên LLL Lần lặp lại NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NSG Ngày sau ghép NT Nghiệm thức SCA Specialty Coffee Association (Hiệp hội Cà phê đặc sản) TCN Tiêu chuẩn ngành WASI Western Highland Agroforestry Scientific and Technical Institute  (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên) 6
  7. MỞ ĐẦU Đặt vấn đề Cà phê,  Coffea sp., là cây công nghiệp dài ngày, có thời gian cho thu hoạch  kéo dài khoảng 20 ­ 25 năm. Sản phẩm từ cà phê có giá trị  cao trong lĩnh vực tiêu  dùng và xuất khẩu. Trong nhiều thập niên qua, cà phê là loại hàng hóa quan trọng   mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của nước ta. Trong cơ  cấu cây cà phê  ở  Việt Nam, cà phê vối (Coffea canephora  var.  robusta) là cây trồng chính với diện tích chiếm trên 93% tổng diện tích cà phê các   loại. Hàng năm nước ta xuất khẩu từ 1,3 ­ 1,5 triệu tấn cà phê nhân, kim ngạch xuất  khẩu trên 3 tỷ USD. Ngành cà phê đã cung cấp trên 1 triệu việc làm cho nông dân   khu vực Tây Nguyên, đóng góp trên 10% kim ngạch xuất khẩu nông sản. Năng suất  cà phê vối bình quân của Việt Nam được xếp vào loại cao nhất thế  giới, khoảng   2,3 ­ 2,5 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất bình quân của thế  giới.Tuy nhiên, do  phần lớn diện tích cà phê ở Việt Nam được phát triển tập trung trong thập niên 90  của thế kỷ trước với giống cây trồng do nông dân tự chọn lọc, đến nay nhiều vườn   cà phê đã bộc lộ nhiều nhược điểm như chất lượng giống thấp, tỷ lệ cây bị bệnh gỉ  sắt cao, nhiều vườn cây đã bắt đầu già cỗi (Bộ   NN&PTNT, 2016). Điều này sẽ là  thách thức lớn trong sản xuất cà phê ở nước ta hiện nay đối với việc tiếp tục đảm   bảo sản lượng và giữ vị thế xuất khẩu trên thị trường thế giới. Để đảm bảo hiệu quả sản xuất, cần lượng lớn các giống có chất lượng cao,  có khả  năng kháng sâu bệnh và chống chịu với các điều kiện bất lợi của  môi   trường.  Từ  lâu cà phê vối thường được nhân giống bằng hạt là chủ  yếu (nhân   giống hữu tính).  Tuy nhiên, cà phê vối là cây thụ  phấn chéo bắt buộc,   vườn cây  trồng từ  hạt có độ  đồng đều thấp, gây khó khăn trong chăm sóc và chế  biến.   Ở  những vùng trồng cà phê vối trên thế  giới, biện pháp nhân giống cà phê vối được  khuyến cáo là nhân giống vô tính, phổ  7
  8. biến nhất là ghép nối ngọn cây con. Ưu điểm của phương pháp này là giữ lại phần   lớn các đặc tính tốt của cây mẹ, cây sinh trưởng và phát triển đồng đều, rút ngắn   được thời gian kiến thiết cơ  bản giúp cải tạo nhanh các vườn cà phê già cỗi. Tuy  nhiên có  ảnh hưởng về  khả  năng tiếp hợp giữa gốc ghép và ngọn ghép nên trong  quá trình sản xuất cây ghép, cây con bị  chết dẫn đến tỷ  lệ  xuất vườn thấp, hiện  tượng tiếp hợp kém giữa ngọn ghép và gốc ghép còn làm  ảnh hưởng đến sinh  trưởng và năng suất của cây ghép. Việc nghiên cứu xác định được tổ hợp gốc ghép  ­ ngọn ghép thích hợp cho sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây cà phê là   cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Xuất phát từ  những vấn đề  trên, đề  tài “Ảnh hưởng của loại gốc ghép đến  sinh trưởng cây giống cà phê vối trong vườn ươm tại Gia Lai” sẽ được tiến hành. Mục tiêu Xác định được loại gốc ghép phù hợp với các giống cà phê vối trong giai   đoạn vườn ươm bằng phương pháp ghép nối ngọn cây con. Yêu cầu ­ Thí nghiệm được bố trí đồng nhất, tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn ngành. ­ Dựa vào kết quả theo dõi và phân tích thống kê để xác định được loại gốc  ghép phù hợp cho sinh trưởng của cây giống cà phê vối. Giới hạn của đề tài Thí nghiệm ghép được tiến hành trên gốc cà phê mít, gốc cà phê vối, gốc cà  phê chè với ngọn ghép TR4, TR9 và TR12 từ tháng 11 ­ 2/2021. Theo dõi các chỉ tiêu nông học, đo lượng nước thoát hơi giữa các tổ hợp ghép   ở 30, 45, 60 NSG. Đề tài chỉ giới hạn trong giai đoạn từ khi ghép đến lúc xuất vườn. 8
  9. Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây cà phê vối Cà phê vối (Coffea canephora var. robusta) có nguồn gốc  ở  vùng Trung Phi,  phân bố  rải rác dưới các tán rừng thưa, thấp thuộc vùng châu thổ  Congo, từ  Bờ  Biển Ngà tới Angola, trong khoảng 10º vĩ Bắc và 10º vĩ Nam. Đến thế kỉ 20 cà phê   vối mới được con người trồng  ở  Tây Phi (Chevalier, 1929). Cà phê vối được đưa   vào trồng ở Bờ Biển Ngà vào khoảng năm 1927. Ở Việt Nam, từ năm 1857 cây cà phê đã được đưa vào trồng thử  đầu tiên ở  Quảng Trị và Quảng Bình. Theo Nguyễn Sĩ Nghị  (1996), giai đoạn 1920 ­ 1925 cây  cà phê mới được đầu tư phát triển ở vùng đất đỏ bazan nổi tiếng phì nhiêu trên các   cao nguyên Nam Trung Bộ (vùng Tây Nguyên) và  ở vùng Đông Nam Bộ. Ban đầu,   cây cà phê chè được trồng trên vùng đất Tây nguyên. Trong quá trình sinh trưởng và   phát triển, các cây cà phê chè bị  rỉ  sắt quá nặng nên bị  loại bỏ  và được thay thế  bằng cà phê vối và cà phê mít. Theo Cục Trồng trọt (2019), hiện nay  ở nước ta có   trên 93% diện tích cà phê vối và được trồng tập trung chủ  yếu  ở  khu vực Tây  Nguyên, còn lại là cà phê chè (Coffea arabica) và một lượng nhỏ cà phê mít (Coffea  liberica) được trồng rải rác ở một số nơi. Cà phê vối là loại cây nhỡ, trong điều kiện tự  nhiên cao từ  8 ­ 12 m và có  nhiều thân do khả  năng phát sinh chồi vượt rất mạnh. Cành cấp 1 to khỏe, vươn  dài. Rễ cà phê thuộc loại háo khí, rễ cọc ăn sâu 0,4 ­ 1,2 m; sự phát triển của rễ tùy  thuộc vào cách gieo ươm và đặc tính của đất. Hoa cà phê mọc thành từng cụm trên  các nách lá một năm tuổi ở các cành ngang. Thời gian từ ra hoa đến khi quả chín kéo  9
  10. dài 9 ­ 10 tháng. Khối lượng trung bình 100 hạt  ở   ẩm độ  12% từ  13 ­ 16 g. Hàm   lượng caffein trong hạt từ 2,5 – 3,0% (Hoàng Thanh Tiệm, 1999). 10
