Xem mẫu

  1. KHẢO SÁT KHOANG RỖNG BÊN DƯỚI BÊ TÔNG LÁT MÁI THƯỢNG LƯU VAI PHẢI ĐẬP THỦY ĐIỆN SÊ SAN 4 BẰNG PHƯƠNG PHÁP RADAR XUYÊN ĐẤT PHẠM LÊ HOÀNG LINH*, DƯƠNG VĂN SÁU*, VŨ HOÀNG HIỆP*, LÊ VĂN ĐỨC*, HOÀNG VIỆT HÙNG** Investigating the void beneath reinforcement concrete of Se San 4 hydraulic dam upstream slope by Ground Penetrating Radar Abstract: Ground Penetrating Radar is a non-destructive exploration method which is widely used in reinforced concrete survey such as: defining voids beneath concrete, mapping rebars mesh in reinforced concrete, or determining the thickness of concrete slabs. With the advantage of fast survey speed, high resolution, this method has proven its superiority. The paper presents some new results from applying Ground Penetrating Radar to investigate voids beneath reinforcement concrete of Se San 4 hydraulic dam upstream slope. These results have effectively served the management and assessment of dam safety by management agencies Keywords: Ground Penetrating Radar, void, reinforcement concrete, dam safety, Se San 4 hydraulic dam 1. MỞ ĐẦU* 2. GIỚI THIỆU CHUNG Phương pháp Radar xuyên đất là phương Thủy điện Sê San 4 là công trình thủy điện pháp thăm dò không phá hủy được ứng dụng được xây dựng trên sông Sê San thuộc địa bàn rộng rãi trong các công tác khảo sát bê tông cốt xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai và xã Mô thép như: xác định khoang rỗng bên dưới bê Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum (Hình 1). tông, bản đồ hóa lưới thép trong bê tông cốt Đây là đập đất đồng chất, dài 760m, đỉnh đập thép, hay xác định bề dày tấm bê tông. Với ưu rộng 10m. Mái thượng lưu đập được gia cố thế tốc độ khảo sát nhanh, độ phân giải cao, bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ dày 22cm, phương pháp này đã chứng minh được tính ưu kích thước mỗi tấm là 4m x 4m. Sau quá trình việt của mình. Trong bài báo này, chúng tôi tích nước đưa vào sử dụng, lớp bê tông gia cố trình bày một số kết quả mới thu được khi áp mái thượng lưu vai phải đập đã bị xuống cấp dụng phương pháp Radar đất để xác định một phần: bề mặt bê tông xuất hiện dấu hiệu khoang rỗng bên dưới bê tông lát mái thượng tróc rỗ, phong hóa; tại một số vị trí bề mặt bê lưu vai phải đập Thủy điện Sê San 4. Kết quả tông uốn lượn không bằng phẳng. Các biểu này đã phục vụ hiệu quả công tác quản lý và đánh giá an toàn đập của các cơ quan quản lý. hiện bề mặt trên có thể do nguyên nhân khoang rỗng bên dưới lớp bê tông gây ra. Khi * đó, lớp bê tông gia cố sẽ mất tiếp xúc với các Phòng Nghiên cứu Ứng dụng Địa vật lý - Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình lớp đệm bên dưới nó, khiến cho dưới áp lực tự ** Bộ môn Địa Kỹ thuật - Đại học Thủy lợi thân hay dưới áp lực nước lớn, bê tông dễ bị ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019 51
