Xem mẫu

  1. KHẢ NĂNG LÀM SẠCH NƯỚC BIỂN CỦA RONG SỤN (Kappaphycus alvarazii (Doty)) APTITUTE FOR DIMINISHING POLLUTION IN SEA WATER OF Kappaphycus alvazezii (doty) ABSTRACT: Marine algae are group of botanical ancestor on the sea water; they have had the aptitude for diminishing pollution in the sea water. Thus, in 80 years of XX century, Human has made use of it to diminish pollution in the sea water. Recently, in Vietnam, there have had some studies on the aptitude for absorbing some nutrients from the sea water of marine algae. Especially, in Cat Ba archipelago, the aquaculture in float-cage has been very strongly developed and it was eliminated so much organic-nutrient to the sea water. It is one of the causes of marine pollution. Thus, the study on the aptitude for diminishing pollution in the sea water of marine algae is necessary. For assessment, the aptitude for diminishing pollution in the sea water of Kappaphycus alvazazii (Doty), Centre for Research, Consultation on Marine Resources and Environment, (Vietnam Union of Science and Technology Association) has carried out the project: “The experimental on waster water treatment by Kappaphycus alvazazii (Doty)” from 2006 until 2007. The survey and sampling for determining parameters of seawater qualíty were performed at 0h, 6h, 12h and 24h (from beginning of the experiment). The parameters researching are Temperature, Salinity, Turbidity, pH, Dissolved Oxygen (DO), Biological Oxygen Demand (BOD5), Ammonia (NH4+), Nitrite (NO2-), Nitrate (NO3-), Phosphate (PO4-3). The results of study showed that: - Ammonia, Nitrate, Phosphate concentrations in the sea water in the study area were extended the permitted standard, according to ASEAN criteria, averagely by 2 to 3 times. - The turbidity was lessened at early 6 hours of the experiment, approximate 17%, - The pH value was rapidly increased at early 6 hours of the experiment, approximate 0.62 units, - The content of Dissolved Oxygen (DO) was very rapidly increased at early 6 hours of the experiment, approximate 129%, - The Biological Oxygen Demand (BOD5) value was lessened at early 12 hours of the experiment, approximate 23%, - The content of Ammonia (NH4+) was very rapidly lessened at early 12 hours of the experiment, approximate 80%, - The content of Nitrite (NO2-) was very rapidly lessened at early 12 hours of
  2. the experiment, approximate 54%, - The content of Phosphat (PO4-3) was lessened at early 24 hours of the experiment, approximate 36%, - The content of Nitrate (NO3-) was lessened at early 24 hours of the experiment, approximate 21%. MỞ ĐÂU ̀ Ngay từ năm 80, Hoff và Frank Neil (1985, 1986) đã sử dụng rong biển để làm sạch nước biển. Đến những năm 90 của thế kỷ XX, rất nhiều tác giả đã nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm môi trường như: Paletta, Michael (1990); Marchant, Don A. (1992); Glodek, Gamrrett (1993); Graff, Rick (1993); Prasek, Edward D. (1995)... Các tác giả này đã sử dụng nhiều loài rong biển thuộc các ngành khác nhau (rong đỏ, rong nâu, rong lục). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, rất nhiều loài rong biển như: rong loa kèn, rong bóng (rong nâu); rong câu (rong đỏ) và rong guột (rong lục) đều có khả năng xử lý ô nhiễm môi trường nhất là ô nhiễm bởi các chất hữu cơ. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, có một vài nghiên cứu về khả năng hấp thu một số chất dinh dưỡng bởi rong biển. Năm 1999, Vũ Văn Toàn (Viện nghiên cứu hải sản) đã chứng minh được rong câu chỉ vàng có thể hấp thu các chất dinh dưỡng Amoni, Nitrit, Phosphat trong hệ thống nuôi tôm khép kín. Năm 2001, Nguyễn Hữu Đại (Viện Hải dương học Nha Trang) đã nghiên cứu thực nghiệm về khả năng hấp thu một số chất dinh dưỡng như Amoni , Nitrit, Nitrat, Phosphat trong nước biển bởi loài rong xanh (Ulva sp.) và đã thu được kết quả khả quan. Năm 2002, Trần Văn Nhị (Viện Công nghệ sinh học) đã đưa ra công nghệ xử lý nước sinh hoạt bị ô nhiễm bởi các hợp chất vô cơ của nitơ dựa trên các chủng vi khuẩn đã được phân cùng với giá thể của chúng có sự kết hợp với một số loài rong biển thuộc chi Caulerpa, ngành rong lục. Năm 2005, Lê Như Hậu (Phân viện Vật liệu tại Nha Trang) đã cố công bố một số kết quả xử lý ô nhiễm các chất hữu cơ trong môi trường nuôi tôm sú bằng rong câu chỉ vàng tại một số tỉnh miền Trung. Ngoài khả năng xử lý ô nhiễm, rong biển còn được tận thu tạo nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác như chế các loại keo (agar, carrageenan), chế biến thực phẩm, phân bón. Rong sụn (Kappaphycus alvarazii (Doty) đã được di nhập vào miền Trung nước ta từ năm 1993 và đang được quan tâm phát triển tạo nguyên liệu cho xuất khẩu. Năm 1996, Lê Thị Thanh và đồng nghiệp (Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển) đã tiến hành di nhập rong sụn vào vùng biển Cát Bà (Hải Phòng). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, loài rong Kappaphycus alvarezii (Doty) có thể trồng được ở vùng biển Cát Bà trong mùa hè với tốc độ sinh trưởng khá cao.