  11. Cà phê vối sinh trưởng thích hợp trong phạm vi nhiệt độ 24 ­ 30ºC, thích hợp   nhất 24 ­ 26ºC; yêu cầu lượng mưa từ  1.500 ­ 2.000 mm/năm phân bố  tương đối  đồng đều trong năm, có một mùa khô kéo dài 2 ­ 3 tháng. Điều kiện môi trường  thuận lợi để cho hoa nở là nhiệt độ 24 ­ 25ºC, ẩm độ không khí 94 ­ 97%.Cà phê vối  ưa điều kiện khí hậu nóng, ẩm, ánh sáng dồi dào, kém chịu được hạn (Hoàng Thanh  Tiệm, 1999). Cà phê vối thích nghi  ở  độ  cao dưới 800 m so với mực nước biển, có thể  được trồng trên nhiều loại đất. Yêu cầu đất trồng cà phê phải tơi xốp, thoát nước  tốt và có tầng đất dày ít nhất 70 cm với pH 4,5 ­ 6,5 (Lê Ngọc Báu và ctv, 2016). 1.2 Một số phương pháp nhân giống cà phê vối Hiện nay có thể  liệt kê một số  phương pháp nhân cà phê  vối  đã được áp  dụng như sau: 1.2.1 Nhân giống hữu tính Ở  Việt Nam cây cà phê vối chủ  yếu được nhân giống hữu tính, bằng hạt.   Phương pháp này có  ưu điểm như: chi phí sản xuất cây giống thấp, dễ thực hiện,   hệ số nhân giống cao, quần thể cây trồng đa dạng và tính thích nghi cao.  Tuy nhiên  hiện nay được khuyến cáo là không nên sử  dụng do mức độ  phân ly trong thế  hệ  con cháu cao. 1.2.2 Nhân giống vô tính Cà phê vối do có tính tự bất hợp, vì vậy biện pháp nhân giống vô tính được  khuyến cáo trong quá trình chọn tạo giống và trong sản xuất, nhằm sản xuất số  lượng lớn cây giống đồng đều và sớm cho năng suất cao. Phương pháp nhân giống  vô tính có nhiều  ưu điểm như: cây con giữ  nguyên đặc điểm tốt của cây mẹ, cây   sinh trưởng và phát triển đồng đều, vườn cây có năng suất cao. 11
  12. 1.2.2.1 Nhân giống cà phê vối bằng phương pháp giâm cành Kỹ thuật giâm cành cà phê vối đầu tiên ra đời ở Bờ biển Ngà năm 1935, cây  cà phê con phát triển từ  phương pháp giâm cành trong môi trường có kiểm soát.  Nhược điểm của phương pháp này là tỷ lệ ra rễ không cao, hệ số nhân giống thấp.   Cây giống có khuynh hướng phát triển nhiều rễ  ngang, khả  năng chống chịu với   điều kiện khô hạn rất kém. Cây cành giâm chỉ được khuyến cáo trồng trong những  điều kiện thâm canh cao có dồi dào nước tưới. Phương pháp nhân giống cà phê theo   cách này hiện nay rất ít được sử dụng (Trịnh Đức Minh, 1999). 1.2.2.2 Nhân giống cà phê vối bằng nuôi cấy mô Starisky (1970) là người đầu tiên báo cáo về  cấy mô  cây  cà phê.  Ông tạo  được phôi sôma và cây con từ chồi vượt của cà phê vối. Từ đó đến nay có rất nhiều  nghiên cứu trong lĩnh vực này với nhiều loại mảnh cấy khác nhau nhằm giúp các  nhà chọn giống có phương tiện hữu hiệu rút ngắn thời gian chọn tạo giống mới. Nhân giống cây cà phê bằng phương pháp nuôi cấy mô có hệ số nhân giống  cao. Cây giống cà phê nuôi cấy mô không bị  bệnh tại thời điểm cung cấp và cho   năng suất cao, do được nhân giống từ  cây mẹ  được lựa chọn. Tuy nhiên giá thành  cây con cao hơn so với các phương pháp nhân giống khác vì chưa được sản xuất ở  quy mô công nghiệp do chưa được ứng dụng nhiều. 1.2.2.3 Nhân giống cà phê vối bằng phương pháp ghép Trên thế giới ghép đã được áp dụng từ khá lâu cho cây cà phê. Van Riemsdijk   (1888) đã áp dụng ghép chẻ hông để ghép chồi cà phê chè lên cà phê dâu da (Coffea  liberica) với ý định làm tăng tính kháng gỉ sắt của cà phê chè, mặc dù kỹ thuật ghép   được cải tiến dần cho tỷ lệ sống cao nhưng rõ ràng không thể làm tăng tính kháng  gỉ sắt. Sau đó chỉ được áp dụng rải rác trên một số  vườn kinh doanh để  ghép chồi  có năng suất cao lên gốc ghép cho năng suất thấp. 12