  2. nứt nẻ, biến dạng gây mất an toàn mái đập. Vì độ nhanh, độ phân giải cao, có thể đo ghi và vậy, khảo sát phát hiện sớm khoang rỗng bên biểu diễn kết quả liên tục theo thời gian thực. dưới lớp bê tông để có biện pháp gia cố, xử lý Phương pháp trên sử dụng sóng điện từ có tần là vô cùng cần thiết tại công trình đập Thủy số từ 10MHz đến 2,6GHz để điều tra các đặc Điện Sê San 4. điểm bên dưới bề mặt [3, 7]. Sóng điện từ lan truyền trong môi trường đất với vận tốc được biểu diễn theo công thức: V = c/ εr1/2 (1) Trong đó: ε r là hằng số điện môi của đất; c = 0,3 m/ns là vận tốc truyền sóng điện từ trong không khí; v (m/ns) là vận tốc truyền sóng điện từ trong đất. [4, 6, 9] Khi gặp các ranh giới mà vận tốc truyền sóng điện từ thay đổi qua ranh giới đó hay nói cách khác là các ranh giới của 2 môi trường có giá trị hằng số điện môi khác nhau, sóng điện Hình 1. Vị trí vai phải đập Thủy điện Sê San 4 từ bị phản xạ một phần, với hệ số phản xạ được tính theo công thức: Hiện nay, việc sử dụng các phương pháp thăm dò không phá hủy dựa trên nguyên lý của (2) sự lan truyền sóng đàn hồi và sóng điện từ là trong đó: - là hằng số điện môi tương đối phổ biến cho các mục đích khảo sát công trình của môi trường thứ nhất. xây dựng. Các phương pháp có thể kể đến như: - là hằng số điện môi tương đối của môi phương pháp siêu âm (Ultrasonic), phương pháp trường thứ hai. [4]. tiếng vang tiếp xúc (Impact echo) và phương Giá trị hằng số điện môi của một số vật liệu pháp Radar xuyên đất (Ground Penetrating được trình bày trong Bảng 1. [6] Radar) là được áp dụng rộng rãi nhất. Phương pháp siêu âm và phương pháp tiếng vang tiếp xúc có ưu thế hơn trong việc xác định các lỗ rỗng nhỏ, nứt nẻ bên trong cấu kiện bê tông [10]. Nhưng với tốc độ khảo sát nhanh và độ phân giải cao, phương pháp Radar xuyên đất đã đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận, đặc biệt trong việc phát hiện các khoang rỗng bên dưới tấm bê tông [2, 5, 8, 10]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp Radar xuyên đất để xác định vị trí các khoang rỗng bên dưới bê tông lát mái Hình 2. Hệ thiết bị Radar xuyên đất bao gồm thượng lưu vai phải đập Thủy điện Sê San 4. khối điều khiển và ăng ten 400MHz 3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Phương pháp Radar xuyên đất là phương Hệ thiết bị Radar xuyên đất cơ bản bao gồm pháp địa vật lý thăm dò không phá hủy, có tốc một khối điều khiển (GPR controller) được kết 52 ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019
  3. nối với ăng ten phát và ăng ten thu thông qua Bảng 1. Giá trị hằng số điện môi cáp truyền tín hiệu, bên cạnh đó còn có một số của một số vật liệu phụ kiện đi kèm như GPS, bánh xe khảo sát… Giá trị (Hình 2). Xung sóng điện từ qua ăng ten phát STT Tên vật chất hằng số được lan truyền vào môi trường. Khi sóng điện điện môi  r từ đi trong môi trường, một phần năng lượng 1 Không khí 1 được phản hồi khi gặp các ranh giới thay đổi về 2 Đất khô 5 hằng số điện môi, một phần khác tiếp tục đi 3 Đất ướt 25 xuyên sâu hơn. Phần năng lượng phản hồi từ 4 Nước ngọt 81 môi trường mang theo thông tin về đối tượng 5 Đất bồi 5-30 quan tâm được ăng ten thu ghi lại. Các tín hiệu 6 Đất sét 5-40 phản hồi sau đó được khối điều khiển tập hợp 7 Đá phiến sét 5-15 lại dưới dạng mặt cắt Radar (Radar image) (Hình 3). Điều này giúp người sử dụng theo 8 Đá granit 4-6 dõi chất lượng tín hiệu thu thập được ở thời 9 Đá vôi 4-8 gian thực. Xử lý, phân tích tín hiệu sóng điện 10 Cát khô 3-5 từ phản hồi này cung cấp cho chúng ta thông 