Xem mẫu

  1. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 1 tiªu ®iÓm HUq ldpq nokSnq bofnq n^kApq o]q noTpm hUqn^*qhdjqnoQq`eqlflqXRpqbo2g VMpmqhdjqnKkqPk]nqaig Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô nhưng lại nhập khẩu phần lớn các sản phẩm dầu khí. Với mức tăng trưởng kinh tế như hiện nay và dự báo trong những năm tới sẽ đẩy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xăng dầu tăng mạnh. Sau 2015 khi 03 nhà máy lọc dầu (NMLD) lớn của Việt Nam đi vào hoạt động, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu một lượng dầu thô rất lớn từ các nước xuất khẩu dầu mỏ. Cho đến nay, Việt Nam chủ yếu mới thực hiện dự trữ xăng dầu vì mục tiêu thương mại, chưa có dự trữ dầu thô. Dự trữ xăng dầu quốc gia còn quá nhỏ, chưa đủ khả năng để cung cấp mang tính chiến lược khi có rủi ro về số lượng và giá cả của nguồn cung cấp. Trong khi đó, dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu là một trong các biện pháp nhằm bảo đảm cung cấp năng lượng ổn định, góp phần giảm bớt hậu quả về kinh tế, chính trị và xã hội trong tình huống gián đoạn nguồn cung cấp hoặc giá cả biến động, hoặc vì các lý do chính trị, kinh tế như gây mất ổn định và đầu cơ. Dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu đồng thời còn là giải pháp góp phần ổn định giá cả khi có đột biến tăng TS. Nguyễn Anh Đức giá xăng, dầu. Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 7002/VPCP-KTTH ngày 03 tháng 12 năm 2007 về việc giao Bộ Công thương khẩn trương lập “Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025” trên cơ sở ghép 02 quy hoạch trước đây của Bộ Công nghiệp (Chiến lược, quy hoạch tổng thể hệ thống dự trữ dầu thô quốc gia đến 2025, tầm nhìn đến 2050) và Bộ Thương mại (Điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống kho xăng dầu trên phạm vi cả nước đến năm 2015, định hướng đến 2020), Bộ Công thương đã chỉ đạo Viện Dầu khí Việt Nam thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty cổ phần Thiết kế, Xây dựng thuộc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam lập Quy hoạch này. TS. Nguyễn Anh Đức, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam trả lời phỏng vấn. Thanh Hoa Thực hiện dÇu khÝ - Sè 8/2009 1
  2. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 2 tiªu ®iÓm PV: Năm 2008 qua đi, chúng ta chưa quên USD. Năm 2015, GDP của Việt Nam dự kiến cú sốc khi có lúc giá dầu thô trên thế giới lên tới khoảng 181.000 triệu USD. Thiệt hại GDP khi đỉnh điểm ~150 USD/ thùng thì sáu tháng đầu ngưng trệ nguồn cung cấp trong 1 ngày sẽ là: năm 2009 giá dầu thô xuống có thời điểm trên 181.000*0,044*(1+0,02)9 *0,73% = 69,5 triệu 50USD/ thùng. Sự lên xuống bất thường của giá USD. Trong tương lai, cùng với sự phát triển, dầu thế giới, có tác động như thế nào đối với kinh tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ không ngừng tế Việt Nam thưa ông? tăng lên và như vậy thiệt hại do ngưng trệ cung cấp dầu mỏ cũng sẽ lớn hơn. Mặt khác, giá dầu TS. Nguy n Anh Đ c: Một năm trước, giá giảm, khiến kim ngạch xuất khẩu dầu của Việt dầu đã tăng gần tới 150 USD/thùng khiến cho Nam bị giảm xuống. Như vậy, việc Việt Nam bị nhiều nhà sản xuất dầu cho rằng loại hàng hóa ngưng trệ hoàn toàn nguồn cung cấp dầu mỏ từ đặc biệt này đã được định giá quá cao. Tuy bên ngoài trong bối cảnh trong nước không có nhiên, sự suy thoái kinh tế cuối 2008 kéo dài đủ nguồn dự trữ thì thiệt hại về kinh tế là rất lớn. năm 2009 đã làm suy giảm nhu cầu về năng lượng, từ đó khiến cho giá dầu giảm xuống xoay PV: Việc xây dựng Quy hoạch phát triển hệ quanh ngưỡng 50-70 USD/ thùng. Theo phân thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu tích của các chuyên gia kinh tế và tài chính, các bao gồm dự trữ doanh nghiệp và dự trữ quốc gia cú sốc về giá xăng dầu hay nguyên liệu đầu vào đến 2015, tầm nhìn đến 2025 chúng ta có tham đều tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam khảo kinh nghiệm của các nước không thưa TS.? trên các bình diện sau: - Thứ nhất, xăng dầu có ảnh hưởng trực TS. Nguy n Anh Đ c: Hiện nay chúng ta tiếp tới tất cả các nhóm hàng hoá có liên quan đang sống trong thế giới mở, Việt Nam đã gia đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Vì vậy khi giá của nhập sân chơi của WTO, vì vậy việc tham khảo, mặt hàng này tăng sẽ trực tiếp làm CPI tăng lên. học hỏi kinh nghiệm các nước đã đi trước chúng - Thứ hai, xăng dầu tăng giá sẽ tác động ta về vấn đề này là sự lựa chọn cần thiết. Được tới chi phí sản xuất của các doanh nghiệp làm sự chỉ đạo của Bộ Công thương, Trung tâm cho giá thành tăng lên, lợi nhuận giảm xuống. Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý Dầu khí thuộc Khi lợi nhuận bị giảm sút ở một mức độ có thể Viện Dầu khí Việt Nam đã có nhưng chương chấp nhận được, doanh nghiệp sẽ cân nhắc trình hợp tác với Nhật, Hàn Quốc và Mỹ để tìm chưa tăng giá bán sản phẩm nhưng nếu tình hiểu quan điểm, phương pháp, chính sách và trạng này kéo dài thì doanh nghiệp sẽ phải tăng kinh nghiệm thực tế của các nước có dự trữ dầu giá bán. Mặt khác, khi giá xăng dầu tăng thì cầu thô và sản phẩm xăng dầu. Qua quá trình hợp về một số hàng hóa khác sẽ giảm, kéo theo tổng tác cũng như qua việc tổng hợp, xem xét chính cầu của nền kinh tế cũng sẽ giảm xuống. Tất cả sách của một số Quốc gia khác thuộc IEA, APEC các yếu tố trên đây tác động đồng thời đến nền và ASEAN, có thể rút ra một số kinh nghiệm về kinh tế, làm lạm phát gia tăng, tốc độ tăng trưởng dự trữ dầu thô như: Cần lựa chọn cơ cấu dự trữ kinh tế bị suy giảm. Kết quả nghiên cứu của phù hợp giữa sản phẩm dầu và dầu thô tùy thuộc Trung tâm năng lượng Nhật Bản cho thấy Việt vào đặc diểm riêng của mỗi quốc gia nhằm đạt Nam và các nước có cùng mức độ phụ thuộc vào được lợi ích cao nhất cho đất nước; Cần xác xăng dầu có hệ số co giãn trung bình của giá định cơ cấu hợp lý giữa dự trữ tư nhân và dự trữ theo cung dầu (E) là -0,380 (E Gasoline= - chính phủ để có thể huy động và tận dụng tối đa 0,775, E Diesel Oil = -0,380, E Fuel Oil = -0,292). nguồn lực; Nên có cơ chế và chính sách quản lý, Nếu Việt Nam bị ngưng trệ nguồn nhập khẩu 1 điều hành dự trữ rõ ràng, minh bạch để khuyến ngày hay 1/360 khối lượng cung cấp trong nước khích và thúc đẩy các công ty đảm bảo nghĩa vụ thì tỷ lệ giá tăng sẽ là 1/360/0,380 = 0,0073 (= dự trữ theo quy định của luật pháp và tham gia 0,73%). Theo số liệu của tổ chức APEC năm tích cực vào hệ thống dự trữ quốc gia; Cần ban 2006, hệ số co giãn của GDP theo giá dầu của hành quy định cụ thể về các tình huống khẩn Việt Nam và một số nước trong khu vực như cấp, thời điểm và quy trình xuất dầu khẩn cấp. Indonesia, Singapore khoảng -0,044 và tăng với Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu và tỷ lệ 2%/năm. Năm 2008, GDP của Việt Nam dự cân nhắc hết sức thận trọng. Tùy theo điều kiện kiến khoảng 76.000 triệu USD. Thiệt hại GDP khi tự nhiên, có xét tới yếu tố an ninh, an toàn để lựa ngưng trệ nhập khẩu 1 ngày sẽ là: chọn loại hình kho dự trữ, đảm bảo hiệu quả sử 76.000*0,044*(1+0,02)2 *0,73% = 25,5 triệu dụng với chi phí thấp nhất; Tăng cường hợp tác, 2 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  3. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 3 PETROVIETNAM đối thoại xây dựng những chương trình hành vực/vùng trong cả nước. Đối với các kho xăng động chung (theo nhóm nước, nhóm công tác), dầu thương mại: Tiến độ phát triển hệ thống kho đảm bảo lợi ích của từng thành viên khi tham tương ứng với tốc độ tăng nhu cầu của từng khu gia liên kết và chia sẻ các chi phí; Chính sách vực và từng giai đoạn. Đối với các nhà máy lọc liên minh chỉ quy định chung, mỗi thành viên có hóa dầu: tiến độ các kho dầu thô (đầu vào) và thể quyết định chính sách quản lý dự trữ phù kho sản phẩm (đầu ra) của nhà máy phù hợp hợp với lợi thế riêng mà không vi phạm các với kế hoạch đã dự kiến về quy mô công suất, nguyên tắc chung. tiến độ, cơ cấu sản phẩm. Đối với các kho dự Để thực hiện các biện pháp nêu trên, trong trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu quốc gia: mỗi nước và giữa các nước, cơ chế hoạt động, Các NMLHD và các đầu mối đều có thể tham phối hợp rất cụ thể, được tập dượt và ứng dụng gia ứng cứu trong các tình huống khẩn cấp. Tối