  13. Tại Indonesia, theo Cramer (1934) các nhà nghiên cứu người Hà Lan vào đầu  thế kỷ 20 tiếp tục kiên trì nghiên cứu một số phương pháp ghép để  cổ  vũ cho việc  phổ  biến trồng cà phê chè lên gốc ghép  Coffea  liberica  có khả  năng kháng tuyến  trùng hoặc trồng các dòng cà phê vối chọn lọc. Kết quả cho thấy đã cải thiện rõ rệt  về độ đồng đều vườn cây thể hiện qua năng suất quần thể cao, quả chín tập trung,   giảm chi phí thu hoạch và hạn chế mọt đục quả, cỡ quả và hạt ít biến thiên dễ tạo  ra mặt hàng thương phẩm chất lượng cao đồng nhất. Tuy nhiên, vấn đề  nổi lên là  tính không tương thích hoặc tương thích kém giữa giữa chồi ghép và gốc ghép.  Hầu hết các phương pháp ghép  đối với  cây ăn quả  đều được áp dụng thử  trên cây cà phê vối và cho các kết quả khác nhau. Tuy nhiên, phương pháp ghép nối  ngọn được coi là phương pháp phù hợp hơn cả.  Các hướng dẫn ghép nối ngọn  trước đây thường là trên gốc ghép lớn 8 ­ 12 tháng tuổi, chồi ghép có từ 2 ­ 3 cặp lá,  tỷ lệ sống thường dưới 60%, thậm chí tại Madagasca ghép khác loài cà phê vối trên  cà phê mít tỷ lệ sống chỉ đạt 15% (Coste, 1968). Sau hàng loạt các thí nghiệm có hệ thống tại Viện Nghiên cứu Cà phê ở Việt  Nam vào những năm 1994 ­ 1996, phương pháp ghép nối ngọn được cải tiến thành  công với tỷ  lệ  sống trong vườn  ươm đạt trên 95% nhờ  sử  dụng gốc nhỏ  tuổi và  ngọn ghép chỉ mang một cặp lá. Do vậy quy trình sản xuất cây giống ghép chỉ trong  vòng 6 ­ 8 tháng, kịp vụ  trồng, không cần nuôi cây lâu trong vườn  ươm, giá thành   cây giống thấp,  mỗi công nhân có thể ghép 250 ­ 300 cây trong 5 ­ 6 giờ (Trịnh Đức   Minh và ctv, 1997). Tại Việt Nam, nhờ kỹ thuật ghép, các nguồn gen còn rất đa dạng do sự biến   dị  trong quần thể  trồng trọt đã được thu thập, bảo tồn. Kỹ thuật ghép còn là một  giải pháp đặc biệt góp phần cải tạo bộ tán của những cây xấu trong vườn cà phê  kinh doanh trước đây được trồng bằng hạt. Việc ghép cải tạo vườn cà phê trồng  hạt già cỗi bằng các dòng chọn lọc có cỡ hạt lớn giúp nâng cao phẩm chất hạt, cải   thiện chất lượng cà phê thương phẩm. Ghép các dòng chọn lọc thay cho các cây bị  bệnh gỉ sắt nặng trên vườn còn là biện pháp phòng trừ bệnh gỉ sắt hiệu quả (Trần  13
  14. Kim Loang, 1997). 1.3 Cơ sở khoa học của nhân giống bằng phương pháp ghép Ghép là kỹ thuật nối kết hai mảnh mô sống sao cho chúng hợp nhất và sau đó   phát triển thành một cây hoàn chỉnh (Nguyễn Duy Minh, 2004; Phan Ngưỡng Tinh   và ctv, 2007). Gốc ghép là phần bên dưới của tổ  hợp ghép, có vai trò quan trọng do cung  cấp hệ thống rễ cho cây ghép. Gốc ghép có thể là thực sinh, cành giâm có rễ hoặc   cây chiết. Gốc ghép tác động đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của