Xem mẫu

  1. BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II GIÁO TRÌNH VI SINH KÝ SINH NGHỀ: DƯỢC TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP NGHỀ/CAO ĐẲNG NGHỀ (Ban hành theo quyết định số /2012/QĐ-TCĐNKTCNHCM, ngày tháng năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Kỹ Nghệ TP. HCM) 1
  2. Chương I: VI SINH VẬT HỌC BÀI 1 ĐẠI CƯƠNG VI SINH VẬT HỌC I. MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Nắm rõ tác dụng của vi sinh vật đối với sự sống và con người. 2. Nắm được sơ lược lịch sử phát triển của vi sinh vật học. II.Nội dung 1.Đối tượng nghiên cứu và phân môn của vi sinh vật học. Ngoài thế giới động, thực vật mà loài người đã biết từ lâu, còn có những vi sinh vật nhỏ bé, chỉ có thể quan sát bằng kính hiển vi, đó là những vi sinh vật đơn bào (protist). Bao gồm: vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm (bacteria, protozoa, fungi). Trước đây, vi si sinh vật đã được định nghĩa là những sinh vật bé nhỏ chỉ có thể quan sát bằng kính hiển vi và theo định nghĩa này thì các đơn bào đều thuộc về vi sinh vật. nhưng động vật nguyên sinh và nấm là những tế bào có màng nhân (cucaryote). Động vật nguyên sinh thuộc về giới động vật, còn nấm thuộc về giới nấm (Fungi). Vi khuẩn và một số tảo lam là những đơn bào không có màng nhân, chúng thuộc vào giới Procaryote ( tương đương với giới động, thực vật). Môn học nghiên cứu về vi sinh vật và vai trò của chúng với sự sống gọi là Vi sinh vật học (Microbiology). Vi sinh vật bao gồm nhiều phân môn như: vi sinh vật thổ nhưỡng, vi sinh vật thú y, vi sinh vật thực vật, vi sinh vật công nghiệp và vi sinh vật y học. Vi sinh vật y học (Medical microbiology) là môn học chuyên nghiên cứu về các vi sinh vật gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, về cả mặt có lợi và có hại cho sức khoẻ. Vi sinh vật y học lại bao gồm các tiểu phân môn, như vi khuẩn học (bacteriology), virus học (virology), miễn dịch chống nhiễm trùng, di chuyển vi sinh vật, vi sinh vật và môi trường, kháng sinh và hoá trị liệu, huyết thanh học (serology)… 2.Tác dụng của vi sinh vật. 2.1. Tác dụng có lợi Khi nói đến vi khuẩn và virus thì nhiều người dễ nghĩ ngay đây là những mầm bệnh nguy hiểm, nhưng thực sự điểu này chỉ đúng một phần. Vì vi sinh vật nói chung là rất cần thiết cho sự sống. Chúng ta hãy điểm qua một số tác dụng tích cực của vi sinh vật: - Hai chu trình carbon và nitơ có ý nghĩa quyết định cho sự sống của sinh vật trên trái đất. Cả hai chu trình này vi sinh vật đóng vai trò trong mắt xích là làm thối rửa các động, thực vật – “hoàn vũ động, thực vật”. Và nhờ vậy, các chất hữu cơ của vi 2
  3. sinh vật được trả lại cho đất, cung cấp dinh dưỡng cho thực vật và tiếp đó là động vật, để sự sống tiếp diễn không ngừng. - Trong đất còn có một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm vô cơ thành đạm hữu cơ và một số vi sinh vật có khả năng quang hợp. Tất cả khả năng này đều làm giàu dinh dưỡng cho đất. - Trên da và trong các khoang của cơ thể có khá nhiều loại vi sinh vật ký sinh, có tác dụng chống lại các vi sinh vật gây bệnh. Trong số vi sinh vật ký sinh cũng có một số vi sinh vật gây bệnh cơ hội. Ví dụ E.coli sống rất nhiều ở đại tràng còn có tác dụng phân giải thức ăn và sản sinh ra một số vitamin cho cơ thể. - Các vi khuẩn đều sinh ra các chất có tác dụng kháng khuẩn để làm vũ khí đấu tranh sinh tồn. Một số những chất này đã được dùng làm thuốc kháng sinh điều trị chống nhiễm khuẩn. - Các vi sinh vật được dùng làm nguyên liệu để sản xuất thành vaccin và huyết thanh miễn dịch là những sản phẩm sinh học rất quan trọng được dùng trong phòng và điều trị các bệnh nhiễm vi sinh vật. - Từ cổ xưa, khi con người chưa biết về vi sinh vật, nhưng họ đã biết muối cà, tương, mắm, dưa, rượu, bia, men bánh mì, nem chua… Gần như tất cả các quá trình này đều cần có quá trình lên men của vi sinh vật. - Công nghệ sinh học đã và sẽ đưa lại cho con người nhiều lợi ích và là một cuộc cách mạng khoa học kỹ t huật rất lớn được thế giới đặt ra cho thế kỷ XXI. Vi sinh vật là một công cụ được sử dụng rất nhiều trong công nghệ sinh học. - Vi sinh vật cũng là mô hình để nghiên cứu về di truyền phân tử, về hoá sinh học… Vì vi sinh vật có số lượng gien ít, phát triển nhanh và kích thước rất nhỏ bé, nên dễ dàng cho sự nghiên cứu và thực nghiệm. 2.2. Tác hại của vi sinh vật. Tuy sinh vật nói chung có rất nhiều tác dụng có lợi, nhưng vi sinh vật y học thì mặt được quan tâm nhiều nhất lại là tác dụng có hại. Vi sinh vật là căn nguyên của các bệnh nhiễm trùng, gây ô nhiễm môi trường ( đất, nước, không khí,…) và phân giả các thức ăn, các sản phẩm sinh học cần bảo quản. Các nội dung nghiên cứu khác của vi sinh vật y học cũng nhằm mục đích cuối cùng là chống lại các vi sinh vật gây bệnh, nhằm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do chúng gây ra. Lợi dụng khả nằng gây bệnh của vi sinh vật. một số nước đã nghiên cứu thậm chí sử dụng chiến tranh vi sinh vật, nhiều báo chí đã đăng tải những thông tin về vấn đề này. Nhưng nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nước đã đề nghị nghiêm cấm nghiên cứu và sử dụng chiến tranh sinh học. 3. Lược sử nghiên cứu một số vi sinh vật y học. - 1590 – 1608: Zacharias Janssen lần đầu tiên lắp ghép kính hiển vi nhưng chưa quan sát được vi khuẩn. 3