11 Cát ướt 20-30 tin về đặc điểm của các đối tượng quan tâm 12 Nước biển 80 bên dưới bề mặt. 13 Kim loại dẫn điện ∞ Hình 3. Nguyên lý hình thành mặt cắt Radar Các đại lượng vật lý đặc trưng của sóng điện vào tần số của ăng ten phát thu và tính chất vật từ được dùng trong phương pháp Radar đất như: lý của môi trường địa chất trong đó giá trị hằng vận tốc truyền sóng (v), bước sóng (λ), hệ số số điện môi tương đối ) và độ dẫn điện (σ) suy giảm (α), hằng số điện môi tương đối hay là chủ yếu. Tần số càng cao, độ dẫn điện và độ điện thẩm tương đối (r), độ từ thẩm (μ), độ hằng số điện môi càng lớn thì chiều sâu khảo sát dẫn điện (σ)… càng nhỏ. [1, 2] Độ sâu khảo sát của phương pháp phụ thuộc Độ phân giải dọc của phương pháp Radar ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019 53
  4. xuyên đất là khoảng cách giữa các phản xạ phân nhiều lần tại đó, chúng ta sẽ không thu được biệt trên một đường ghi tín hiệu [6]. Nói cách thông tin về môi trường bên dưới lưới thép. Mặt khác là khoảng cách cần thiết để phân biệt được khác, khi bước sóng của xung sóng điện từ nhỏ hai đối tượng nằm sát nhau (khoảng cách này hơn khoảng cách mắt thép thì xung sóng có thể được ký hiệu là X). Theo nguyên lý Niyquist, X xuyên qua lưới thép để đem về thông tin của đối trong môi trường lý tưởng nhận giá trị là 0,25λ, tượng bên dưới, ở đây đối tượng bên dưới lưới trong môi trường thực tế X > 0,5 λ, với λ là thép được quan tâm là khoang rỗng. bước sóng của tín hiệu điện từ trong môi trường Khoang rỗng bên dưới lớp bê tông gây ra sự được xác định qua công thức: λ = V/f (V là vận tương phản lớn về giá trị hằng số điện môi so tốc truyền sóng điện từ trong môi trường, f là với môi trường bê tông bên trên với giá trị hằng tần số của ăng ten). Như vậy, trong một môi số điện môi của không khí trong khoang rỗng là trường nhất định, tần số ăng ten càng cao thì độ 1 (εkk = 1) và giá trị hằng số điện môi của bê phân dải càng tốt và ngược lại. tông thay đổi từ 7 đến 12 (ε = 7 ÷ 12) phụ thuộc Bê tông là vật liệu ít hấp thụ năng lượng sóng vào độ trưởng thành và hàm lượng xi măng điện từ do có giá trị hằng số điện môi thấp trong bê tông. Chính vì sự tương phản này mà (ε=7÷12), nên đây là môi trường khá lý tưởng Radar xuyên đất có thể dễ dàng phát hiện được cho thăm dò bằng phương pháp Rada xuyên đất. các khoang rỗng. Trên mặt cắt Radar xuyên đất, Tuy nhiên, đối với bê tông cốt thép lại là một khoang rỗng được biểu thị như một “điểm sáng” trường hợp khác biệt. Lưới thép bên trong bê tạo nên bởi các xung sóng phản xạ có biên độ tông cốt thép là tác nhân chính cản trở sóng điện lớn [3]. từ truyền qua lớp bê tông để thăm dò các đối 4. KHẢO SÁT KHOANG RỖNG BÊN tượng bên dưới. Thép có hằng số điện môi vô DƯỚI BÊ TÔNG LÁT MÁI THƯỢNG LƯU cùng lớn (ε ~ ∞) nên nó gần như hấp thụ và VAI PHẢI ĐẬP THỦY ĐIỆN SÊ SAN 4 phản xạ lại toàn bộ năng lượng sóng điện từ 4.1. Công tác khảo sát thực địa truyền đến. Để có thể thăm dò các đối tượng bên 4.1.1. Thiết bị sử dụng dưới lưới thép, xung sóng điện từ phải có bước Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử sóng nhỏ hơn khoảng cách mắt thép [4]. Bước dụng hệ thiết bị Radar xuyên đất SIR 30, hãng sóng