có hiệu quả. Đối với Việt Nam, trong quá trình ưu hóa cung đường vận chuyển dầu thô từ kho thực hiện dự trữ dầu thô quốc gia sẽ có những dự trữ quốc gia đến các NMLHD. Phát triển hệ cơ hội học hỏi kinh nghiệm của các nước khác, thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu đặc biệt từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Có thể sử nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng dụng công nghệ tiên tiến về dự trữ dầu của thế nói chung và an ninh dầu mỏ trong nước nói giới và khu vực. Nhiều nước sẵn sàng hợp tác riêng; Giảm thiểu các tác hại đối với nền kinh tế với Việt Nam về vấn đề năng lượng, đặc biệt là trong trường hợp nguồn cung dầu mỏ trên thị dự trữ dầu mỏ để giảm thiểu tác động của sự trường thế giới có sự giảm bất thường nhằm bất ổn trong cung cấp dầu mỏ. mang lại hiệu quả kinh tế nhất định trong trường Tuy nhiên Việt Nam đang gặp nhiều khó hợp giá dầu trên thế giới tăng đột biến; Góp khăn trong việc thực hiện dự trữ dầu thô quốc phần giúp các cơ quan quản lý Nhà nước hoạch gia. Lý do là tiềm lực tài chính hạn chế, thiếu định các chính sách phù hợp liên quan và định kinh nghiệm cả về kỹ thuật và quản lý. hướng địa điểm phù hợp, đầu tư xây dựng sức chứa để các cơ quan, Bộ, Ngành địa phương bố trí các vị trí gắn với hệ thống hạ tầng phù hợp. PV: Vậy định hướng phát triển và mục tiêu chuẩn mà Quy hoạch nhắm tới nhằm đảm bảo PV: Dự kiến từ sau năm 2015 VN sẽ có 6 an ninh năng lượng quốc gia? NMLHD (Dung Quất, Nghi Sơn, Long Sơn, Vũng Rô, Cần Thơ và Nam Vân Phong) với tổng nhu TS. Nguy n Anh Đ c: Định hướng phát cầu dầu thô vào khoảng 42,5 triệu tấn/năm triển và mục tiêu chung phải phù hợp với chiến (trong đó sử dụng cả hai nguồn dầu thô trong lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước và nhập khẩu), có thể cung cấp cho thị nước, phù hợp với các quy hoạch phát triển của trường khoảng 30 triệu tấn sản phẩm xăng dầu, các ngành, các địa phương, phù hợp với xu h- theo ông thị trường xăng dầu trong nước lúc đó ướng phát triển của thị trường xăng dầu trong n- có được ổn định trong bất kỳ tình huống nào? ước và phù hợp với xu thế hội nhập của Việt Nam. Theo định hướng hội nhập này, Thủ TS. Nguy n Anh Đ c: Thực tế lượng dự tướng Chính phủ đã quyết định phát triển hệ trữ xăng dầu quốc gia như hiện nay là quá nhỏ thống dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu đạt (khoảng 0,3 triệu m3 tương đương với khoảng quy mô 90 ngày nhập ròng của năm trước đó từ 8 ngày tổng nhu cầu tiêu dùng), không thể phát năm 2015 để đáp ứng tiêu chí của Tổ chức huy được vai trò ứng cứu trong các tình huống Năng lượng Quốc tế (IEA). khẩn cấp, nhất là trong bối cảnh nguồn cung Như vậy, cần phát triển hệ thống dự trữ xăng dầu có rất nhiều biến động như hiện nay. dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Tại công văn số 891/VPCP-KTTH ngày Nam nhằm ổn định thị trường sản xuất và tiêu 12/9/2008, Chính phủ đã quyết định từ năm thụ sản phẩm xăng dầu trong nước; Phát huy tối 2009 sẽ tăng mức dự trữ xăng dầu quốc gia lên đa khả năng của các loại hình dự trữ (dự trữ đến 10 ngày tiêu dùng trong cả nước. Nghị định doanh nghiệp và dự trữ Nhà nước), đồng thời số 55/2007/NĐ-CP ngày 06/04/2007 quy định hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng các công ty đầu mối nhập khẩu các sản phẩm dầu có thể ứng cứu nhanh nhất trong các tình xăng dầu phải dự trữ tối thiểu với khối lượng huống khẩn cấp; Phân bố các kho dự trữ tương bằng 20 ngày cung ứng tính theo hạn mức nhập ứng với nhu cầu tiêu thụ xăng dầu của các khu khẩu được giao từ 01/01/2008 và nâng lên đến dÇu khÝ - Sè 8/2009 3