  4. - Năm 1676: Antony van Leeuwenhoek (1632 – 1723) hoàn thiện kính hiển vi một tròng và khám phá ra thế giới vi sinh vật (mà ông gọi là anmalcules). - Năm 1798: Edward Jenner nghĩ ra phương pháp chủng mủ đậu bò để phòng ngừa bệnh đậu mùa. - Năm 1857: Louis Pasteur (1822 – 1895) chứng minh quá trình lên men lactic là gây nên bởi vi sinh vật. - Năm 1861: Louis Pasteur chứng minh vi sinh vật không tự phát sinh như theo thuyết tự sinh. - 1876 – 1877: Robert Kock (1843 – 1910) chứng minh bệnh than do vi khuẩn Bacillus anthracis gây nên. - Năm 1880: Alphonse Laveran phát hiện ký sinh trùng Plasmodium gây ra bệnh sốt rét. - Năm 1881: Louis Pasteur tìm ra vaccin chống bệnh than. - Năm 1882: Robert Kock phát hiện ra vi khuẩn lao – Mycobacterium tuberculosis. - Năm 1885: Pasteur tìm ra vaccin chống bệnh dại. Escherich tìm ra vi khuẩn Escherichia coli gây ra bệnh tiêu chảy. - Năm 1886: Fraenkel phát hiện thấy Streptococcus pneumoniae gây ra bệnh viêm phổi. - Năm 1892: Uvabiwsky phát hiện ra mầm bệnh nhỏ hơn vi khuẩn (virus) gây ra bệnh khảm ở cây thuốc lá. - Năm 1894: Kitasato và Yersin khám phá ra vi khuẩn gây bệnh dịch hạch (Yersina pestis). - Năm 1905: Schaudinn và Hoffmann tìm ra mầm bệnh giang mai Trepnema pallidum. - Năm 1909: Ricketts chứng minh bệnh sốt ban núi đá lan truyền qua ve là do mầm bệnh vi khuẩn – Rickettsia rickettsi. - Năm 1929: Fleming phát hiện ra penicillin. - 1983- 1984: Gollo và Montaginier phân lập và định loại virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Hình ảnh một số nhà khoa học nghiên cứu về vi sinh vật Hình ảnh kính hiển vi của Antony van Leeuwenhoek. 4
  5. Bài 2 VI KHUẨN I. MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày được hình dạng, kích thước một số loại vi khuẩn đã học. 2. Trình bày được cấu tạo, chức năng của vi khuẩn. 3. Trình bày được cơ chế sinh lý của vi khuẩn: dinh dưỡng, hô hấp, chuyển hoá, sinh sản. II. NỘI DUNG 1. Kích thước của vi khuẩn Vi khuẩn có kích thước rất nhỏ bé nên phải dùng kính hiển vi phóng đại lên hàng trăm, hàng ngàn lần mới có thể quan sát được. Đơn vị thường dùng để đo kích thước vi khuẩn là micromet. Phần lớn vi khuẩn có kích thước từ 1-3 micromet. Cũng có kích thước lớn hơn như trực khuẩn than (6 micromet) và có loại kích thước rất nhỏ như vi khuẩn dịch hạch (0,5 micromet). Kích thước của vi khuẩn có thể thay đổi theo tuổi và môi trường dinh dưỡng. 2.Hình thể Mỗi vi khuẩn có hình thể nhất định nhờ vào cấu trúc thành tế bào của chúng. Dựa vào hình thể người ta chia vi khuẩn thành 3 loại: cầu khuẩn, trực khuẩn và xoắn khuẩn. 2.1. Cầu khuẩn Là những vi khuẩn hình cầu hoặc tương đối giống hình cầu, đường kính khoảng 1 micromet. Chúng sắp xếp theo nhiều cách khác nhau: + Đơn cầu: Là những vi khuẩn hình cầu đứng riêng rẽ, thường là những vi khuẩn không gây bệnh. + Song cầu: Là những cầu khuẩn xếp thành đôi như phế cầu, lậu cầu, não mô cầu. + Liên cầu: Là những cầu khuẩn xếp thành chuỗi dài. + Tụ cầu: Là những cầu khuẩn xếp thành từng đám như chùm nho, ví dụ như tụ cầu vàng. 2.2. Trực khuẩn Trực khuẩn là những vi khuẩn hình que, dài ngắn, to nhỏ khác nhau tuỳ từng loại vi khuẩn, kích thước trung bình 1-10 micromet. Có thể phân biệt trực khuẩn thành các dạng như sau: + Trực khuẩn hai đầu tròng: Trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh. + Trực khuẩn hai đầu vuông: Trực khuẩn than. + Trực khuẩn hai đầu nhỏ: trực khuẩn ho gà. + Trực khuẩn hai đầu to: trực khuẩn bạch hầu. Các giống trực khuẩn cũng có những cách sắp xếp khác nhau: + Xếp thành dây dài: trực khuẩn than. 5
  6. + Xếp thành đám (thành bó): trực khuẩn hủi. + Xếp thành hình chữ X, Y, Z: trực khuẩn lao. + Đứng riêng biệt từng tế bào: nhiều giống trực khuẩn. 2.3. Xoắn khuẩn Xoắn khuẩn là những vi khuẩn hình xoắn lò so, mảnh, kích thước khoản 1-30 micromet, như xoắn khuẩn giang mai, xoắn khuẩn leptospira, xoắn khuẩn sốt hồi quy… 3. Cấu tạo tế bào vi khuẩn Vi khuẩn có cấu trúc tế bào hoàn chỉnh, bao gồm: nhân, bào tương, màng bào tương và thành tế bào. 3.1. Nhân Nhân tế bào vi khuẩn là một phân tử AND xoắn kép, khép kín thành vòng tròn, được xếp gấp, bó xoắn thành vùng nhân không có màng ngăn cách với bào tương và là nhiễm sắc thể độc nhất của tế bào vi khuẩn. Phân tử AND của nhân có khả năng tự sao chép trong quá trình nhân lên của vi khuẩn. 