tổ hợp  ghép chủ  yếu thông qua khả  năng hấp thu nước và dinh dưỡng; khả  năng chống   chịu với điều kiện bất lợi (sâu bệnh hại, ngập úng, phèn, mặn). Còn ngọn ghép là   phần bên trên của tổ  hợp ghép, có chức năng sinh trưởng và tạo sản phẩm (Phan  Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). Phần tượng tầng là một lớp mô mỏng của cây nằm giữa phần vỏ  (mạch   libe) với phần gỗ. Tế bào tượng tầng có tính phân sinh nên để tiếp hợp ghép thành  công, tượng tầng của chồi ghép phải được gắn chặt với tượng tầng của gốc ghép  (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). Mô sẹo là khối tế bào nhu mô phát triển quanh vết thương của cây. Mô sẹo   xuất hiện  ở  chỗ  tiếp hợp ghép từ  tế  bào của gốc ghép lẫn chồi ghép. Việc tạo ra   sẹo là một trong những bước quan trọng trong quá trình lành vết thương để  ghép   được thành công. (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). Thực vật hình thành mô sẹo  ở  giao diện ghép, giúp nước lưu thông từ  gốc  ghép đến ngọn ghép khi mô sẹo phát triển thành các bó mạch (Moore, 1984). Sự kết   nối không đủ  của các bó mạch giữa chồi ghép và gốc ghép làm giảm lưu lượng  nước (Torii và ctv, 1992). Khi sự hấp thụ nước của rễ bị kìm hãm tại bề mặt ghép,  độ dẫn khí khổng và sự phát triển của chồi ghép giảm (Atkinson và Else, 2001; Oda   và ctv, 2005). 14
  15. 1.3.1 Mục đích của ghép chồi  ­ Duy trì các dòng vô tính mà không thể thực hiện bằng giâm cành, chiết hay   các phương pháp vô tính khác ­ Lợi dụng ưu thế của một số loại gốc ghép ­ Thay giống cho những cây đã trồng cố định ­ Thúc đẩy nhanh độ thuần thục sinh sản của những cây mọc từ hạt lai ­ Tạo ra các dạng sinh trưởng đặc biệt ­ Nghiên cứu về bệnh virus (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). 1.3.2 Một số tổ hợp ghép  Một số cây mặc dù không có tính không hợp nhưng vẫn rất khó ghép. Một số  loài cây hình thành nhựa, hạn chế mất nước giúp mô khỏi chết. Một số loài cây khó   ghép chồi và mầm theo phương pháp thông thường nên phải sử dụng ghép áp. Như  vậy, việc ứng dụng kỹ thuật ghép, nhất là ghép khác loài cần phải có thời gian đánh   giá kỹ các tổ hợp ghép (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). ­ Ghép cùng loài: Các cây gốc ghép và chồi ghép trong cùng một loài thì tỷ lệ  thành công cao (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). ­ Ghép khác loài: Một trong số  triệu chứng không hợp khi ghép cây có mối  quan hệ xa loài là hoàn toàn không tiếp hợp hoặc % rất thấp. Tuy nhiên, một số loài   cây thời gian đầu vẫn cho tiếp hợp tốt, về sau cây bị  hỏng và thể  hiện tính không   hợp (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). ­ Ghép khác loài, cùng chi: có trường hợp thành công nhưng cũng có trường   hợp không thành công. Phần lớn ghép giữa các loài trong chi cam chanh đều thành   công và được áp dụng rộng rãi trong thương mại. Tính hợp nhau giữa các loài trong  15