của xung sóng điện từ trong môi trường GSSI, Mỹ. Hệ thiết bị bao gồm khối điều khiển được xác định qua công thức: SIR 30 và ăng ten phát thu có tần số 900MHz. λ= v/f (3) Việc lựa chọn tần số ăngten phụ thuộc vào tính Trong đó: λ (m) là bước sóng của xung sóng chất của môi trường và đối tượng nghiên cứu. điện từ trong môi trường; Đối tượng nghiên cứu là khoang rỗng nằm v (m/ns) là vận tốc sóng điện từ truyền trong dưới tấm bê tông cốt thép dày 0,22m, có 02 lớp môi trường; thép với khoảng lưới thép là 0,2m. Để có thể thu f (GHz) là tần số của xung sóng điện từ. được tín hiệu Radar phản hồi từ đối tượng, bước Vận tốc truyền sóng điện từ trong bê tông là sóng của tín hiệu Radar phải nhỏ hơn khoảng một giá trị xác định, nên để sóng điện từ có thể lưới thép, hay λ < 0,2m. Vận tốc truyền sóng đi xuyên qua lưới thép chúng ta cần lựa chọn điện từ trong bê tông nằm trong khoảng 0,08- tần số phát của ăng ten thích hợp sao cho bước 0,11 m/ns tương ứng với giá trị hằng số điện sóng của xung sóng điện từ (λ) nhỏ hơn khoảng môi ε = 12 ÷ 7 (theo công thức 1). Mặt khác để cách mắt thép. Nếu bước sóng của xung sóng đáp ứng yêu cầu về độ sâu nghiên cứu, năng điện từ lớn hơn khoảng cách mắt thép thì năng lượng sóng điện từ phải đến được đối tượng và lượng sóng bị lưới thép chặn lại và phản xạ quay trở lại mà không bị hấp thụ hết bởi môi 54 ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019
  5. trường. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn ăngten tần số nhiễu có thể đến từ các thiết bị phát sóng điện từ 900MHz cho khảo sát này. khác hoặc là tín hiệu điện từ phản hồi từ các vật 4.1.2. Biện pháp khảo sát và bố trí tuyến đo thể không phải đối tượng quan tâm. Để tăng tỷ lệ Trong phương pháp Radar xuyên đất có tín hiệu trên nhiễu, ta sử dụng bộ lọc tần số theo nhiều biện pháp khảo sát như: mặt cắt sóng phương thẳng đứng. Bộ lọc được đặc trưng bằng phản xạ, đo truyền xuyên qua (phương pháp các hàm lọc trong miền tần số, giúp loại bỏ các chiếu sóng), đo điểm sâu chung. Để thực hiện thành phần tần số không liên quan đến đối tượng. khảo sát này, chúng tôi sử dụng biện pháp mặt 4.2.3 Khuếch đại tín hiệu (Gain) cắt sóng phản xạ, đây là phương pháp thường Tín hiệu Radar bị suy giảm rất nhanh khi lan dùng nhất trong khảo sát với việc kéo ăngten truyền vào lòng đất. Cường độ tín hiệu từ các độ theo một tuyến thì kết quả cho ra một mặt cắt sâu lớn có giá trị bé hơn rất nhiều so với cường mô phỏng mặt cắt địa chất ở phía dưới theo độ tín hiệu ở độ sâu nhỏ. Do vậy, các phản xạ ở phương thẳng đứng. Trong quá trình đo ăngten sâu trở nên khó nhận biết. Bằng cách áp dụng luôn luôn phát và luôn thu, quá trình này dừng các hàm khuếch đại tín hiệu theo thời gian để bù lại khi ta kết thúc tuyến đo. đắp phần năng lượng mất mát khi sóng điện từ Hệ thống tuyến đo được bố trí theo các tuyến lan truyền trong môi trường, tín hiệu từ đối đo dọc song song với mặt đập (có cùng cao độ) tượng có thể được xác định dễ dàng hơn. sao cho trên một tấm bê tông lát mái bố trí tối 4.3. Kết quả khảo sát thiểu 02 tuyến đo và khoảng cách giữa các Trong phạm vi khảo sát từ cao độ +210,00 tuyến đo là 2m. Mỗi tuyến đo được chia thành (cao trình mực nước