Xem mẫu

Dùng thuốc sát khuẩn bôi ngoài da sao cho đúng? Có nhiều loại bệnh da, nhiều tác nhân bên ngoài gây nên các thương tích ngoài da có thể bị nhiễm trùng, làm mủ, rất lâu lành và khi lành sẽ để lại sẹo. Ngoài việc dùng thuốc kháng sinh toàn thân, chúng ta cần phải săn sóc chỗ da bị bệnh và bôi thêm thuốc sát khuẩn tại chỗ. Vấn đề đặt ra là việc chỉ định dùng và cách dùng các thuốc bôi này như thế nào cho đúng? Dùng thuốc bôi ngoài da khi nào? Thuốc ngoài da được dùng khi mắc một trong các bệnh: - Nhiễm khuẩn da như: viêm nang lông, viêm da mủ, mụn trứng cá, viêm quầng, chốc, chốc loét, loét sâu quảng, nhọt và nhọt cụm… - Trong các bệnh da có bội nhiễm: chàm bội nhiễm, tổ đỉa bội nhiễm, bệnh da bóng nước, ghẻ bội nhiễm… - Chấn thương làm rách da, trầy da có thể bị nhiễm trùng. Một số thuốc bôi có tính sát khuẩn Nước muối sinh lý 0,9%, thuốc tím pha loãng nồng độ 1/10.000 dùng để rửa các vết thương, vết trầy xước do chấn thương, các vết loét. Thuốc đỏ, dung dịch xanh – methylen, milian… có tính sát khuẩn tại chỗ, bôi tại chỗ để phòng và chống bội nhiễm. Các chế phẩm cream có pha các kháng sinh như gentamycine, tetracycline… Các thuốc này được pha chế sẵn với một nồng độ thích hợp, đôi khi được thêm vào thuốc kháng viêm corticoid và (hoặc) thuốc kháng vi nấm. Thuốc kháng khuẩn tại chỗ Bactroban: Đây là một kháng sinh tại chỗ mới, phổ diệt khuẩn rộng có hoạt tính chống lại hầu hết các vi khuẩn gây nhiễm trùng da. Thuốc này dễ sử dụng, có hiệu quả tốt và ít tác dụng phụ, chưa có sự đề kháng của vi khuẩn. Lưu ý khi dùng thuốc Không tự ý lấy các thuốc kháng sinh toàn thân để dùng tại chỗ. Ví dụ: Rắc bột penicilline hay streptomycine hoặc chlorocid… lên vết thương, vì dùng kháng sinh nguyên chất, liều tác động lên tại chỗ rất cao sẽ làm kích thích da. Mặt khác, cách dùng thuốc như thế dễ gây ra dị ứng, thậm chí làm cho bệnh nặng thêm… Phải tuân thủ các nguyên tắc về việc sử dụng thuốc bôi ngoài da nói chung. Cần kết hợp “trong uống ngoài xoa”, nhưng chú ý sự tương tác của thuốc. Vì vậy tốt nhất là, nên có chỉ định của bác sĩ khi dùng thuốc. Ribavirin là một chất tương tự guanosine có phổ hoạt tính rộng chống lại các virut RNA và DNA gồm cả các Flaviviridae như virut viêm gan C. Ribavirin có vai trò quan trọng trong phác đồ phối hợp với peg – interferon trong suốt quá trình điều trị. Ribavirin có tác dụng làm tăng đáp ứng cytokin kiểu 1 và đáp ứng tăng sinh tế bào T gây độc tế bào. Ribavirin có thời gian bán thải 44 – 49 giờ sau liều duy nhất và sẽ tăng cao sau khi dùng lâu dài, bởi thế, sự thanh thải ribavirin cần nhiều tuần sau khi ngừng thuốc. Thanh thải ribavirin giảm nhiều ở bệnh nhân suy thận nên không dùng ở bệnh nhân có độ thành thải creatinin < 50ml/phút. Các tác dụng phụ hay gặp là gây tan máu, ngoài ra còn gây quái thai, do đó không được dùng cho phụ nữ mang thai. Lưu ý: Các bệnh nhân viêm gan C mạn tính mà mắc thêm bệnh xơ gan mất bù, bệnh tự miễn, rối loạn nhịp tim, bệnh thiếu máu và thiếu máu cục bộ, suy thận, phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em dưới 18 tuổi tuyệt đối không được sử dụng các thuốc này. Thuốc chống chỉ định tương đối với các bệnh nhân thiếu máu 3 dòng, bệnh nhân có các rối loạn tâm thần, các rối loạn co giật. ... - tailieumienphi.vn