  16. cùng chi tùy thuộc vào phối hợp kiểu gen đặc thù giữa gốc ghép và chồi ghép  (Phan  Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). 1.3.3 Tính hợp và không hợp khi ghép Tính hợp nhau là khả  năng của hai cây khác nhau được ghép chung, tạo ra  được sự    tiếp hợp thành công tốt và về  sau phát triển thành một cây hoàn chỉnh.   Gốc ghép và chồi ghép của những cây quan hệ gần dễ dàng kết hợp thành một cây.   Hiện tượng ngược lại thì gọi là tính không hợp nhau. Gốc và chồi của hai cây  không có quan hệ ghép chung thì hầu như hoàn toàn không kết hợp (Phan Ngưỡng   Tinh và ctv, 2007). Các hiện tượng sưng bất thường ở mối ghép và tình trạng của cành ghép như  sinh trưởng yếu, lá vàng, rụng lá, cành chết trở  lại và khô hoàn toàn, được xem là   các triệu chứng của sự không tương thích giữa gốc ghép và chồi ghép. Tuy nhiên,  người ta cũng lưu ý rằng khi các cây cà phê ghép đã sản xuất được một số vụ, hiện   tượng sưng phồng rõ rệt ở mối ghép là triệu chứng đáng tin cậy nhất cho thấy tình  trạng này (Singh Dhaliual, 1965). Biều hiện không tương thích có khi xuất hiện rất   muộn tới 10 năm sau khi ghép (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2007). 1.3.4 Các yếu tố có ảnh hưởng đến sự thành công của việc ghép (WASI, 2020) ­ Tính không tương hợp giữa gốc ghép và chồi ghép: do yếu tố di truyền. Đối  với cà phê vối, tỷ lệ này khoảng 2%. ­ Tình trạng sinh lý của cây: cây gốc ghép sinh trưởng trong điều kiện bóng   râm, bón nhiều đạm; hoặc chồi ghép lấy ở nơi thiếu ánh sáng, mới bón đạm, chồi  nhiều nước, non tỷ lệ chết khi ghép sẽ cao. ­ Điều kiện nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho ghép là khoảng 22 ­ 28ºC. Nhiệt  độ cao làm cho quá trình bốc thoát hơi nước nhanh ở chồi ghép trong điều kiện vết  ghép chưa hoàn toàn tiếp hợp, dẫn đến tình trạng chồi ghép bị héo và chết. 16
  17. ­ Ẩm độ không khí: thích hợp từ 80 ­ 85%. Yếu tố này thấp làm  ảnh hưởng   quá trình tiếp hợp nên tỷ lệ thành công sau ghép không cao. ­ Điều kiện O2: ghép trong điều kiện thiếu O2 như ở các vùng có nhiều khói  hoặc không khí có mùi hôi, không khí bị ô nhiễm thuốc sâu, tỷ lệ ghép sống cũng bị  ảnh hưởng. ­ Kỹ năng của người ghép: trình độ  tay nghề của người ghép quyết định tỷ  lệ  thành công của việc ghép. Kỹ  năng này bao gồm quá trình tạo vết vát, vết chẻ.  Nếu vết vát được tạo không bằng phẳng do chỉnh sửa nhiều lần thì khi ghép tiếp   xúc giữa chồi ghép và gốc ghép không tốt,  ảnh hưởng xấu đến quá trình tiếp hợp  dẫn đến tỷ lệ cây ghép sống không cao. Buộc dây quá chặt hoặc quá lỏng, hoặc khi   đường kính gốc ghép và chồi ghép không bằng nhau, nếu người ghép đặt chồi ghép   ngay giữa vết nêm (vết chẻ dọc  ở  gốc ghép) mà không tạo được sự  tiếp xúc giữa  lớp tượng tầng (lớp vỏ) giữa gốc ghép và chồi ghép thì dẫn đến cây ghép sẽ bị chết  do vết ghép không thể tiếp hợp được. ­ Dụng cụ  ghép: Dụng cụ  không bảo đảm (dao không đúng quy cách, lưỡi  không bén), tình trạng vệ  sinh dụng cụ  ghép kém cũng  ảnh hưởng đến tỷ  lệ  cây  sống sau ghép.  ­ Tình trạng sức khoẻ của gốc và chồi ghép: gốc ghép, chồi ghép sinh trưởng  kém do bị  bệnh sinh lý như  thiếu dinh dưỡng, hệ  thống  ống dẫn (các bó mạch)  trong cây bị  tắc, hoặc bị  sâu bệnh cũng  ảnh hưởng đến tỷ  lệ  thành công sau khi  ghép. ­ Tuổi của gốc ghép và chồi ghép: tuổi của gốc ghép, chồi ghép quá non chứa  nhiều nước, hoặc tuổi của cây gốc ghép quá già, bộ rễ cây già cỗi, hệ rễ tơ bị tổn   thương hoặc bị thối, tỷ lệ ghép thành công thấp. Đặc biệt trong trường hợp cây gốc   ghép có bộ rễ dị dạng như cong rễ, nhiều rễ cọc, hoặc bị các loại bệnh rễ, không   nên tiến hành ghép vì chắc chắn tỷ  lệ  ghép thành công thấp hoặc cây ghép sống   sinh trưởng và phát triển kém, không đáp ứng được yêu cầu của việc ghép. 17
  18. ­ Bảo quản chồi ghép: chồi bảo quản không đúng quy trình, để bị mất nước   hoặc bảo quản lâu dẫn đến tình trạng phát sinh tầng rời làm lá hoặc cành non bị  rụng khi ghép tỷ  lệ  chết sẽ  cao, có khi lên đến 90%. Thực tế  đã chứng minh chồi   ghép không nên bảo quản quá 3 ngày, tốt nhất là chỉ ghép trong vòng 2 ngày trở lại   tỷ lệ an toàn sẽ cao. Việc ứng dụng kỹ thuật ghép nêm nối ngọn giữa các dòng vô tính cà phê vối  (TR4, TR9, TR12) với các loại gốc khác nhau như cà phê mít, cà phê chè, cà phê vối   TRS1 cần được phân tích đánh giá ảnh hưởng của các tổ hợp ghép đến sinh trưởng  của cây ghép. Từ đó đưa ra các khuyến cáo phù hợp nhất. 1.4 Vai trò của gốc ghép, ngọn ghép trong sản xuất cây ghép Ghép thường được sử dụng cho nhân giống để cải thiện chất lượng của cây  được trồng thương mại thông qua việc chọn gốc ghép và ngọn ghép. Ghép thường  được áp dụng để rút ngắn thời gian bắt đầu ra hoa và chương trình nhân giống, cải  thiện   chất   lượng   và   năng   suất   của   quả   và   hạt.   Đồng   thời,   sự   kết   hợp   gốc   ghép/ngọn ghép làm tăng tính chống chịu của cây ghép để  đáp  ứng với điều kiện  môi trường, kháng mầm bệnh và chuyển đổi giống cây trồng (Phan Ngưỡng Tinh  và ctv, 2007; Darikova và ctv, 2011). Novaes (2011) đã ghép cà phê chè lên gốc cà phê  vối để cải thiện khả năng quang hợp của cà phê chè được trồng ở  phía Đông Nam  Brazil. Kết quả cho thấy cây ghép có độ mẫn cảm thấp hơn với stress nước, tốc độ  quang hợp và thoát hơi nước tốt hơn vào những ngày nắng nóng và thời kỳ khô hạn   so với cây không ghép. Trên điều kiện sản xuất, hệ  thống gốc được coi là một yếu tố   ảnh hưởng  rất quan trọng đến năng suất. Một hệ thống rễ rộng lớn có thể khai thác một khối  lượng đất lớn hơn, dẫn đến sự  hấp thụ  nước và chất dinh dưỡng tốt hơn,  ảnh   hưởng   đến   năng   suất   (Ramos  và  Lima,   1980;   Ramos  và   ctv,   1982;   Fageria,  1998).Một nghiên cứu về   ảnh hưởng của ghép đối với dinh dưỡng khoáng của cà  phê báo cáo rằng việc sử dụng giống Catimor làm gốc ghép đã làm tăng lân và kali   18