chết) đến cao độ +221,40 các đoạn nhỏ có độ dài 50m. Vị trí đầu và cuối (cao trình đỉnh mặt đập) thuộc vai phải đập Thủy của mỗi đoạn đều được đánh số thứ tự và có tọa điện Sê San 4, chúng tôi phát hiện một số khu độ chính xác. Trong trường hợp phát hiện có dị vực bê tông có tồn tại khoang rỗng bên dưới. thường trên tuyến đo thì bố trí một số tuyến đo Khu vực 1 bổ sung theo mạng lưới ô vuông, với khoảng cách giữa các tuyến đo là 0,5m/tuyến đo. 4.2. Xử lý số liệu Số liệu đo đạc được xử lý bằng phần mềm RADAN7 với các phép xử lý quan trọng như: hiệu chỉnh điểm 0, lọc tần số, khuếch đại tín hiệu. 4.2.1. Hiệu chỉnh điểm 0 (Timezero correction) Do sự trễ thời gian truyền sóng từ ăng ten đến mặt đất nên ranh giới không khí-mặt đất không nằm ở mốc 0. Điều này khiến cho sự minh giải độ sâu của đối tượng bị sai lệch đáng kể. Để đưa phản xạ của mặt đất trở về đúng với mốc 0, ta phải Hình 4. Hình ảnh nội soi lỗ khoan thể hiện áp dụng các thuật toán nhằm hiệu chỉnh điểm 0. khoang rỗng nhỏ dưới lớp bê tông ở độ sâu Thông thường mốc 0 sẽ được hiệu chỉnh về đỉnh 11,5cm tại khu vực 1 cực đại của xung phản xạ đầu tiên. 4.2.2 Lọc tần số (Bandpass filter) Dị thường nằm trong khoảng 13-18m thuộc Tín hiệu sóng điện từ thu được tồn tại nhiễu các tuyến 38-39, 53-52, 68-69, có cao độ lần đến từ nhiều nguồn khác nhau. Các nguồn gây lượt là +219,94m; +219,31m; +218,67m. Dị ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019 55
  6. thường này nằm toàn bộ trong phạm vi 1 tấm bê Khu vực dị thường đã được kiểm tra bằng tông. Kết quả phân tích dị thường cho thấy, khu 02 lỗ khoan và chụp ảnh nội soi trong lỗ vực xuất hiện dị thường có độ dày bê tông nhỏ khoan. Kết quả nội soi tại cả hai lỗ khoan hơn so với thiết kế (10-12cm), thiếu cốt thép cho thấy: độ dày lớp bê tông là 11,5cm và bên trong và bên dưới tấm bê tông lát mái tồn bên dưới lớp bê tông tồn tại khoang rỗng tại khoang rỗng nhỏ, diện tích khu vực khoang nhỏ (0,02-0,03m). Kết quả này là tương rỗng khoảng 6m2. Phân bố khu vực dị thường đồng với kết quả minh giải tài liệu Radar đất được thể hiện trên hình 9. tại khu vực. Hình 5. Kết quả khảo sát thể hiện dị thường trong khoảng 13-18m trên tuyến 68-69, ở cao trình +218,67m, tọa độ đầu tuyến (445287,94; 1545717,62), tọa độ cuối tuyến (445277,41; 1545668,74) Hình 6. Kết quả khảo sát thể hiện dị thường trong khoảng 14-17m trên tuyến 53-52, ở cao trình +219,31m, tọa độ đầu tuyến (445286,08; 1545718,01), tọa độ cuối tuyến (445275,55; 1545669,14) Hình 7. Kết quả khảo sát thể hiện dị thường trong khoảng 15-18m trên tuyến 38-39, ở cao trình +219,94m, tọa độ đầu tuyến (445284,22; 1545718,41), tọa độ cuối tuyến (445273,69; 1545669,53) 56 ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019
