Xem mẫu

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ
(giới thiệu ngôn ngữ)

ChƯƠng I
Bản chất và chức năng của ngôn ngữ

I.
Bản chất của ngôn ngữ:
Thế giới hiện có khoảng 600 ngôn ngữ khác nhau.
1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội:
a. Ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên:
Trong lịch sử ngôn ngữ học có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất của ngôn
ngữ
- Có ý kiến cho rằng ngôn ngữ cũng giống như hien tương tự nhiên (động gất, hạn
hán, lụt lội....) hay giống như cơ thể sinh vật(người, động vật, cây cối...), nghĩa là
chúng tồn tại khách quan không hpuj thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
và cũng trải qua quá trình phát sinh, phát triển, tồn tại và diệt vong
- Một số người dồng nhất ngôn ngữ với tiếng kêu của dộng vật hay với các đặc
trưng về chủng tộc (màu da, nước tóc, hình dáng cơ thể...)
- Một số người cho rằng ngôn ngữ chỉ là hiện tượng các nhân.
Ngày nay khoa học đã chứng minh được rằng về mặt bản chất ngôn ngữ không
phải là hiện tượng tự nhiên, khoongphair tiếng kêu của động vật, không mang đặc
trưng của chủng tộc hay là quan niệm cá nhân bởi vì cơ thể sinh vật cũng trải qua
các quá trình nhưng khi chết đi nó mất đi hoàn toàn về mặt hình thức. Thực tế
cũng có loại ngôn ngữ mất đi (tử ngữ) nhưng những dấu hiệu của nó vẫn để lại
cho các thế hệ sau (tiếng latin, hán cổ, phạn)
Các đặc trưng về chủng tộc trong cơ thể sinh vật có tính di truyền (cao, thấp,
tóc vàng...)
Tiếng kêu của động vật là những âm thanh mang tính chất bản năng
(Pablov gọi là tín hiệu thứ nhất), tiếng nói con người là hệ thống âm thanh phức
tạp, có ý nghĩa, phát âm ra một cách có ý thức
Ngôn ngữ không phải hiện tương các nhân vì đơn giản nếu mỗi người nói
một thứ tiếng khác nhau thì không ai hiểu ai.
Tóm lại ngôn ngữ không phải hiện tượng tự nhiên.
b. Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội:
Do ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên nên nó là một hiện tượng xã hội,
biểu hiện ở:
- Ngôn ngữ được sinh ra trong xã hội
- Là sản phẩm
do con người tạo ra làm phương tiện giao tiếp và thể hiện
tư duy

- Là tài sản chung của cả cộng đồng (không thuộc về một cá nhân nào), sự
tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài
người.
Không có xã hội thì không có ngôn ngữ và ngược lại không có ngôn ngữ thì xã hội
không thể phát triển được.
2. Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội đặc biệt :
So với các hiện tượng xã hội khác (quan niệm Nàh nước, chính trị, tôn giáo...) thì
ngôn ngữ có những đặc trưng sau đây:
Không thuộc cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng tầng, nó cũng không bị mất đi hau
bị thay thế trước sự biến đổi của cơ sở hạ tầng, trong khi đó các hiện tượng xã hội
khác thuộc kiến trúc thượng tầng sẽ bị thay đổi nếu cơ sở hạ tầng tương ứng với
nó thay đổi.
- Không có tính giai cấp bởi vì ngôn ngữ là tài sản chung cho mọi giai cấp
trong khi đó các hiện tượng xã hội khác luôn luôn phải phục vụ cho một
giai cấp nhất định, đăc biệt là giai cấp thống trị.
- Ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với sản xuất bởi vì là phương tiện để con người
trao đổi kinh nghiệm sản xuất trongkhi đó các hiện tượng xã hội chỉ liên hệ
gián tiếp với sản xuất thông qua cơ sở hạ tầng.
Tóm lại ngôn ngữ tuy cùng hiện tượng mang tính xã hội nhưng so với các hiện
tượng xã hội khác nó mang những đặc trưng mà các hiện tượng xã hội khác
không có, vì thế ngôn ngữ là hiện tượng xã hội đặc biệt.
II.
Chức năng của ngôn ngữ (vai trò của ngôn ngữ)
Ngôn ngữ có nhiều chức năng khác nhau, tựu trung lại mang 2 chức năng cơ bản
và quan trọng nhất là phương tiện giao tiếp và phương tiện tư duy.
1. Chức năng giao tiếp:
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin diễn ra những con người với nhau trong
xã hội.
Trong xã hội con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện khác
nhau: điệu bộ, cử chỉ, tiếng trống trường, đèn giao thông, mật mã..., cao hơn là hội
họa, âm nhạc, điêu khắc và tỏng đó có cả ngôn ngữ, tuy nhiên so với các phương
tiện giao tiếp ấy thì ngôn ngữ có tính ưu việt hơn các phương tiện ấy ở chỗ:
- Nội dung biểu đạt của kí hiệu ngôn ngữ thường phong phú và đa dạng hơn các
ptgt khác
Vd: đèn giao thông chỉ có một nghĩa
Đỏ: dừng
Vàng: chuẩn bị dừng và đi
Xanh: đi
Ngôn ngữ:
Nhà: nhà ở, vợ hoặc chồng