  3. Năm 1997, Nguyễn Văn Nguyên cũng đưa ra kết quả tương tự cho loài rong này tại vùng biển Vân Đồn, Quảng Ninh. Trong những năm gần đây, việc nuôi cá lồng bè ở Cát Bà (Hải Phòng) phát triển rất mạnh, thải ra một lượng không nhỏ các chất hữu cơ - dinh dưỡng vào nước biển. Và việc nghiên cứu làm sạch nước biển ở đây là cần thiết. Để đánh giá khả năng làm sạch nước biển của rong Sụn, Trung tâm Nghiên cứu, Tư vấn Tài nguyên và Môi trường Biển thuộc Liên hiệp Các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tiến hành Dự án: Thực nghiệm xử lý nước thải bằng thực vật thuỷ sinh tại khu vực Cát Bà, Hải Phòng (2006 - 2007). Những kết quả bước đầu của Dự án được trình bày trong bài báo này. I. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHAP ́ I.1. Tài liệu Tài liệu được sử dụng trong bài báo là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Dự án tại khu vực Vụng Tai Kéo, Cát Bà, Hải Phòng vào tháng 8/2006 (Sơ đồ Hình 1). I.2. Phương pháp • Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã được sử dụng trong Dự án. • Phương pháp đo đạc và phân tích mẫu nước Việc đo đạc và phân tích các thông số môi trường nước được thực hiện theo phương pháp đang được sử dụng tại Phòng thí nghiệm của Viện Tài nguyên và Môi trường biển. • Phương pháp xử lý số liệu Các số liệu được xử lý thống kê: loại bỏ số liệu chứa sai số thô, tính trung bình cộng...
  4. II. KÊT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ́ II.1. Mô tả thí nghiệm Việc thí nghiệm được thực hiện ngay tại hiện trường, trên các lồng bè nuôi tu hài, cá song, cá giò ở khu vực vụng Tai Kéo, Cát Bà, Hải Phòng (Sơ đồ Hình 1). Các lô thí nghiệm và lô đối chứng được thực hiện trong cùng điều kiện ngay ở ngoài hiện trường. Lô thí nghiệm và đối chứng được bố trí trong các thùng plastic đường kính 0,6m chứa 100 lít nước biển tự nhiên, lấy tại nơi thí nghiệm.