3.2. Bào tương (chất nguyên sinh) Bào tương của tế bào vi khuẩn chứa nước, các chất hoà tan (protid, glucid, lipid, muốn khoáng, một số nguyên tố hiếm, ARN thông tin, ARN vận chuyển, một số enzym, sắc tố), ribosom, plasmid và nhiều loại hạt vùi (không bào chứa lipid, glycogen và một số không bào chứa các chất có đặt tính đặc trưng cao với một số vi khuẩn. Mỗi vi khuẩn có chứa khoảng 15000 hạt ribosom, kích thước từ 17-21 nanomet. Ribosom chiếm tới 40% trọng lượng khô của tế bào vi khuẩn và chiếm tới 90% tổng số ARN. Về thành phần hoá học, ribosom chứa 60% ARN và 40% là protein. Trong bào tương, ribosom xếp thành đám gọi là polyribosom. Các ribosom tham gia vào quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn và là đích tác động của một số loại thuốc kháng sinh. Bào tương vi khuẩn được bao bọc phía ngoài bởi màng bào tương. 3.3. Màng bào tương Dày khoảng 10-20 nanomet, có những chỗ lõm vào như những nếp gấp gọi là mesosom (mạc thể). Vi khuẩn Gram dương có nhiều mososom hơn vi khuẩn Gram âm. Màng bào tương có chức năng quan trọng: + Là một màng thẩm thấu chọn lọc và vận chuyển các chất hoà tan. + Là nơi tập trung các enzym chuyển hoá và hô hấp của vi khuẩn, có chức năng như ti lạp thể ở tế bào sinh vật bậc cao. + Là nơi tổng hợp các enzym ngoại bào và các thành phần của thành tế bào vi khuẩn. + Tham gia vào quá trình phân bào nhờ mạc thể. 6
  7. 3.4. Thành tế bào (vách tế bào) Bên ngoài màng bào tương là thành tế bào vi khuẩn. Thành tế bào dày khoảng 15- 30 ở vi khuẩn Gram dương và 8-12 nanomet ở tế bào Gram âm. Bộ khung của thành là peptidoglycan (còn gọi là glycopeptide) được tạo nên từ chuỗi polysaccharide nối nhau qua cầu nối peptide. Thành tế bào Gram âm và Gram dương khác nhau về độ dày và thành phần hoá học, nên dẫn đến sự khác nhau về tính chất bắt màu khi nhuộm theo phương pháp Gram. Chức năng của thành tế bào: + Duy trì hình dạng và bảo vệ tế bào vi khuẩn. + Tham gia vào sự phân chia của tế bào vi khuẩn. + Chức nội độc tố, quyết định độc lực và khả năng gây bệnh của các vi khuẩn gây bệnh bằng nội độc tố. + Mang các kháng nguyên quan trọng của vi khuẩn. + Mang các vị trí tiếp nhận cho Phage. * Ngoài các bộ phận cơ bản kể trên, ở một số giống vi khuẩn còn có thêm các cấu trúc phụ như vỏ, lông ,pili, nha bào. 3.5. Vỏ của vi khuẩn (capsule) - Vỏ của vi khuẩn là một lớp nhầy lỏng lẻo, sền sệt, không rõ rệt, bao quanh vi khuẩn. (polusaccharid hoặc polypeptid). - Vỏ vi khuẩn đóng vai trò bảo vệ chống bị thực bào bởi cơ chế bảo vệ của cơ thể. - Vỏ vi khuẩn liên cầu để bám vào răng gây sâu răng. 3.6. Lông (flagella) - Lông là những sợi protein dài và xoắn tạo thành từ các acid amin. Nó là cơ quan vận động và không phải có ở mọi vi khuẩn. - Có loại lông ở một đầu ( phẩy khuẩn tả), có lông quanh thân (E.coli), một vài vi khuẩn lại có một trùm lông ở đâu. - Lông để giúp VK chuyển động. 3.7. Pili + Pili cũng là cơ quan phụ của vi khuẩn lông. Pili có ở nhiều vi khuẩn Gr(-). Pili có cấu trúc giống như lông nhưng ngắn và mỏng hơn. + Có 2 loại: - Pili giới tính (pili F) chỉ có ở các vi khuẩn đực, dùng để vận chuyển chất liệu di truyền sang vi khuẩn cái. - Pili chung: là những pili dùng để bám vào các tế bào có màng nhân và thâm nhập vào tế bào chủ ( mất pili lậu cầu không thể gây bệnh). 3.8. Nha bào 7
  8. Một số vi khuẩn trong điều kiện bất lợi cho sự sống, có khả năng sinh nha bào, một trạng thái tồn tại đặc biệt của một số giống vi khuẩn (bacillus, Clostridium), có khả năng đề kháng cao với các nhân tố ngoại cảnh. Sự hình thành nha bào là một quá trình phức tạp, bao gồm quá trình mất nước của bào tương, sự hình thành vách vỏ không thấm nước. Thời gian hình thành nha bào khoảng 18-20 giờ. Nha bào không sinh sản và gần như không có chuyển hoá. Khi gặp điều kiện thuật lợi, nha bào trở lại trạng thái bình thường (tế bào vi khuẩn hoạt động). Thời gian chuyển từ nha bào sang vi khuẩn hoạt động khoảng 4-5 giờ. 4. Sinh lý của vi khuẩn 4.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng Vi khuẩn sinh sản và phát triển rất nhanh, chúng cần những thức ăn để tạo ra năng lượng và nguyên liệu để tổng hợp. Những thức ăn này bao gồm các nitơ hoá hợp (acid amin hoặc muốn amoni), carbon hoá hợp thường là các –ose, nước và muối khoáng ở dạng như : HPO-, Cl-, So-, K+, Ca++, Na+ và một số ion kim loại hiếm ở nồng độ thấp : Mn++, Fe++, Co++,… Rất nhiều vi khuẩn phân lập trong tự nhiên có thể tổng hợp được moij enzym từ những hợp chất carbon để hình thành những chất chuyển hoá trung gian cần thiết tham gia quá trình chuyển hoá. 4.1.2. Cơ chế dinh dưỡng Vi khuẩn là những đơn bào, không có bộ máy tiêu hoá, vi khuẩn dinh dưỡng được là nhờ tính thẩm thấy của màng nguyên sinh chất. Tính thẩm thấy này có liên quan tới những yếu tố sau: - Chủng loại vi khuẩn: mỗi loại vi khuẩn có tính thẩm thấu khác nhau. -Tuổi của vi khuẩn: vi khuẩn non có tính thẩm thấu mạnh hơn vi khuẩn già. - Nồng