  4. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 4 tiªu ®iÓm 30 ngày từ 01/01/2010. Với giả thiết đến 2025 lớn thì NMLD còn đóng vai trò là nguồn ứng cứu Việt Nam có 6 NMLHD (Dung Quất, Nghi Sơn, cho thị trường. Vì lý do này, các kho xăng dầu Long Sơn, Cần Thơ, Vũng Rô và Nam Vân dự trữ quốc gia không nên đặt gần các NMLD Phong) với tổng công suất 42,5 triệu tấn/năm, nữa. hệ thống dự trữ dầu thô quốc gia sẽ vào khoảng Với xăng dầu dự trữ bổ sung năm 2009, vì 22 ngày nhu cầu, trong đó bao gồm cả dầu thô khối lượng nhỏ (khoảng 128.000 tấn, tương và sản phẩm xăng dầu. Xét theo tiêu chí tiết đương 185.000m3 kho) nên vẫn duy trì hình kiệm đầu tư cho dự trữ và theo tương quan giữa thức thuê kho của các doanh nghiệp. Thậm chí, mức độ tác động của dầu thô và xăng dầu cần đối với phần dự trữ bổ sung giai đoạn 2010- nhập khẩu đến việc ổn định nguồn cung xăng 2025, do quy mô dự trữ cũng không quá lớn dầu trong nước thì cơ cấu dự trữ nên xem xét là (khoảng 1,2 triệu m3 kho), hơn nữa cũng cần 12 ngày dầu thô và 10 ngày sản phẩm. Theo kế phân bố theo các khu vực trong cả nước để có hoạch của Chính phủ, trong năm 2009 dự trữ thể ứng cứu nhanh trong tình huống. Để hiện xăng dầu quốc gia sẽ đạt đến 10 ngày nhu cầu thực hóa quy hoạch dự trữ dầu thô và sản phẩm hay 440.000 tấn, tương đương 0,57 triệu m3 xăng dầu đến năm 2015, tầm nhìn đến năm kho. Do vậy, cả giai đoạn 2010-2025 chỉ cần quy 2025 cần phối hợp chặt chẽ giữa 03 loại hình dự hoạch bổ sung khoảng 825.000 tấn, tương trữ, dự trữ sản xuất, dự trữ thương mại và dự đương 1,2 triệu m3 kho. Đảm bảo đến năm 2025 trữ quốc gia, sử dụng triệt để các nguồn lực về dự trữ được khoảng 3,1 triệu m3 kho và lưu trữ vốn đầu tư, nhân lực, kinh nghiệm của Nhà khoảng 2,12 triệu tấn. Với giả thiết đến 2025, nước, tư nhân và nước ngoài trên cơ sở tận các NMLHD kể trên có thể mở rộng công suất và dụng các cơ hội hợp tác với các nước trong khu Việt Nam còn có thêm 1-2 NMLD nữa với tổng vực và các tổ chức quốc tế. công suất lọc dầu cả nước lên đến trên 65 triệu tấn/năm. Khi đó, hệ thống dự trữ sản xuất và PV: Việt Nam sẽ tổ chức quản lý, kiểm thương mại của Việt Nam cùng đạt được soát, thực hiện dự trữ dầu và các sản phẩm từ khoảng 37 ngày nhập ròng (~29 ngày nhu cầu), dầu như thế nào để đảm bảo nguồn cung, đảm tương ứng, dự trữ quốc gia chỉ cần xem xét ở bảo an ninh năng lượng quốc gia thưa ông? mức 16 ngày nhập ròng (~13 ngày nhu cầu) là đủ mức 90 ngày nhập ròng. Trong trường hợp TS. Nguy n Anh Đ c: Cùng các giải pháp này, sản phẩm từ các NMLD đã đáp ứng đủ và hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp thực hiện dự vượt nhu cầu tiêu dùng trong nước, do vậy Việt trữ, trong pháp lệnh về dự trữ hoặc trong các Nam không cần thiết phải dự trữ sản phẩm nữa văn bản qui phạm pháp luật khác (nghị định, mà chỉ nên dự trữ dầu thô. Theo đó, lượng dầu thông tư) cần có quy định rõ về chế độ kiểm tra thô cần dự trữ vào khoảng 2,42 triệu tấn, tương và giám sát cùng với các chế tài xử phạt vi phạm đương 3,5 triệu m3 kho, nghĩa là cao hơn so với đối với 02 loại hình dự trữ do Doanh nghiệp PA cơ sở là 0,4 triệu m3 kho. quản lý (dự trữ sản xuất và dự trữ kinh doanh). Đối với dự trữ quốc gia, Chính phủ đã giao PV: Nếu làm bài toán thương mại thì kho dự Bộ Công thương phối hợp với Cục Dự trữ Quốc trữ có cần phải đặt gần các NMLHD. Bởi nhiều gia thuộc Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý. bài học từ thực tế cho thấy, quy hoạch sai, đầu Tùy theo tình hình cụ thể và theo lộ trình xác tư sai dẫn đến tính hiệu quả thấp, gây lãng phí. định, có thể chỉ định Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xây dựng, mua dầu dự trữ, vận hành, bảo TS. Nguy n Anh Đ c: Xét về khía cạnh dưởng kho dự trữ quốc gia dầu thô gắn liền với vận hành, các kho dự trữ xăng dầu quốc gia nên các nhà máy lọc dầu hay kho dự trữ dầu thô tập xem xét đặt gần các NMLD hoặc đặt gần các trung. Đồng thời chỉ định Tổng công ty Xăng dầu kho xăng dầu thương mại lớn để có thể chia sẻ và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xây dựng, mua chi phí với hệ thống cơ sở hạ tầng (CSHT) sẵn sản phẩm dự trữ, vận hành, bảo dưỡng kho dự có và thuận lợi trong việc đảo kho hàng năm. trữ quốc gia sản phẩm gắn liền với hệ thống kho Tuy nhiên, sản phẩm của NMLD thường lớn hơn đầu mối hiện có; Hoặc tiến hành đấu thầu việc nhiều so với sức chứa của các kho đầu mối xây dựng kho dự trữ, duy trì và mua dầu dự trữ thương mại, khi có các tình huống khẩn cấp thì cho các nhà thầu trong, ngoài nước. Có c ch bản thân các NMLD sẽ được ứng cứu dầu thô, ph i h p, h tr , ng c u khi có kh ng khi đó ngoài chức năng như một kho đầu mối ho ng. Đ ng th i áp dụng các biện pháp tức 4 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  5. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 5 PETROVIETNAM thời như: Giảm nhu cầu tiêu thụ trên cơ sở danh tại tương đương khoảng 85 VNĐ/lít xăng 92 và sách các hộ tiêu thụ công nghiệp quan trọng cần 75 VNĐ/lít dầu DO) thì đến năm 2025 có thể duy trì việc cung cấp sản phẩm xăng dầu do Bộ trang trải được gần 50% vốn đầu tư và toàn bộ Công thương phê duyệt; chuyển đổi nhiên liệu chi phí vận hành đã phát sinh cho các kho dự trữ của các nhà máy điện và một số nhà máy công quốc gia. nghiệp sang sử dụng khí và than); Ổn định giá ở Trên cơ sở danh sách các địa điểm đã liệt mức tăng hợp lý tối đa có thể. Trong trường kê theo thứ tự ưu tiên cùng với quy mô và lộ hợp nguồn cung bị ngưng trệ ngắn hạn của một trình tương ứng Chính phủ phê duyệt, Cơ quan khu vực giảm dưới 10% cần huy động nguồn quản lý Nhà nước có thẩm quyền có thể tổ chức dự trữ thương mại sẵn có của các doanh đấu thầu hoặc chỉ định Tập đoàn Dầu khí Việt nghiệp trong khu vực; Nếu nguồn cung của một Nam xây dựng bên cạnh các NMLHD các kho khu vực giảm trên 10% nhưng dưới 20%: huy dự trữ quốc gia dầu thô hoặc xây tập trung 01 động nguồn dự trữ sản xuất của NMLD trong kho dự trữ quốc gia cho tất cả các NMLHD của khu vực; Nếu nguồn cung của một khu vực Việt Nam; Đối với kho dự trữ quốc gia về sản giảm trên 20%: huy động nguồn dự trữ quốc gia phẩm xăng dầu phải dựa trên cơ sở danh sách về sản phẩm trong khu vực; Nếu dự báo nguồn các địa điểm đã liệt kê theo thứ tự ưu tiên được cung bị ngừng trệ dài hạn và nghiêm trọng: lần trình bày cùng với quy mô và lộ trình tương ứng. lượt huy động các nguồn dự trữ quốc gia theo Cơ quan quản lý Nhà nước có thể tổ chức đấu thứ tự ưu tiên sau: Huy động nguồn dự trữ thầu hoặc chỉ định Tập đoàn Dầu khí Việt Nam doanh nghiệp bao gồm dự trữ thương mại và hoặc Tổng công ty Xăng dầu xây dựng kho dự dự trữ sản xuất; Huy động nguồn dự trữ quốc trữ bên cạnh các kho đầu mối; Thành lập đơn vị gia về dầu thô; Huy động nguồn dự trữ quốc gia có chức năng quản lý, bảo dưỡng, duy trì kho về sản phẩm. Mặt khác Việt Nam nên tham gia dự trữ hoặc giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt các hiệp ước, tổ chức, liên minh dự trữ dầu Nam chủ trì. thô và sản phẩm trong khu vực và trên thế Đối với dầu thô: Nhà nước tổ chức mua giới như: Thỏa thuận an ninh dầu mỏ của các dưới dạng đấu thầu hoặc mua theo hợp đồng nước ASEAN (Petroleum Security Agreement) dài hạn với các nước xuất khẩu dầu thô có quan và Tổ chức năng lượng thế giới (IEA). Tham gia hệ tốt với Việt Nam như Kuwait, Nga, Venezuela chương trình năng lượng quốc tế (International v.v. trên cơ sở lộ trình đã được quy hoạch. Energy Program - IEP) của IEA, các nước Đối với sản phẩm xăng dầu: Nhà nước tổ thành viên bắt buộc dự trữ ít nhất 90 ngày nhập chức mua dưới dạng đấu thầu hoặc mua theo khẩu ròng của năm trước đồng thời sẽ được hỗ hợp đồng dài hạn với các NMLD trong nước trên trợ ứng cứu khi khủng hoảng xảy ra theo cơ sở lộ trình đã được quy hoạch. chương trình phối hợp để đối phó với tình trạng khẩn cấp. PV: Để thực hiện thành công các mục tiêu của Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu PV: Nguồn vốn để xây dựng phát triển hệ thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam thống, kho dự trữ dầu và các sản phẩm liệu có đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025, theo được xã hội hoá, theo ông chủ đầu tư các dự án ông những yếu tố cần và đủ như thế nào? này nên giao cho ai? TS. Nguy n Anh Đ c: Chính phủ đã phê TS. Nguy n Anh Đ c: Vốn đầu tư để phát duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu triển hệ thống kho thương mại do các doanh thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu tư và tự trang đến năm 2015 - tầm nhìn đến năm 2025 và giao trải. Nhà nước chỉ xem xét ưu đãi cho phần dự Bộ Công thương chỉ đạo việc triển khai thực trữ bắt buộc. Tương tự, vốn đầu tư để phát triển hiện Quy hoạch. Trước mắt, cần tiếp tục triển các NMLHD