  5. Trong các lô thí nghiệm sử dụng 2 kg rong sụn đã rửa sạch, được lấy ngay tại ô lồng nuôi (rong này được di nhập từ Nha Trang từ tháng 7/2006). Như vậy, mật độ rong sụn trong các lô thí nghiệm là khoảng 7 kg rong tươi/m 2, tính theo thể tích - 20kg/ m3. Việc đo đạc và lấy mẫu để xác định một số thông số chất lượng nước được thực hiện vào các khoảng thời gian 0 giờ, 6 giờ, 12 giờ và 24 giờ, tính từ khi bắt đầu thí nghiệm. Thí nghiệm được thực hiện vào tháng 8 và tháng 11 năm 2006. II.2. Kết quả thực nghiệm Kết quả xác định các thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm (kí hiệu mẫu - T) và các lô đối chứng (kí hiệu mẫu - Đ) được tính trung bình cộng sau khi đã loại bỏ những số liệu chứa sai số thô. II.2.1. Kết quả thực nghiệm đợt tháng 8 năm 2006 Kết quả thí nghiệm thực hiện ngày 17 - 18/8/2006 được tổng hợp trong bảng 1 và 2. Bảng 1. Tổng hợp kết quả đo nhanh một số thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm (T) và đối chứng (Đ), ngày 17 - 18/8/2006 TT Kí hiệu Nhiệt độ Độ muối Độ đục pH Ôxy hòa Thời gian mẫ u (0C) (0/00) (mg/l) tan (mg/l) đo, lấy mẫu 9h, 17/8/2006 1 T0 30,2 29 6 8,14 6,2 (bắt đầu thí nghiệm) 15h, 17/8/2006 2 T1 32,4 29 5 8,76 14,2 (sau 6 giờ) 15h, 17/8/2006 3 Đ1 32,3 29 6 8,14 5,6 (sau 6 giờ) 21h, 17/8/2006 4 T2 31,2 29 5 8,82 11,1 (sau 12 giờ) 21h, 17/8/2006 5 Đ2 31,3 29 6 8,15 5,3 (sau 12 giờ) 9h, 18/8/2006 6 T3 27,4 29 6 8,50 6,15 (sau 24 giờ) 9h, 18/8/2006 7 Đ3 27,4 29 7 8,16 5,7 (sau 24 giờ) Bảng 2. Tổng hợp kết quả phân tích một số thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm (T) và đối chứng (Đ) , ngày 17 - 18/8/2006
  6. TT Kí hiệu NO3 - -N NO2--N NH4+ -N PO43- -P BOD5 Thời gian mẫ u (µ g/l) (µ g/l) (µ g/l) (µ g/l) (mg/l) đo, lấy mẫu 9h, 17/8/2006 180 1 T0 190 18 59 1,3 (bắt đầu thí nghiệm) 21h, 17/8/2006 2 T2 160 8,3 42 47 1,0 (sau 12 giờ) 21h, 17/8/2006 3 Đ2 180 10 110 54 1,2 (sau 12 giờ) 9h, 18/8/2006 4 T3 150 8,9 41 37 0,9 (sau 24 giờ) 9h, 18/8/2006 5 Đ3 160 9,8 - 38 1,2 (sau 24 giờ) GHCP (ASEAN- 60 µ g/l 70 µ g/l 15 µ g/l Canada) Ghi chú: Các ô đánh dấu sẫm màu với con số in đậm và nghiêng biểu hiện nồng độ vượt giới hạn cho phép (GHCP) theo Tiêu chuẩn đề nghị của Chương trình hợp tác ASEAN - Canada. II.2.2. Kết quả thực nghiệm đợt tháng 11 năm 2006 Kết quả thí nghiệm thực hiện ngày 3 - 4/11/2006 được tổng hợp trong bảng 3 và 4. Bảng 3. Tổng hợp kết quả đo nhanh một số thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm (T) và đối chứng (Đ), ngày 3 - 4/11/2006 TT Kí hiệu Nhiệt độ Độ muối Độ đục pH DO Thời gian mẫ u (0C) (0/00) (mg/l) (mg/l)đo, lấy mẫu 11h30, 3/11/2006 1 T0 28,7 32 7 8,19 5,5 (bắt đầu thí nghiệm) 17h30, 3/11/2006 2 T1 28,8 33 6 8,44 9,8 (sau 6 giờ) 17h30, 3/11/2006 3 Đ1 28,7 33 7 8,31 5,6 (sau 6 giờ) 11h30, 4/11/2006 4 T2 28,1 33 6 8,41 8,9 (sau 24 giờ) 11h30, 4/11/2006 5 Đ2 28 33 7 8,19 5,9 (sau 24 giờ) Bảng 4. Tổng hợp kết quả phân tích một số thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm (T) và đối chứng (Đ) , ngày 3 - 4/11/2006