độ thức ăn: nồng độ thức ăn ở môi trường càng cao nồng độ thức ăn trong tế bào vi khuẩn thì tính thẩm thấu càng mạnh. - Độ hoà tan của thức ăn: thức ăn không hoà tan thì không thẩm thấu được, vi khuẩn phải dung enzyme của mình để làm tan thức ăn rồi mới hấp thu theo cơ chế thẩm thấu được. 4.2. Hô hấp của vi khuẩn Hô hấp là quá trình trao đổi chất, tạo ra năng lượng cần thiết để tổng hợp nên các chất mới của tế bào. Mỗi loại vi sinh vật có nhu cầu năng lượng riêng, vi sinh vật lấy năng lượng từ (- ose), hay từ chất chuyển hoá đơn giản như acid amin hoặc acid carbonic… Các vi khuẩn gây bệnh lấy năng lượng từ cơ chất carbon (AH) bằng cách oxy hoá, tuỳ loại vi khuẩn mà trình độ oxy hoá cơ chất cũng khác nhau. Năng lượng trong quá trình oxy hoá không được sử dụng tất cả mà chỉ sử dụng một phần cho sự phát triển tế bào. 8
  9. (AH) -> oxy hoá nhờ coenzyme NAD ( nicotinamid – adenine – dinucleotid) -> tạo thành NADH (1). 4.2.1. Hô hấp hiếu khí Nhiều loại vi khuẩn dùng oxy của khí trời để oxy hoá coenzyme thành dạng khử. Các phản ứng kết hợp với phosphoryl oxy hoá ATP của các chuỗi cytocrom và của cytocrom oxydase làm nhiệm vụ trung gian, chuyển phân tử oxy thành ion O-, ion này là chất nhận điện tử cuối cùng. Những vi khuẩn sử dụng được oxy tự do của khí trời gọi là vi khuẩn hiếu khí. 4.2.2. Lên men hô hấp kỵ khí Một số vi khuẩn không thể sử dụng oxy tự do làm chất nhận điện tử cuối cùng. Chúng không thể phát triển được hoặc phát triển rất kém khi môi trường có oxy tự do vì oxy độc đối với chúng. Những vi khuẩn này gọi là vi khuẩn kỵ khí tuyệt đối, chúng không có cytocrom oxydase và không có toàn bộ hay một phần của chuỗi cytocrom. Các vi khuẩn này oxy hoá NADH như trong các phản ứng nghịch đảo của phản ứng (1). Những phản ứng oxy khử này không cần phân tử oxy gọi là phản ứng lên men. Sự hình thành ATP trong quá trình lên men luôn ít hơn trong quá trình oxy hoá. Một số vi khuẩn hiếu khí có thể phát triển được ở trong điều kiện không có không khí, do chúng sử dụng năng lượng của sự lên men. Đó là những vi khuẩn hiếu – kỵ khí tuỳ ngộ. 4.2.3. Hô hấp hiếu – kỵ khí tuỳ ngộ Một số vi khuẩn hiếu khí có thể sử dụng một chất điện tử cuối cùng không phải là oxy mà là ion (như NO3-…). Vậy nếu môi trường kỵ khí có các ion nitrat thì những vi khuẩn này phát triển được. Ta nói rằng vi khuẩn này có thể hô hấp kỵ khí và trong trường hợp sử dụng ion nitrat được gọi là “hô hấp nitrat”. Trực khuẩn mủ xanh có khả năng này. 4.3. Chuyển hoá của vi khuẩn Vi khuẩn rất nhỏ bé nhưng sinh sản và phát triển rất nhanh, do chúng có hệ thống enzyme phức tạp. Mỗi loại vi khuẩn có hệ thống enzyme riêng nhờ nó nó mà vi khuẩn có thể dinh dưỡng, hô hấp và chuyển hoá để sinh sản và phát triển. 4.3.1. Enzym của vi khuẩn Enzym của vi khuẩn giúp cho vi khuẩn có thể tổng hợp, đồng hoá hay phân giải các chất dinh dưỡng. Tất cả các enzyme đều là protein, khối lượng phân tử lớn, dễ bị phá huỷ bởi nhiệt độ. Tuỳ theo tác dụng của phản ứng hoặc vật bị tác dụng mà chia enzyme thành nhiều loại. Tuyệt đại đa số các enzyme đều là enzym nội bào, các enzyme này tham gia trong các quá trình chuyển hoá trong cơ thể của vi khuẩn. Chỉ có một số ít có enzyme 9
  10. ngoại bào, enzyme này phân giải những chất có khối lượng phân tử lớn thành những chất có khối lượng phân tử nhỏ dễ hấp thu. 4.3.2. Chuyển hoá đường Đường là một chất vừa cung cấp năng lượng vừa cung cấp nguyên liệu để tổng hợp. Chuyển hoá đường tuân theo một quá trình phức tạp, từ polyozid đến ozid qua glucose rồi đến pyruvat: lactose  glucose  esteglucose-6-phosphoric pyruvat. Pyruvat đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển hoá các chất đường. 4.3.3. Chuyển hoá chất đạm Các chất đạm cũng được chuyển hoá theo một quá trình phức tạp từ protein đến acid amin: Protein  pepton polipeptid  acid amin. 4.3.4. Các chất được hợp thành Ngoài những sản phẩm chuyển hoá trong quá trình đồng hoá trên và ngoài các chất là thành phần của bản thân vi khuẩn, còn có một số chất được hình thành. *Độc tố: phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trong quá trình sinh sản và phát triển đã tổng hợp nên độc tố, có 2 loại độc tố: + Ngoại độc tố: là chất độc được vi khuẩn tiết ra khi vi khuẩn còn sống, độc tố này có tác dụng độc rất cao, như độc tố bạch cầu chỉ 0,02 mg, độc tố uốn ván chỉ cần 0,00006 mg đã gây chết người. + Nội độc tố: là chất độc của vách tế bào vi khuẩn, độc lực của nó không mạnh bằng ngoại độc tố, như nội độc tố của thương hàn cần tới 400 mg mới gây chết người. Nội độc tố nằm trong vách của vi khuẩn, chỉ khi vi khuẩn bị phá vỡ mới được giải phóng. *Chất kháng sinh: một số vi khuẩn tổng hợp được chất kháng sinh, chất này có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt các vi khuẩn khác loại. *Chất gây sốt: một số vi khuẩn có khả năng sinh ra một số chất tan vào nước khi tiêm cho người hay súc vật gây nên phản ứng sốt. Chất này được gọi là chất gây sốt, nó không bị nhiệt độ phá huỷ (kể cả khi sấy, hấp), để loại trừ nó phải lọc qua màng amiăng. Nước cất dùng để pha chế thuốc tiêm, nhất là tiêm tĩnh mạch không được phép có chất này. *Sắc tố: một số vi khuẩn có khả năng sinh ra các sắc tố như màu vàng hay trắng của tụ cầu, màu xanh của trực khuẩn mủ xanh… *Vitamin: một số vi khuẩn đặc biệt (E.coli) của người và súc vật có khả năng tổng hợp được vitamin (C,K,…) 4.4. Sự sinh sản và phát triển của vi khuẩn Vi khuẩn sinh sản bằng cách phân chia trực phân ( nhân đôi). Nhiễm sắc thể được nhân lên và được sao chép theo kiểu bán bảo tồn, sau đó màng sinh chất lấn sâu 10