là do các nhà đầu tư trong và ngoài khai nghiên cứu các điều kiện địa chất công nước đầu tư tùy thuộc quy mô công suất và đặc trình, địa chất thuỷ văn, cơ lý đá đối với các vị trí thù của từng nhà máy. Riêng đầu tư cho dự trữ dự kiến đặt các kho dự trữ dầu thô và kho sản quốc gia thuộc trách nhiệm của Nhà nước và có phẩm xăng dầu quốc gia, đặc biệt đối với các thể huy động từ thuế tiêu thụ sản phẩm xăng kho ngầm cũng như tiến độ xây dựng các kho dầu. Nếu đánh thuế dự trữ khoảng 0,6% giá này trên cơ sở hợp tác với các tổ chức quốc tế xăng dầu tiêu thụ cuối cùng (tại thời điểm hiện và các quốc gia có kinh nghiệm, đồng thời triển dÇu khÝ - Sè 8/2009 5
  6. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 6 tiªu ®iÓm khai có hiệu quả các dự án kho xăng dầu thương hợp với các yêu cầu về vận tải, xuất nhập dầu thô mại dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2008-2015. và các sản phẩm xăng dầu của hệ thống dự trữ dầu Bộ Công thương đã được Chính phủ giao chỉ thô bảo đảm nguyên tắc sử dụng tối ưu Quỹ mặt đạo nghiên cứu hiệu quả đầu tư của các phương đất, mặt nước để phát triển bền vững ngành công án vận chuyển xăng dầu bằng đường ống từ Nghi nghiệp dầu khí và công nghiệp hàng hải trong tổng Sơn, Thanh Hoá về Hà Nam; từ NMLD Dung Quất thể chiến lược kinh tế biển của Việt Nam. đi Tây Nguyên và từ NMLD Long Sơn đi Thành phố Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã được Hồ Chí Minh so với phương án vận chuyển bằng giao xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật có đường thuỷ. Chủ trì thẩm định và phê duyệt bổ liên quan đến bảo vệ môi trường trên đất liền và trên sung quy hoạch đối với các dự án kho xăng dầu biển đối với hoạt động tàng chứa, xuất nhập dầu thô thương mại có công suất kho dưới 100.000m3. và các sản phẩm xăng dầu của các kho dự trữ. Chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài chính và Bộ Kế có liên quan đến quản lý nhà nước các kho dự trữ hoạch đầu tư dự kiến kế hoạch cấp vốn nhà nước dầu thô của Việt Nam, bao gồm: Pháp lệnh Dự trữ hàng năm đối với các dự án dự trữ quốc gia về dầu quốc gia về dầu thô và các sản phẩm xăng dầu; thô và các sản phẩm xăng dầu trong giai đoạn quy Quy chế dự trữ, kinh doanh các sản phẩm xăng hoạch nhằm đảm bảo tiến độ và tính khả thi của dầu; Quy chế quản lý, điều hành, cơ chế điều tiết các dự án đầu tư. hệ thống dự trữ dầu thô quốc gia và các sản phẩm Các địa phương cũng đã được giao trách xăng dầu (quy định về cơ chế ứng cứu; trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước nhiệm, quyền lợi của các doanh nghiệp/công ty và các doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện các quy kinh doanh xăng dầu đối với dự trữ quốc gia, các hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, thành phố quy định về an toàn, môi trường v.v.); Xây dựng hệ và các khu kinh tế, khu công nghiệp có tính đến thống thông tin giám sát, điều hành hệ thống dự trữ việc xây dựng các dự án thuộc quy hoạch dự trữ dầu thô quốc gia; Quy định về thành lập và sử dụng dầu thô và các sản phẩm xăng dầu đến năm 2015, Quỹ hỗ trợ dự trữ kinh doanh xăng dầu, Quỹ dự trữ tầm nhìn đến năm 2025. Ủy ban nhân dân các tỉnh quốc gia về dầu thô và các sản phẩm xăng dầu; ưu tiên dành quỹ mặt đất, mặt nước để xây dựng Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành chỉ đạo Tập kho dự trữ dầu thô tại các vị trí đã được quy hoạch. đoàn Dầu khí và Tổng công ty Xăng dầu nghiên Để bảo đảm an ninh năng lượng cho sự phát cứu triển khai xây dựng các kho dự trữ quốc gia về triển bền vững và giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế, dầu thô và sản phẩm xăng dầu trên cơ sở kết quả việc quy hoạch và triển khai thực hiện hệ thống dự nghiên cứu của Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu là một việc trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu đến năm 2015, làm hết sức cần thiết trong thời đại nền kinh tế thế tầm nhìn đến năm 2025. giới diễn biến khó lường. Chính phủ cũng đã giao Bộ Giao thông vận tải lập quy hoạch hệ thống cảng biển, luồng lạch phù Trân trọng cám ơn Phó Viện trưởng! 6 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  7. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 7 PETROVIETNAM dÇu khÝ - Sè 8/2009 7