  7. TT Kí hiệu NO3 --N NO2--N NH4+-N PO43--P BOD5 Thời gian mẫ u (µ g/l) (µ g/l) (µ g/l) (µ g/l) (mg/l) đo, lấy mẫu 11h30, 3/11/2006 1 T0 140 13 130 39 1,3 (bắt đầu thí nghiệm) 17h30, 3/11/2006 2 T1 110 8 80 32 0,8 (sau 6 giờ) 17h30, 3/11/2006 3 Đ1 120 11 120 37 1,4 (sau 6 giờ) GHCP (ASEAN- 60 µ g/l 70 µ g/l 15 µ g/l Canada) Ghi chú: Các ô đánh dấu sẫm màu với con số in đậm và nghiêng biểu hiện nồng độ vượt giới hạn cho phép (GHCP) theo Tiêu chuẩn đề nghị của Chương trình hợp tác ASEAN - Canada. II.3. Thảo luận Việc đánh giá khả năng làm sạch nước biển của rong sụn được dựa trên sự so sánh giá trị các thông số môi trường nước trong các lô thí nghiệm sau những khoảng thời gian thí nghiệm với giá trị các thông số môi trường nước thí nghiệm ở thời điểm ban đầu; t = 0h. Đồng thời, có đối chiếu với giá trị các thông số môi trường nước trong các lô đối chứng. Giá trị các thông số được lấy trung bình cộng sau khi đã loại bỏ những số liệu chứa sai số thô. Việc đánh giá chất lượng nước dựa trên sự so sánh kết quả phân tích với tiêu chuẩn môi trường. II.3.1. Về hiện trạng môi trường nước ở khu vực nghiên cứu Kết quả phân tích trong cả 2 đợt khảo sát tháng 8 (bảng 2) và tháng 11 (bảng 4) cho thấy, nồng độ các muối dinh dưỡng nitrat, amoni và photphat trong nước biển ở khu vực nghiên cứu đều vượt quá giới hạn cho phép (GHCP) theo Tiêu chuẩn đề nghị của Chương trình hợp tác ASEAN - Canada, 1997. Cụ thể: - Nồng độ amoni vượt quá GHCP từ xấp xỉ 2 lần đến hơn 2 lần. - Nồng độ nitrat vượt quá GHCP từ hơn 2 lần đến hơn 3 lần. - Nồng độ photphat vượt quá GHCP từ hơn 2 lần đến hơn 3 lần. Khu vực vụng Tai Kéo (Cát Bà, Hải Phòng) - nơi tiến hành thực nghiệm - là khu vực mà nước biển lưu thông khá tốt (có lạch sâu, dòng triều khá mạnh), nơi có mật độ nuôi lồng bè thấp hơn nhiều so với khu vực gần Bến Bèo, nhưng nước đã có biểu hiện bị ô nhiễm bởi các chất dinh dưỡng. II.3.2. Về khả năng làm sạch nước biển của rong sụn • Về khả năng làm sạch nước của rong sụn nói chung Kết quả thực nghiệm trong cả 2 đợt; tháng 8 (bảng 1) và tháng 11 (bảng 3) cho thấy, ngoài các thông số nền độ muối (hầu như không thay đổi trong suốt thời gian thí nghiệm), nền nhiệt độ (thay đổi theo nhiệt độ môi trường xung quanh), giá trị các thông số môi trường khác đều thay đổi theo hướng tích cực, chứng tỏ khả năng làm
  8. sạch nước biển của rong sụn. Cụ thể: - Độ đục của nước giảm từ 6 mg/l xuống 5 mg/l ngay sau 6 giờ đầu thí nghiệm (bảng 1). Tỷ lệ giảm độ đục là 17% (bảng 5). - Giá trị pH tăng từ 8,14 lên 8,76 ngay sau 6 giờ đầu và tăng đến 8,82 sau 12 giờ. Mức tăng pH tương ứng là 0,62 ÷ 0,68 đơn vị (bảng 5). Giá trị pH ở thời điểm ban đầu và ở lô đối chứng nằm trong khoảng 8,14 ÷ 8,16 (bảng 1). Điều đó chứng tỏ khả năng hấp thu khí CO2 trong nước biển của rong sụn là rất mạnh. Và đó cũng biểu hiện cường độ quang hợp mạnh. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi hiện nay nồng độ CO2 trong khí quyển đang gia tăng và các nhà khoa học trên thế giới đang lo ngại về hiện tượng khí CO2 làm “chua” nước biển (giá trị pH của nước biển giảm) có thể dẫn đến những tác động xấu lên hệ sinh thái biển. - Nồng độ ôxy hoà tan trong nước tăng từ 6,2 mg/l lên 14,2 mg/l sau 6 giờ và vẫn ở mức rất cao 11,1 mg/l sau 12 giờ thí nghiệm. Trong khi đó, nồng độ ôxy hoà tan ở lô đối chứng trong khoảng 5,3 ÷ 6,2 mg/l (bảng 1). Mức độ gia tăng nồng độ ôxy hoà tan, 8mg/l, so với thời điểm ban đầu (6,2mg/l) đạt tỷ lệ 129% (bảng 