  11. vào chất nguyên sinh nhờ mạc thể và phân chia tế bào thành 2 phần, kéo theo vách tế bào cũng được hình thành, để tạo thành 2 tế bào mới. 4.4.1. Biến dị kiểu hình (Fenotyp) Trong quần thể mới, có sự thay đổi bề ngoài để thích nghi với môi trường mới. Nhưng nhiễm sắc thể không thay đổi, biến dị kiểu hình không bền và không di truyền. 4.4.2. Đột biến – Biến dị kiểu gen (Genotyp) Trong quá trình phát triển của vi khuẩn AND có sự thay đổi, dẫn đến hình thành những đặc tính mới. Sự thay đổi theo 3 cách: *Sự biến nạp: Vi khuẩn cho bị phá vỡ ( ly giải), nhiễm sắc thể được giải phóng và cắt thành từng đoạn AND nhỏ - được vi khuẩn nhận thu nạp và tích hợp vào NST. Của nó và tái tổ hợp (khi cơ thể ở trạng thái sinh lý đặc biệt). Được áp dụng trong công nghệ sinh họ để sản xuất Insulin: biến nạp Gen tổng hợp Insulin vào tế bào E.coli hay nấm men để sản xuất Insulin. *Sự tiếp hợp: Là sự vận chuyển chất liệu di truyền từ vi khuẩn đực sang vi khuẩn cái. Một đoạn AND hoặc Plasmid (là AND tự do nằm ngoài NST) được chuyển tới Pili giới tính đực, tích hợp vào nhiễm sắc thể cái và tái tổ hợp. Như khi sử dụng kháng sinh không đủ liều, một số vi khuẩn còn sống sót xuất hiện đột biến kích thích tạo ra biến chủng mới mẫn cảm với loại thuốc kháng sinh đó. *Sự tải nạp: Phage của một vi khuẩn này mang nạp vào vi khuẩn khác có thể mang một đoạn gen. Ngoài ra sự thay đổi chất liệu di truyền còn do Transposon (gen nhảy) trong quá trình sao chép nó có thể nhảy từ đoạn NST này sang NST khác hoặc từ NST sang Plasmid và ngược lại. 5. Phân loại vi khuẩn. 5.1.1. Phân loại theo số lượng các tính chất sinh học (phenotyp) Đây là phương pháp dựa trên các đặc điểm sinh học: là xác định được hệ số tương đồng. Nếu tỉ lệ tương đồng này trên 90% giữa 2 chủng vi khuẩn thì chúng cùng chung 1 loài. 5.1.2. Phân loại theo phương pháp phân tử (genotyp) Phương pháp này dựa trên sự so sánh các thông tin di truyền chứa đựng trong các AND của các nhóm VSV. 5.1.3. Đơn vị phân loại Đơn vị phân loại vi khuẩn nằm trong hệ thống phân loại của sinh vật: 11
  12. Giới (kingdom) => Ngành (division) => Lớp (class) => Bộ (order –ales) => Họ (family –aceae) => Tộc (tribe –eae) => Giống (genus –genera) => Loài (species) => Thứ (variety –var) => Dạng (typ –forma) => Chủng (strain) – ký hiệu số. Ví dụ: Staphylococcus aureus ATCC 1289 \--giống---/ \-loài -/ \- chủng ---/ 12
  13. BÀI 3 MỘT SỐ VI SINH VẬT GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP I. MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Mô tả được đặc điểm sinh học của vi khuẩn. 2. Trình bày được khả năng gây bệnh của vi khuẩn. II. NỘI DUNG 1.TỤ CẦU KHUẨN Tụ cầu được R.Kock mô tả từ năm 1878. Sau đó Pasteur (1880) và Osgton (1881) gọi vi khuẩn này là tụ cầu và xếp vào loại Staphilococcus. Đến năm 1884 Rosenbach nghiên cứu chi t iết về khả năng gây bệnh và xếp loại là tụ cầu. Trong tự nhiên tụ cầu có mặt ở khắp nơi: không khí, đất, nước. Là vi khuẩn hội sinh gặp thường xuyên ở trên da và trong các hốc tự nhiên của người và động vật (nhiều nhất là ở hốc mũi, quanh hậu môn, cơ quan sinh dục…). 1.1.Đặc điểm sinh vật học 1.1.1. Hình thể, tính chất bắt màu Tụ cầu có hình cầu, đường kính 0,8 – 1micromet, đứng tụ thành từng đám như chùm nho, có thể đứng riêng lẻ, thành từng đôi hoặc thành từng chuỗi bắt màu Gram dương. Tụ cầu không có vỏ, không sinh nha bào, không có long. 1.1.2. Tính chất nuôi cấy Tụ cầu là vi khuẩn hiếu, kỵ khí tuỳ tiện, mọc dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thong thường. Nhiệt độ thích hợp 370C, PH = 7,2 – 7,4. Trên môi trường canh thang: ở nhiệt độ 370C/24h, tụ cầu phát triển làm đục đều môi trường, có thể có lắng cặn và có váng. Trên môi trường thạch thường: 370C/24h tụ cầu phát triển tạo thành khuẩn lạc dạng S: tròn, lồi, bong, có bờ rõ. Sau 24-36h xuất hiện sắc tố: + Sắc tố vàng: S.aureus. + Sắc tố trắng: S.albus. +Sắc tố vàng chanh: S.ctreus. + Trên môi trường thạch máu: 370C tụ cầu phát triển tạo thành khuẩn lạc dạng S, xung quanh có vòng tan huyết. 1.2. Khả năng gây bệnh cho người Tụ cầu gây bệnh cho người chủ yếu các bệnh cấp tính. + Các bệnh nhiễm trùng có mủ: nhọt, áp xe, viêm da, đinh râu, viêm phổi, màng phổi, viêm sinh dục – tiết niệu, viêm tuỷ xuươn… + Nhiễm trùng huyết do tụ cầu: thường xảy ra trên cơ địa có sức đề kháng yếu (người già, trẻ em). Thường xảy ra khi sau khi mắc các nhiễm trùng cục bộ (mụn nhọt, áp xe, nhiễm trùng các cơ quan…). 13