  7. Khu vực 2: Chúng tôi tiến hành khảo sát chi tiết để chính Dị thường nằm trong khoảng 29,5-32m trên xác hóa vị trí khoang rỗng. Phân tích kết quả tuyến 280-281, ở cao trình +211,02m, tọa độ đầu khảo sát chi tiết cho thấy khu vực khoang rỗng tuyến (445250,85; 1545418,76), tọa độ cuối tuyến có diện tích nhỏ (~2m2) và chiều cao khoang (445240,28; 1545369,89). Kết quả minh giải tài liệu Radar xuyên đất cho thấy đây là dị thường rỗng ~0,04m. Phân bố khu vực dị thường được liên quan đến khoang rỗng bên dưới lớp bê tông. thể hiện trên hình 10. Hình 8. Kết quả khảo sát thể hiện dị thường trong khoảng 29,5-32m trên tuyến 280-281, ở cao trình +211,02m, tọa độ đầu tuyến (445250,85; 1545418,76), tọa độ cuối tuyến (445240,28; 1545369,89) Hình 10. Phạm vi khu vực dị thường số 2 Hình 9. Phạm vi khu vực dị thường số 1 5. KẾT LUẬN 1. Phương pháp Radar xuyên đất là phương Từ kết quả khảo sát xác định khoang rỗng pháp thăm dò không phá hủy hiệu quả trong bên dưới bê tông lát mái thượng lưu vai phải việc xác định khoang rỗng bên dưới lớp bê tông đập Thủy điện Sê San 4 bằng phương pháp cốt thép. Radar xuyên đất, có một số nhận xét như sau: 2. Hệ thiết bị Radar xuyên đất với ăng ten tần ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019 57
  8. số 900MHz đáp ứng được yêu cầu về độ phân (2015). Civil engineering application of Ground giải và chiều sâu nghiên cứu trong khảo sát các penetrating radar. Springer. bê tông cốt thép có độ dày từ 0,2-0,4m, 02 lớp [5] Brett Kravitz, Michael Mooney, Jurij thép, khoảng cách mắt thép là 0,15-0,2m. Hệ Karlovsek, Ian Danielson, Ahmandreza Hedayat thiết bị này cho phép phát hiện các vị trí bê tông (2019). Void detection in two-component bị thiếu hụt cốt thép và các khoang rỗng nhỏ annulus grout behind a pre-cast segmental (0,02-0,04m) bên dưới lớp bê tông. tunnel liner using Ground Penentrating Radar. 3. Kết quả của nghiên cứu đã phục vụ hiệu Tunnneling and Underground Space quả công tác quản lý và đánh giá an toàn đập Technology 83, 381-392. của các cơ quan quản lý. [6] Daniels, D.J. (2004). Ground Penetrating Radar 2nd Edition. IET. The TÀI LIỆU THAM KHẢO Institution of Electrical Engineers, London. [7] Erica Carrick Utsi (2017). Ground [1] Đỗ Anh Chung, Nguyễn Văn Lợi, penetrating radar Theory and Applications. Phạm Lê Hoàng Linh, Dương Văn Sáu, Vũ Butterworth-Heinemann, Elsevier. Hoàng Hiệp, Trần Thế Việt (2019). Đánh giá [8] Giannopoulos, A., Macintyre, P., Rodgers, hiện trạng đê bằng tổ hợp các phương pháp S., Forde, M.C. (2002). GPR detection of voids in địa vật lý: Điện đa cực và Radar đất. Tạp chí post-tensioned concrete bridge beams. SPIE Địa kỹ thuật (Geotechnical Journal) Số 1- Proceedings of the Ninth International 2019, 43-50. Conference on Ground Penetrating Radar , pp. [2] Đỗ Anh Chung, Nguyễn Văn Lợi, Vũ 376–381 Đức Minh (2013).Áp dụng phương pháp [9] Lawrence B.Conyers (2012). Radar đất để xác định “thoát không” dưới bê Interpreting Ground-penetrating Radar for tông bản mặt đập Cửa Đạt. Tạp chí Khoa học Archaeology. Left Coast Press, Inc. ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công [10] Nigel J.Cassidy, Rod Eddies, Sam Dods nghệ, Tập 29, 8-15. (2011).Void detection beneath reainforced [3] A.P.Annan (2003). Ground penetrating concrete sections: The practical application of radar Principles, Procedures and Applications. ground penetrating radar and ultrasonic Sensors & Software Inc. techniques. Journal of Applied Geophysics 74, [4] Andrea Bebedetto, Lara Pajewshi 263-276. Người phản biện: PGS.TSKH TRẦN MẠNH LIỂU 58 ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2019
nguon tai.lieu . vn