5). Hiện tượng nồng độ ôxy hoà tan gấp hơn 2 lần sau 6 giờ đầu của thí nghiệm phản ánh cường độ quang hợp rất mạnh. Rất nhiều bọt khí có đường kính 1 ÷ 2 mm xuất hiện trên thân rong, nổi lên mặt nước đã quan sát thấy trong các lô thí nghiệm và được cho là khí ôxy. Theo Sưskina L.A.,1974, nước biển được coi là sạch khi nồng độ ôxy hoà tan từ 6 ÷ 11 mg/l. - Nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD5) giảm khá nhanh trong 12 giờ đầu, khoảng 23%, giảm khoảng 31% sau 24 giờ thí nghiệm. - Nồng độ nitrit giảm nhanh trong 12 giờ đầu, khoảng 54%. - Nồng độ amoni giảm rất nhanh trong 12 giờ đầu, khoảng 80%. - Nồng độ photphat giảm khá nhanh và đều trong suốt thời gian thí nghiệm (24 giờ), khoảng 36%. - Nồng độ nitrat giảm khoảng 16% trong 12 giờ đầu và 21% sau 24 giờ. Các số liệu nêu trên cho thấy rong sụn có khả năng hấp thụ mạnh các muối dinh dưỡng, đồng thời đẩy nhanh quá trình phân huỷ các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học; được biểu hiện bởi giá trị BOD 5 giảm (bảng 2, 4, 5 và 6). Điều này có thể được giải thích bởi: sự tăng nồng độ ôxy hoà tan là điều kiện thuận lợi cho quá trình phân huỷ các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật hiếu khí. • Khả năng làm sạch nước liên quan đến đặc điểm sinh thái của rong So sánh giá trị của các thông số độ đục, pH và ôxy hoà tan của hai đợt thí nghiệm có thể nhận xét sơ bộ: vào tháng 8 khả năng làm sạch môi trường của rong mạnh hơn so với tháng 11; được biểu hiện bởi giá trị các thông số độ đục, pH và ôxy hoà tan (bảng 5 và 6). Nguyên nhân được cho là vào tháng 11, độ muối hơi cao (33‰), vượt ngưỡng tối ưu của rong (28 ÷ 30‰). Mặt khác, có thể do cường độ ánh sáng trong tháng 11 giảm so với tháng 8, chưa đạt ngưỡng tối ưu. Bảng 5. Đánh giá khả năng làm sạch nước biển của rong sụn (kết quả thí nghiệm ngày 17 - 18/8/2006)
  9. Thông Thời gian thí nghiệm TT Nhận xét số Sau 6h Sau 12h Sau 24h Giảm Giảm Độ đục giảm đáng kể ngay trong 1 Độ đục - 17% 17% 6 giờ đầu Tăng Tăng Tăng pH tăng nhanh ngay trong 6 giờ 2 pH 0,62 đv 0,68 đv 0,36 đv đầu Ôxy hoà Tăng Nồng độ ôxy hoà tan tăng rất 3 Tăng 79% - tan 129% nhanh ngay trong 6 giờ đầu Giảm Giảm Nhu cầu ôxy sinh hoá giảm khá 4 BOD5 - 23% 31% mạnh trong 12 giờ đầu - NO3 -N Giảm Giảm Nồng độ nitrat giảm tương đối 5 - (µg/l) 16% 21% nhiều trong 12 giờ đầu NO2- -N Giảm Giảm Nồng độ nitrit giảm mạnh trong 6 - (µg/l) 54% 51% 12 giờ đầu NH4+ -N Giảm Giảm Nồng độ amoni giảm rất mạnh 7 - (µg/l) 80% 77% trong 12 giờ đầu 3- PO4 -P Giảm Giảm Nồng độ photphat giảm khá đều 8 - (µg/l) 20% 36% trong suốt thời gian thí nghiệm Bảng 6. Đánh giá khả năng làm sạch nước biển của rong sụn (kết quả thí nghiệm ngày 3 - 4/11/2006) Thời gian thí nghiệm Nhận xét TT Thông số Sau 6h Sau 24h Độ đục giảm đáng kể trong 6 giờ 1 Độ đục Giảm 14% Giảm 14% đầu 2 pH Tăng 0,25đv Tăng 0,22đv pH tăng đáng kể trong 6 giờ đầu Nồng độ ôxy hoà tan tăng rất 3 Ôxy hoà tan Tăng 78% Tăng 62% nhanh ngay trong 6 giờ đầu Nhu cầu ôxy sinh hoá giảm khá 4 BOD5 Giảm 38% - mạnh trong 6 giờ đầu NO3 - - N Nồng độ nitrat giảm tương đối 5 Giảm 15% - (µg/l) nhiều trong 6 giờ đầu Nồng độ nitrit giảm khá mạnh 6 NO2- - N (µg/l) Giảm 38% - trong 6 giờ đầu NH4+ - N Nồng độ amoni giảm khá mạnh 7 Giảm 38% - (µg/l) trong 6 giờ đầu Nồng độ photphat giảm đáng kể 8 PO43- - P (µg/l) Giảm 18% - trong 6 giờ đầu • Một vài tính toán định lượng về khả năng làm sạch nước của rong sụn Từ các dữ liệu trong đợt thí nghiệm vào tháng 8 năm 2006: lượng rong (2kg),