  14. + Nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn,: bệnh sảy ra nhanh, thời gian ủ bệnh thường từ 6-8h với các triệu trứng nôn mửa, đau bụng, ỉa chảy. Nếu điều trị kịp thời bệnh thường khỏi nhanh. 2. LIÊN CẦU KHUẨN 2.1. Đặc điểm sinh vật học 2.1.1. Hình thể và tính chất bắt màu Liên cầu là vi khuẩn có hình cầu đứng thành từng chuỗi dài hoặc ngắn, đôi khi đứng riêng lẻ, bắt màu Gram dương. Liên cầu không di động, không có vỏ, không sinh nha bào. 2.1.2. Tính chất nuôi cấy Liên cầu là vi khuẩn hiếu, kỵ khí tuỳ tiện, có thể mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường, nhưng phát triển tốt trên các môi trường có máu và huyết thanh, nước bang và khí trường có từ 5-10%CO2. Nhiệt độ thích hơp là 370C, PH=7,2 – 7,4. Trên môi trường lỏng, ở điều kiện nhiệt độ 370C/24h lien cầu không phát triển không làm đục môi trường; thường kết lại thành hạt lắng xuống đáy môi trường, môi trường phía trên thường tạo nên trong. Trên môi trường đặc, ở điều kiện 370C/24h liên cầu phát triển tạo thành khuẩn lạc dạng S: nhỏ, trong lồi bóng, bờ đều, trong suốt như giọt sương. Trên môi trường thạch máu, ở điều kiện 370C/24h liên cầu phát triển tạo thành khẩu lạc nhỏ xung quanh có vòng tan máu, 2.2. Khả năng gây bệnh Trong số các loại có khả năng gây bệnh, quan trọng nhất là Str.pyogenestype A: + Gây nhiễm khuẩn ngoài da: mụn nhọt, chốc lở, viêm mủ vết thương… + Viêm họng, viêm Amydal, viêm tai. + Viêm đường tiết niệu, sinh dục. + Thấp khớp, thấp tim, viêm màng trong tim bán cấp, nhiễm khuẩn huyết. 3. SONG CẦU KHUẨN (Diploccocus) Là những vi khuẩn hình cầu chúng đứng với nhau thành từng đôi một: như phế cầu, lậu cầu. 3.1. Phế cầu (Steptococcus pneumonia) 3.1.1. Đặc điểm sinh vật học *Hình t hể và tính chất bắt màu Phế cầu là vi khuẩn hình ngọn nến, thường đứng thành từng đôi, hai đầu tròn quay vào nhau, ít khi đứng riêng lẻ. Trong môi trường nuôi cấy có thể đứng thành từng chuỗi ngắn (dễ nhầm với liên cầu). Bắt màu Gram dương. Phế cầu không di động, không sinh nha bào, có vỏ khí ở trong cơ thể người. *Tính chất nuôi cấy 14
  15. + Phế cầu khó nuôi trong môi trường nuôi cấy thông thường, mọc tốt trên môi trường có máu, huyết thanh, khí trường 5-10%CO2. + Trong môi trường lỏng, phế cầu phát triển chậm, nếu nuôi cấy trong môi trường lỏng có mật bò sau 48h phế cầu bị tan rã. + Trên môi trường đặc (môi trường thạch máu) : ở điều kiện 370C/24h phế cầu khuẩn phát triển tạo thành khuẩn lạc dạng S: nhỏ trong, bóng, bờ tròn đều như hạt sương, ở giữa có đỉnh nhọn, xung quanh có vòng tan máu a hoặc β. 3.1.2. Khả năng gây bệnh cho người Phế cầu khuẩn gây bệnh bằng nội độc tố, ngoài ra còn một số yếu tố khác (tan máu, diệt bạch cầu, lan tràn). Phế cầu khuẩn là vi khuẩn thường trú ở trên cơ thể người, vùng tỵ hầu ( 40-70%), là nguyên nhân thứ 2 sau Hemophilus influenzae gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi. Một số bệnh do phế cầu gây nên: + Gây nhiễm khuẩn đường hô hấp: viêm họng, viêm Amidal, viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi,… + Nhiễm khuẩn các màng: màng phổi, màng não, màng trong tim… + Nhiễm khuẩn huyết. 4. Trực khuẩn Là những vi khuẩn hình que, đầu tròn hay vuông, có 3 loại: - Bacteria: Là những trực khuẩn không sinh nha bào. Phần lớn là trực khuẩn đường ruột. - Bacilli: Là những trực khuẩn hiếu khí sinh nha bào trực khuẩn than (Bacillus anthracis) - Clostridia: Là những trực khuẩn kỵ khí sinh nha bào như trực khuẩn uốn ván. 4.1. Trực khuẩn lỵ (Shigella) 4.1.1. Đặc điểm sinh vật học * Hình thể và tính chất bắt màu Vi khuẩn có hình trụ ngắn 1-3micromet, hai đầu tròn, không có vỏ, không có long, không sinh nha bào, bắt màu Gram âm. *Tính chất nuôi cấy + Trực khuẩn là vi khuẩn hiếu kỵ khí tuỳ tiện. Phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường. Nhiệt độ thích hợp nhất là 370C, PH=6,6 – 6,8 + Trên môi trường lỏng như canh thang, pepton, vi khuẩn mọc sớm và làm đục đều môi trường. + Trên môi trường đặc vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc dạng S: tròn, bờ đều hơi lồi, trong, nhỏ hơn khuẩn lạc của Salmonella. 4.1.2. Khả năng gây bệnh cho người 15