Mặt sắt ngây vì tình
- Nội dung biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ thường gần gũi và quen
thuộc với con người hơn các ptgt khác.
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ có khả năng biểu thị mọi trạng thái cảm xúc của
con người hơn các ptgt khác.
Tóm lại giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ thường hoạt động trong phạm vi rất
rộng lớn, phong phú và đa dạng và có khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu giao tiếp
của con người mà các loại hình giao tiếp khác không thể thay thế được. Chính vì
thế ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người (đây là
câu nói của Mark và Lênin)
2. Ngôn ngữ là phương tiện thể hiện tư duy
Tư duy là hình thức cao nhất của hoạt động nhận thức của con người, có thể xem
nó giống với ý nghĩ hay tư tưởng.
Quá trình tư duy (là quá trình, không phải sự việc hiện tượng)
Trực quan sinh động
Tư duy trừu tượng
Ngôn ngữ : thành tiếng
Câm (trùng với tư duy)
Mọi ý nghĩ hay tư tưởng của con người chỉ trở nên rõ ràng khi chúng dduwwocj
biểu hiện ra bằng phương tiện ngôn ngữ, vì thế ngôn ngữ là phương tiện thể hiện
tư duy. Điều đó biểu hiên ở chỗ :
- NN là hiện thực trực tiếp của tư tưởng bởi vì bất kỳ từ, câu nào của ngôn
ngữ cũng đều biểu hiện khái niệm, tư tưởng thậm chí tình cảm nhất định.
Ngược lại không có ý nghĩ hay tư tưởng nào lại không được thể hiện ra
bằng hình thức ngôn ngữ.
Vd : Trời mưa. → thông báo
Trời mưa ! → câu hỏi
Mưa ! → cảm xúc
NN trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng bởi vì mọi ý nghĩ hay
tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện ra bằng phương tiện ngôn ngữ,
còn cái nào chưa được thể hiện ra bằng phương tiện ngôn ngữ thì chưa rõ ràng
hay mơ hồ.
Vd : Hai nữ thành niên xung phong chết đuối. (câu mơ hồ)
3. Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và tư duy :
- Ngôn ngữ và tư duy là hai khái niệm khac snhau, sự khác nhau đó thể hiện
ở có : NN có tính vật chất còn tyuw duy thuộc về tinh thần
- NN có tính dân tộc còn tư duy có tính (thuộc về nhân loại) (vì mỗi dân tộc
có một ngôn ngữ khác nhau, còn tư duy thì qui luật nhận thức của tư duy là

qui luật chung cho nhân loại) những các ý nghĩ tư tưởng dduwwocj biểu
hiện ra bằng các NN khác nhau. Dân tộc nào cũng thể hiện tư duy nhưng
mỗi NN lại thể hiện tư duy riêng của dân tộc mình
- Các đơn vị của NN không đồng nhất với các đơn vị của tư duy
Đơn vị của NN : âm vị, âm tiết, hình vị, từ, cụm từ, câu
Đơn vị của tư duy : khái niệm, phán đoán, suy lí.
 Tóm lại, NN và tư duy là khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng chúng lại
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ đó có tính biện chứng,
thống nhất nhưng không đồng nhất. Không có NN thì không có tư duy và
ngược lại không có tư duy thì NN chỉ là một thứ âm thanh trống rỗng
không có nghĩa, thực chất là không có NN.
Note : Ngôn ngữ gồm : câm và hình tiếng
CHƯƠNG II
Ngôn ngữ là hệ thống kết cấu (đây là khái niệm có tích chất cơ sở của NNH
buocj phải nắm được)
I.
Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu
1. Ký hiệu là gì (khái niệm về kí hiệu/tín hiệu)
Là một dạng vật chất mang nội dung thông tin và dùng để truyền đạt thông tin
Vd : dèn gia thông, tiếng trống trường, kí hiệu ngôn ngữ
Kí hiệu nói chung có đặc điểm sau đây :
- Luôn luôn có tính vật chất (nếu không con người không thể dùng giác quan
của mình tiếp cận nó)
- Mỗi tín hiệu là thể thống nhất giữa hai mặt hình thức và nội dung
Vd : đèn đỏ : đỏ - hình thức
dừng lại - nội dung
- Mỗi một kí hiệu luôn luôn tồn tại trong một hệ thống nhất định bởi vì các kí
hệu chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định.
Vd : đèn xanh, đỏ, vàng chỉ có giá trị trong hệ thống tín hiệu giao thông
- Nội dung của các kí hiệu là có tính qui ước, nói cách khác là mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức của các kí hiệu là do con người tự thỏa thuận
với nhau mà có, vì vậy về nguyên tắc có thể thay đổi.
2. Thế nào là hệ thống
Là một thể thống nhất bao gồm các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố đó
với nhau để tạo thành một chỉnh thể nhất định. Như vậy để có một hệ thống
cần phải có 2 yếu tố sau : các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố.
Ngôn ngữ được coi là hệ thống của những hệ thống, chúng được tạo thành
từ rất nhiều hệ thống con như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và tỏng mỗi hệ thống
con lại được chia thành những hệ thống nhỏ hơn để tạo thành mạng lưới quan
hệ nhiều tầng bậc khác nhau vô cùng phức tạp, cho nên so với các hệ thống
khác thì hệ thống NN được coi là hệ thống kí hiệu đặc biệt.
II.
Ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu đặc biệt