  10. lượng nước (100lít), nồng độ các muối dinh dưỡng ở thời điểm bắt đầu thí nghiệm (0 giờ) và kết thúc thí nghiệm (sau 24 giờ) (bảng 2), khả năng làm sạch nước biển của rong sụn tính được như sau: - Khả năng làm sạch amoni: 7mg NH4+ -N /kg rong/ngày đêm. - Khả năng làm sạch nitrat: 2mg NO3- - N /kg rong/ngày đêm. - Khả năng làm sạch photphat: 1,1mg PO4-3 -N /kg rong/ngày đêm. - Khả năng làm sạch nitrit: 0,5mg NO2- -N /kg rong/ngày đêm. Những số liệu nêu trên cho thấy: - Khả năng làm sạch các muối dinh dưỡng trong nước biển của rong sụn là rất lớn. - Tốc độ làm sạch amoni là lớn nhất, sau đó là nitrat. Tốc độ làm sạch nitrit là thấp nhất. Đồng thời, lượng ôxy hoà tan gia tăng rất đáng kể. Quy luật nêu trên cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Huyên (Phân viện Khoa học Vật liệu tại Nha Trang) tại tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà (Dự án SUMA, Bộ Thuỷ sản, 2004). KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Từ kết quả nghiên cứu đã được trình bày ở trên, có thể rút ra kết luận: 1. Nước biển ở khu vực nghiên cứu; vụng Tai Kéo (Cát Bà, Hải Phòng), nơi có mật độ nuôi lồng bè không cao, điều kiện lưu thông khá tốt, nhưng đã có biểu hiện nước bị ô nhiễm bởi các chất dinh dưỡng. 2. Rong sụn (Kappaphycus alvarazii (Doty)) có khả năng làm sạch nước biển với hiệu quả làm sạch cao, đặc biệt là đối với amoni. 3. Có thể trồng rong sụn ở vùng biển miền Bắc trong mùa hè, ở những nơi có nhiệt độ, độ muối cao và ổn định, đặc biệt là ở khu vực nuôi hải sản nhằm 2 mục tiêu - làm sạch nước biển và thu sinh khối rong. Và khuyến nghị: 1. Thực hiện các dự án trồng rong sụn ở những nơi có điều kiện phù hợp nhằm bảo vệ môi trường biển và phát triển kinh tế - xã hội. Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm lưu giống rong sụn qua mùa đông ở khu vực miền Bắc. 2. Nghiên cứu trồng thử các loài rong có giá trị kinh tế khác ở các khu vực nuôi hải sản tập trung nhằm bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Văn Huyên, 2004. Kết quả nghiên cứu sử dụng rong sụn để xử lý ô nhiễm ưu dưỡng trong ao nuôi tôm. Báo cáo tại Diễn đàn KHCN – SUMA, Bộ Thuỷ sản. 2. An Khánh, 2004. Trồng rong sụn như thế nào? Khoa học, 12-2004. 3. APHA - AWWA - WPCF. Standard Methods for the Examination of Water and Westewater, 19th ed, 1995. Washington, DC 20005 4. ASEAN - Canada Cooperative Programme on Marine Science. ASEAN Marine
  11. Environmental Management: Qualíty Criteria and Monitoring for Aquatic Life and Human Health Protection. Penang, Malaysia, June 24 - 28, 1996. 5. ASEAN - Canada Cooperative Programme on Marine Science (ACCPMS-II). Technical Session I: Environmental Criteria - Development and Application. Procceding of the Fourth ASEAN - Canada Technical Conference on Marine Science, Langkawi, Malaysia, October 26 - 30, 1998: Toward Sustainable Development Integrated Management of the Marine Environment in ASEAN. Sưskina L.A.,1974. Thuỷ hoá (Tiếng Nga). NXB Khí tượng thuỷ văn.