  16. + Shigella gây bệnh lỵ trực khuẩn và viêm ruột ỉa chảy. Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hoá đến cư trú và sinh sản rất nhanh ở niêm mạc đại tràng. Tại đây vi khuẩn gây bệnh bằng cơ chế xâm nhập và nội độc tố, ngoại độc tố. + Vi khuẩn bám và xâm nhập sâu vào niêm mạc đại trực tràng, chúng nhân lên nhanh chóng trong lớp niêm mạc. Vi khuẩn chết giải phóng nội độc tố gây phù nề, xung huyết tạo thành ổ loét và mảng hoại tử. Nội độc tố còn tác động lên thần kinh giao cảm gây co thắt và tằng nhu động ruột. + Trên lâm sang bệnh nhân có triệu chứng: đau quặn bụng, đi ngoài nhiều lần, phân thường có nhày máu. + Ngoại độc tố của Shigella có độc tính với thần kinh trung ương, có thể gây viêm màng não và hôn mê. + Bệnh thường ở thể cấp tính, một tỷ lệ nhỏ chuyển thành mạn tính. 4.2. Escherichia Colo 4.2.1 Đặc điểm sinh vật học *Hình thể và tính chất bắt màu E.coli là vi khuẩn hình trụ ngắn, di dộng được nhờ có long, không sinh nha bào, bắt màu Gram âm. *Tính chất nuôi cấy E.coli là vi khuẩn hiếu kỵ khí tuỳ tiện, phát triển tốt trên môi trường nuôi cấy thông thường, nhiệt độ thích hợp nhất là 370C, PH = 7 – 7,2. Trong môi trường lỏng, sau 4-5h, vi khuẩn đã làm đục nhẹ môi trường, để càng lâu càng đục nhiều và sau vài ngày có thể có váng mỏng trên bề mặt môi trường, để lâu vi khuẩn lắng xuống đáy ống. Trên môi trường đặc, sau 18-24h vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn bờ đều, bóng, không màu hay xám nhẹ. 4.2.2. Khả năng gây bệnh cho người E.coli là vi khuẩn chiếm nhiều nhất trong số các loại vi khuẩn hiếu khí sống ở đường tiêu hoá. Vi khuẩn này sống cộng sinh với cơ thể, góp phần tiêu hoá thức ăn, sản xuất một số loại vitamin và giữ thăng bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá. Tuy là vi khuẩn cộng sinh với người nhưng E.coli có thể gây bệnh cơ hội: Viêm đường tiêu hoá, viêm tiết niệu, sinh dục, đường mật, đường hô hấp và nhiễm khuẩn huyết. Nhưng quan trọng nhất là viêm dạc dày, ruột ở trẻ em. 5. Xoắn khuẩn Helicobacter pylori (H.P) Xoắn khuẩn Helicobacter pylori (H.P) là tác nhân chính gây viêm loét dạ dày, tá tràng. 5.1. Hình thái H.pylori là vi khuẩn hình xoắn, hơi cong, Gram âm, đường kính từ 0,3 – 1 micromet, dài 1,5 – 5 micromet. H.pylori di động nhờ lông ở hai đầu. 16
  17. 5.2. Nuôi cấy H.pylori là vi khuẩn khó nuôi cấy. Khi nuôi cấy cần môi trường giàu chất dinh dưỡng và một số yếu tố đặc biệt. Một môi trường lý tưởng là thạch máu ( ph 6,8 – 8,0) có thêm các vitamin và một số kháng sinh để ức chế sự phát triển – 72h. 5.3. Khả năng gây bệnh Nhiều công trình nghiên cứu khoa học và những thực nghiệm lâm sàng để chứng minh về vai trò của H.pylori đối với bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng; đặc biệt, trong thể viêm teo, một thể rất dễ dẫn đến ung thư dạ dày mà lại thấy luôn luôn có mặt vi khuẩn này. 6. Phẩ khuẩn tả (Vibro cholera) 6.1. Đặc điểm sinh học V.cholerae là vi khuẩn hình que hơi cong, kích thước trung bình 2 – 4 x 0,3 – 0,6 micromet. Vì có hình dấu phẩy nên thường gọi là phẩy khuẩn tả. V.cholerae bắt màu Gram âm, không có vỏ, không sinh nha bào, có một lông ở đầu và có khả năng di động rất mạnh. 6.2. Nuôi cấy V.cholerae là vi khuẩn hiếu khí, nhiệt độ thích hợp là 370C. Có thể phát triển tốt trên các môi trường kiềm ( pH 8,5 – 9,5), có nồng độ NaCl cao (3%). Trên các môi trường pepton kiềm mọc nhanh và tạo váng. Trên môi trường đặc tạo khuẩn lạc hình tròn, lồi nhẵn và trong suốt. 6.3. Khả năng gây bệnh Vi khuẩn xâm nhập và đường ăn uống, để xuống ruột vi khuẩn phải vượt qua dạ dày xuống ruột non. Xuống đến ruột non vi khuẩn tả bấm vào niêm mạc nhưng không xâm nhập sâu và mô ruột. Tại ruột non, vi khuẩn phát triển nhanh và tiết ra độc tố ở ruột gây giảm hấp thu Na+, tăng tiết nước và Cl- gây ỉa chảy cấp tính. Nếu không được điều trị bệnh nhân sẽ chết vì mất nước và điện giải. 17
  18. BÀI 4 ĐẠI CƯƠNG VIRUS I.MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày được những đặc điểm sinh học, đặc điểm cấu trúc cơ bản và cấu trúc riêng của virus. 2. Trình bày được các tác hại của virus đối với cơ thể và đời sống của con người để phòng chống bệnh. II.NỘI DUNG 1. Những đặc điểm sinh học quan trọng 1.1. Virus: là một đơn vị sinh học nhỏ bé (kích thước từ 20 – 300nm) vẫn có khả năng biểu hiện những tính chất cơ bản của sự sống: - Gây nhiễm cho tế bào. - Duy trì được nòi giống qua các thế hệ mà vẫn giữ tính ổn định về mọi đặc điểm sinh học của virus trong tế bào cảm thụ thích hợp. 1.2. Đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt virus với vi khuẩn: - Virus chỉ chứa một trong hai loại acid nucleic ( AND hoặc ARN). - Virus sinh sản nhờ vào bộ máy nội bào của tế bào cảm thụ còn vi khuẩn sinh sản theo kiểu phân đôi. 2. Những đặc điểm cấu trúc cơ bản Virus có cấu trúc rất đơn giản, không có enzyme hô hấp và enzyme chuyển hoá, vì vậy virus bắt buộc phải ký sinh trong tế bào cảm thụ. 2.1. Cấu trúc cơ bản Cấu trúc cơ bản còn được gọi là cấu trúc chung của virus, cấu trúc cơ bản bao gồm 2 thành phần chính mà mỗi virus đều phải có. 2.1.1. Acid nucleic (AN) Mỗi loại virus đều phải có 1 trong 2 acid nucleic: hoặc AND hoặc ARN, những virus có trúc AND phần lớn đều mang AND sợi kép, ngược lại virus mang ARN thì chủ yếu ở dạng sợi đơn. Các AN của virus chỉ chiếm từ 1 – 2% trọng lượng của hạt virus, nhưng có chức năng đặc biệt quan trọng: -Các AN mang mọi mật mã di truyền đặc trưng cho từng virus. - AN quyết định khả năng gây nhiễm trùng của virus trong tế bào cảm thụ. - AN quyết định chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ. - AN mang tính bán kháng nguyên đặc hiệu của virus. 2.1.2. Thành phần capsid Capsid là cấu trúc bao quanh acid nucleic, bản chất hoá học của capsid là protein. Capsid được tạo bởi nhiều đơn vị capsid bao gồm các phân tử protein có sắp xếp đặc trưng cho từng virus. Các đơn vị capsid đó được gọi là các capsomer. Cùng với 18