  19. trong lá của giống Mundo Novo và Caturra, so với cây không ghép (Alves, 1986).  Những điều kiện môi trường bất lợi tạo ra những điều kiện hạn chế  nhất  đối với năng suất cây trồng trên toàn thế giới. Các yếu tố  môi trường bất lợi quan   trọng bao gồm: nước, nhiệt độ, dinh dưỡng, ánh sáng, lượng oxy sẵn có, nồng độ  ion kim loại và mầm bệnh (Colla và ctv, 2010, Savvas và ctv, 2010). Một phương   pháp đặc trưng để  cải tạo cây trồng để  chống lại các áp lực của môi trường bao  gồm ghép các giống cây thương phẩm lên các gốc ghép khỏe mạnh đã chọn (Lee và  Oda 2003).Trong quá trình ghép, cành ghép có các đặc điểm mong muốn sẽ  được  ghép vào cây gốc ghép. Ở Brazil và Guatemala, cà phê vối là loài có khả năng kháng  tuyến trùng và chịu được khô hạn nên đã được sử dụng làm gốc ghép cho các giống   cà phê chè có giá trị thương phẩm (Scot Nelson và ctv, 2002). Ghép rất phổ biến trong làm vườn vì nó làm tăng năng suất quả và nâng cao  sức sống tổng thể của cây. Cây ghép lấy nước và chất dinh dưỡng từ đất hiệu quả  hơn, và giữ  được sức sống lâu hơn trong suốt thời gian sinh trưởng (Aloni và ctv,   2010, Lee và ctv, 2010). Cây ghép  ảnh hưởng đến kích thước, năng suất và chất   lượng cuối cùng của quả, cả  ngay sau thu hoạch và trong thời gian bảo quản kéo   dài (Fallik, 1989). Hơn nữa, sự  kết hợp giữa gốc ghép/ngọn ghép có thể  làm thay  đổi lượng hormone được tạo ra và ảnh hưởng đến sự biểu hiện giới tính và thứ tự  ra hoa của cây ghép (Aloni và ctv, 2010).  Gốc ghép có thể   ảnh hưởng đến kích  thước   quả   (Ogasanovic   và   Papic,   1995),   hàm   lượng   đạm   và   axit   amin   trong   lá   (Doroshenko, 1992). Gốc ghép/ngọn ghép chung sống với nhau trong một thời gian dài, chúng có  tác động qua lại với nhau, các nghiên cứu mối ảnh hưởng qua lại giữa chúng là cần   thiết. Khi cành ghép già và ổn định, gốc ghép non, ít bị ảnh hưởng. Ở một số giống   xoài trong thời kỳ  đầu gốc ghép có  ảnh hưởng mạnh lên cành ghép, nhưng sau   khoảng 10 năm, cành ghép lại lấn áp gốc ghép, phần nằm trên lấn áp phần nằm  dưới. Ở Ấn độ, ghép xoài Langhe trên gốc xoài Sabre làm cây lùn, sau 20 năm cành   Langhe lấn áp làm cây cao lên (Nguyễn Văn Kế, 2008). 19
  20. 1.5 Kỹ thuật ghép nối ngọn cà phê vối ­ Dùng dao nhỏ  cắt bỏ  ngang phần ngọn, chừa 2 ­ 3 c ặp lá sát gốc. Sau đó   chẻ dọc thân 2 ­ 3 cm. ­ Chồi là phần trên của chồi vượt, được cắt từ vườn nhân chồi, dài 8 ­ 11 cm,   mang 1 cặp lá còn hơi non hoặc bánh tẻ, vùng đỉnh sinh trưởng nằm trong 2 lá non   chưa xòe đã được cắt bỏ bớt 2/3 phiến lá.  ­ Cắt vát 2 phía đuôi của chồi ghép tạo thành vết nêm có độ  dài tương  ứng   với vết chẻ  trên gốc ghép, đưa chồi ghép vào gốc ghép đã chuẩn bị  trước sao cho   chồi ghép có tiếp xúc tốt với tượng tầng của cả 2 bên hoặc 1 bên của gốc ghép. ­ Dùng dây nilon quấn chặt từ dưới lên trên để tránh nước vào làm chết chồi   ghép. * Định mức: đối với một công nhân thành thạo tay nghề có thể ghép 200 chồi  ghép/công. Giá thành cây giống gấp 1,7 ­ 2 lần so với cây thực sinh (Bảng PL1).  20