So với những hệ thống kí hiệu nhân tạo khác trong xã hội, hệ thống kí hiệu
ngôn ngữ có những đặc trưng cơ bản sau đây :
1. Mối quan hệ giữa 2 mặt của kí hiệu ngôn ngữ (hình thức và nội dung)
không chỉ có tính qui ước cao mà còn có tính võ đoán (mối quan hệ giữa
cái biểu đạt và cái được biểu đạt của hệ thống)
Võ đoán (qui ước ở mức độ cao tưởng như không qui ước) nghĩa là mối quan
hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là không thể giải thích được.
Vd : con bò (từ tiếng kêu mà đặt tên) nhưng ở tiếng Anh lại khác nên không có
tính võ đoán cao)
2. Trong hệ thống ngôn ngữ các đơn vị có tính đa trị (nhiều giá trị), nghĩa là
mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là rất đa dạng.
Vd : chết (không còn sống về mặt sinh học) : toi, đi, gặp tổ tiên...
ngoan cố (kẻ địch) = ngoan cường (chính nghĩa)
khêu gợi (tiêu cực) = gợi ý (tích cực)
3. Các kí hiệu ngôn ngữ khi tham gia vào giao tiếp thì luôn thể hiện theo một
trật tự tuyến tính nhất định, nghĩa là các kí hiệu ngôn ngữ phải được sắp
xếp theo một trật tự trước sau nhất định theo không gian và thời gian.
Vd : Sao bảo nó không đến
→ Bảo sao nó không đến
→ Bảo nó sao không đến
.....
(trật tự hàng ngang là trật tự tuyến tính – tính hình tuyến)
4. Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các yếu tố đồng loại và không đồng loại
5. hệ thống kí hiệu ngôn ngữ vừa có giá trị đồng đại vừa có giá trị lịch đại bởi
vì NN luôn luôn là sản phẩm của quá khứ để lại (lịch đại) nhưng đồng thời
là phương tiện giao tiếp và tư duy của những người đương thời/hiện
tại/đang sống (đồng đại).
Note : đồng đại : chỉ hiện tại
Lịch đại : chỉ quá khứ, lịch sử
 Tóm lại so với các hệ thống kí hiệu nhân tạo khác, NN mang những đặc
trưng mà không hệ thống kí hiệu nào có được, chính vì vậy NN là hệ thống
kí hiệu đặc biệt.
III.
Ngôn ngữ là một hệ thống kết cấu
1. Thế nào là kết cấu :
Là tổng thể các mối quan hệ và liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống
(mức độ quan hệ giữa các yếu tố). Nói đến kết cấu cũng là nói đến hệ thống kết
cấu không nằm ngoài hẹ thống, mà đã là hệ thống thì phải có kết cấu hay nói
cách khác kết cấu chính là thuộc tính của hệ thống, chính là nói đến chất lượng
quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống
Nhưng khác với hệ thống, kết cấu phản ánh hình thức sắp xếp các yếu tố và tính
chất của sự tác động lẫn nhau giữa các mặt và các thuộc tính của chúng . Chính
nhờ có kết cấu mà hệ thống mới trở thành một chỉnh thể thống nhất do các phẩm
chất của yếu tố tạo thành.