  19. phần “lõi” AN của virus, phần “vỏ” capsid của virus có thể sắp xếp đối xứng xoắn, đối xứng khối, hoặc đối xứng phức hợp. 2.2. Cấu trúc riêng Cấu trúc riêng còn gọi là cấu trúc đặc biệt chỉ có ở một số loài virus nhất định để thực hiện những chức năng đặc trưng cho virus đó. 2.2.1. Cấu trúc bao ngoài (envelop) - Một số virus bên ngoài lớp capsid còn bao phủ một lớp vỏ bao được gọi là envelop. - Bản chất hoá học của envelop là một phức hợp protein, lipid, carbohydrate, nói chung là lipoprotein hoặc glycoprotein. Nếu chỉ có màng thì đó là lớp dilipid. Nếu có them gai nhú (spike) thì đó glycoprotein. 2.2.2. Enzym Trong thành phần cấu trúc của virus có một số enzym, đó là những enzym cấu trúc, chúng gắn với cấu trúc của hạt virus hoàn chỉnh. Các enzyme cấu trúc có thể gặp: Neuraminidase, AND hoặc ARN polymerase men sao chép ngược (reverse transcriptase)… Mỗi enzyme cấu trúc có những chức năng riêng trong chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ và chúng cũng mang tính kháng nguyên riêng, đặc hiệu ở mỗi virus. 3. Đặc điểm hình thể của virus Virus có nhiều hình thể khác nhau : hình cầu, hình khối, hình sợi, hình que, hình truỳ, hình khối phức tạp… Hình thể mỗi loại virus rất khác nhau nhưng luôn ổn định đối với mỗi loại virus. Tuỳ theo cách sắp xếp của acid nucleic và capsid mà virus được chia làm 2 loại đối xứng: - Đối xứng hình xoáy trôn ốc: acid nucleic của virus và các capsomer được sắp xếp dọc theo hình lò xo đều hay không đều. - Đối xứng hình khối khi các capsomer của virus được sắp xếp thành các hình khối cầu đa diện. 4. Phân loại virus Có nhiều cách đẻ phân loại: Theo hình thể, theo tầm quan trọng hoặc triệu chứng lâm sàng… Hiện nay có 2 cách phân loại hay được sử dụng: 4.1. Phân loại theo khả năng gây bệnh Cách phân loại cổ điển theo khả năng gây bệnh của virus, nó thuận lợi cho lâm sàng nhưng thường không chính xác, bởi vì một virus có thể gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng, ngược lại một bệnh cảnh lâm sàng cũng có thể do nhiều loại virus gây nên. 4.1.1. Virus gây bệnh phổ biến: virus đi qua đường máu gây phát ban ngoài da, bệnh đậu mùa, đậu bò, bệnh sởi, rubella, sốt vàng, sốt xuất huyết, bệnh do virus đường ruột… 19
  20. 4.1.2. Bệnh hệ thống thần kinh: Bệnh bại liệt, bệnh do Coxsackie, ECHO, dại, viêm não, Herpes, simplex, sởi, đậu, nhiễm trùng chậm. 4.1.3. Bệnh ở đường hô hấp: Cúm, á cúm, virus hợp bào, adenovirus. 4.1.4. Virus gây bệnh khu trú ở da, cơ, niêm mạc: Herpes simplex typ 1 gây bệnh quanh niêm mạc miệng, typ 2 gây bệnh ở niêm mạc đường sinh dục, Herpangina, zona… 4.1.5. Virus gây bệnh ở mắt: Adnovirus, Newcastle virus, Herpes virus, đau mắt đỏ thành dịch do Enterovirus typ 70… 4.1.6. Virus gây bệnh ở gan: Virus viêm gan A, B, C, D, E; Herpes virus, Rubella virus… 4.1.7. Virus gây viêm dạ dày, ruột: Rotavirus, Norwalkvirus… 4.1.8. Virus lây lan qua đường tình dục: HIV, Cytomegalovirus, Papillinoma virus, Herpes virus, HBV… 4.2. Phân loại theo cấu trúc và các đặc điểm sinh học Cách phân loại này rất chính xác thường được áp dụng, những đặc điểm cấu trúc được dựa vào để phân loại là: - Acid nucleic: AND hay ARN. - Cấu trúc capsid. - Bao ngoài: có hay không có. - Số lượng capsomer. 5. Sự nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ Virus chỉ có thể nhân lên trong tế bào cảm thụ, nhờ hoạt động của tế bào mà virus tổng hợp được các thành phần cấu trúc và tạo ra các hạt virus mới. Quá trình nhân lên của virus trong tế bào có thể chia thành 5 giai đoạn: 5.1. Sự hấp phụ của virus trên bề mặt của tế bào Sự hấp phụ được thực hiện nhờ sự vận chuyển của virus trong dịch gian bào và giúp nó tìm tới tế bào cảm thụ. Các thụ thể (recepto) đặc hiệu trên bề mặt tế bào cảm thụ sẽ cho các vị trí cấu trúc đặc hiệu trên bề mặt hại virus gắn vào thụ thể. 5.2. Sự xâm nhập của virus vào trong tế bào Sự xâm nhập thành phần quan trọng nhất là acid nucleic theo các cơ chế sau: - Nhờ enzyme cởi vỏ của tế bào (enzyme decapsidase), giúp các acid nucleic thoát khỏi vỏ. - Virus qua màng tế bào theo cơ chế ẩm bào hoặc nhờ vỏ capcid co bóp, bơm acid nucleic qua vách tế bào, xâm nhập vào trong tế bào cảm thụ. 20