  8. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 8 th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ §Æc ®iÓm qu¸ tr×nh trÇm tÝch Kainozoi vÞnh B¾c Bé vμ ch©u thæ S«ng Hång TS. Hoàng Văn Long, GS.TS. Peter D. Clift School of Geosciences, University of Aberdeen GS.TSKH. Mai Thanh Tân, GS.TSKH. Đặng Văn Bát, TS. Lê Hải An Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội GS.TS. Fu-Yuan Wu Institute of Geology and Geophysics, Chinese Academy of Sciences Tóm tắt Vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng là một trong những bồn trầm tích lớn trong khu vực Đông Nam Á. Với tổng chiều dày trầm tích Kainozoi gần 20km ở khu vực trung tâm, các tập trầm tích ở đây ngoài ý nghĩa về mặt tài nguyên khoáng sản còn lưu giữ rất nhiều thông tin về các hoạt động kiến tạo, địa tầng và cổ khí hậu trong vùng. Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày một số kết quả phân tích các tài liệu địa chấn 2D và định tuổi tuyệt đối U-Pb trên khoáng vật zircon của một số mẫu trầm tích lấy từ hệ thống sông Hồng. Kết quả minh giải địa chấn cho thấy vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng phân bố ở phía Đông Nam đới đứt gãy sông Hồng. Quá trình hình thành bể trầm tích liên quan chặt chẽ với va chạm mảng Ấn Độ với mảng Âu-Á vào đầu Kainozoi. Bồn trũng vịnh Bắc Bộ được khống chế bởi một loạt các đứt gãy ngang- thuận, đặc biệt là đứt gãy sông Hồng ở phía Tây Nam và đứt gãy No.1 ở phía Đông Bắc. Khu vực này đã trải qua ít nhất hai pha nghịch đảo kiến tạo trong đó pha sớm mang tính địa phương và được liên hệ với giai đoạn khởi đầu của đới đứt gãy sông Hồng (~34-35 triệu năm) và pha muộn xảy ra trong Mioxen giữa (~15,5 triệu năm) lại mang tính khu vực và có liên quan mật thiết với sự ngừng tách giãn biển Đông và giai đoạn ngừng hoạt động của đứt gãy sông Hồng. Số liệu định tuổi tuyệt đối U-Pb thể hiện nguồn vật liệu sông Lô đóng vai trò quan trọng trong tổng lượng trầm tích của hệ thống sông Hồng đổ ra biển Đông trong khi sông Đà kém quan trọng hơn. Kết quả so sánh với số liệu tuổi của đá gốc cho phép kết luận rằng phần lớn vật liệu trầm tích ở thượng nguồn hệ thống sông Hồng được bóc mòn từ khối Songpan Gaze và nền Dương Tử trong khi các khối khác như Cathaysia, Qiangtang, Ailao Shan có vai trò không đáng kể. Tuy nhiên sông Hồng hiện nay không trực tiếp chảy qua Songpan Garze vì vậy vật liệu này có thể được tái bóc mòn và lắng đọng trong các bể trầm tích gần khu vực Songpan Garze. Giới thiệu lên đến 20km (Clift và nnk. 2006, ....). Các nghiên Khu vực vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng cứu trước đây cho thấy phần lớn vật liệu trầm tích là vùng thềm lục địa Tây Bắc biển Đông, có đặc được bóc mòn từ các khối địa chất thuộc Nam điểm địa chất phức tạp gắn liền với các hoạt động Trung Hoa và miền Bắc Việt Nam được vận chuyển kiến tạo trong khu vực Đông Nam Á. Các số liệu địa bởi hệ thống sông Hồng (bao gồm cả sông Đà, chấn sâu, trọng lực và từ hàng không cho thấy tổng sông Lô/Chảy) và lắng đọng tại vịnh Bắc Bộ tạo nên chiều dày trầm tích Kainozoi ở khu vực này có chỗ phần chính là bể trầm tích sông Hồng, chỉ khoảng 8 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  9. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 9 PETROVIETNAM 5% vật liệu được lắng đọng tại vùng đệm là miền bằng trái của đới đứt gãy sông Hồng và sự đâm võng Hà Nội (Clift và nnk 2006). Ngoài ra các nguồn trồi của địa khối Đông Dương về phía ĐN là địa phương dọc theo bờ biển phía Bắc, Bắc Trung nguyên nhân dẫn đến sự tách giãn hình thành Bộ và đảo Hải Nam (Trung Quốc) cũng đóng góp biển Đông và bể trầm tích sông Hồng (bao gồm cả một lượng nhỏ trầm tích cho khu vực này. Với chiều miền võng Hà Nội hiện nay). Các nghiên cứu dày trầm tích Kainozoi lớn, đây là một trong những (Tapponnier và nnk. 1986, 1990; Leloup và nnk. khu vực có tiềm năng về dầu khí và đã trở thành đối 2001; Schärer và nnk. 1990, 1994; Chung và nnk. tượng quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và 1997 và Zhang & Schärer 1999) dựa trên các dấu tổ chức công nghiệp. Hàng loạt các giếng khoan, hiệu động học ngoài thực địa và các số liệu phân các tuyến địa vật lý đã được tiến hành nhằm làm tích tuổi tuyệt đối cho rằng đới đứt gãy Sông Hồng sáng tỏ cấu trúc địa chất và lịch sử tiến hóa trầm bắt đầu trượt trái cách đây ít nhất 35 triệu năm với tích Kainozoi. Tuy nhiên khu vực nghiên cứu nằm tổng biên độ dịch trượt trên 500km. Các công trình trên địa phận lãnh thổ của Việt Nam và Trung Quốc, nghiên cứu tiếp theo (Morley 2002; Hall và nnk. nên quá trình liên kết các thành tạo địa chất vẫn còn 1996, 2008, Clift và nnk. 2008) dựa trên các tài nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu các thông tin lưu liệu phân tích địa chấn sâu, cổ từ, trầm tích,... cho giữ trên các thành tạo trầm tích này không chỉ phục rằng có rất ít bằng chứng để kết luận về vai trò va vụ cho mục tiêu tìm kiếm nguồn nhiên liệu hóa chạm giữa mảng Ấn Độ với mảng Âu-Á trong thạch mà còn góp phần làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa trong quá trình tách giãn và hình thành biển Đông. về kiến tạo và địa tầng của vịnh Bắc Bộ và châu thổ Thay vào đó sự tách giãn biển Đông chủ yếu liên Sông Hồng trong mối quan hệ chung với kiến tạo quan đến sự hút chìm của biển Đông cổ (proto- khu vực Đông Nam Á. Trong nghiên cứu này chúng South China Sea) về phía máng hút chìm Borneo. tôi trình bày các kết quả nghiên cứu quá trình trầm Quá trình tiến hóa của vịnh Bắc Bộ và châu thổ tích và nguồn gốc vật liệu trầm tích cho khu vực Sông Hồng lại liên quan chặt chẽ với hoạt động của vịnh Bắc Bộ và châu thổ Sông Hồng dựa trên việc đới đứt gãy Sông Hồng. Do chiều dày trầm tích quá minh giải tài liệu địa chấn sâu và phân tích tuổi tuyệt lớn nên hiện nay chưa có giếng khoan nào đạt đến đối U-Pb trên các mẫu trầm tích hiện đại. đáy của các thành tạo trầm tích Kainozoi ở khu vực 1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa chất khu vực này. Việc xác định tuổi và thành phần các tập trầm nghiên cứu tích cổ nhất được dự đoán là các trầm tích lục nguyên Paleogen - Eoxen nằm bất chỉnh hợp trên Khu vực nghiên cứu là phần thềm lục địa các thành tạo đá móng trước Kainozoi có thành phíaTây Bắc biển Đông (Hình 1). Về vị trí kiến tạo, phần chủ yếu là carbonat (tuổi C-P?) và một lượng vịnh Bắc Bộ nằm ở phần mở rộng phía Đông Nam nhỏ các đá phun trào (Trần Nghi và nnk 2005; Đặng của đới đứt gãy sông Hồng và phần lớn diện tích Văn Bát và nnk. 2005; Mai Thanh Tân và nnk. 2006) được bao trùm bởi bể trầm tích sông Hồng. Quá trình hình thành và tiến hóa địa chất của vịnh Bắc 2. Lịch sử tiến hóa và biến đổi trầm tích trên cơ Bộ và vùng châu thổ sông Hồng có mối liên hệ sở minh giải tài liệu địa chấn mật thiết với sự va chạm mảng Ấn Độ với mảng Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng một Âu-Á, sự đâm trồi về phía Đông Nam của địa khối số mặt cắt địa chấn 2D từ Petrovietnam, CNOOC Đông Nam Á và quá trình hình thành biển Đông. và BP. Các tuyến địa chấn lựa chọn phân bố ở cả Tappnnier và nnk. (1982) đã nghiên cứu biến dạng sườn Tây Nam và phía Đông Bắc của vịnh Bắc Bộ để giải thích cơ chế hoạt động kiến tạo ở khu vực với mục đích liên kết địa tầng xuyên suốt qua phần Đông Nam Á và đã xây dựng mô hình kiến tạo lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc (Hình 1). Việc “đâm xuyên” (indentor) (Hình 2), theo đó sự va khoanh định ranh giới các tập địa chấn được thực chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu-Á đã làm cho hiện trên cơ sở xác định các dấu hiệu gá đáy địa khối Đông Dương chuyển động quay xuôi (onlap), phủ đáy (downlap), chống nóc (toplap) và chiều kim đồng hồ khoảng 250 và dịch chuyển về các bề mặt bào mòn. Tuổi của các thành tạo địa phía ĐN khoảng 800km dọc theo đới đứt gãy trượt chất tương ứng được xác định trên cơ sở liên kết bằng trái sông Hồng. Quá trình chuyển động xoay tuổi tuyệt đối của các hóa thạch trong các giếng thuận chiều tiếp tục cho đến khoảng 450 trước khi khoan LG 20-1-1 và LD 30-1-1A ở sườn phía Đông đới đứt gãy Sông Hồng chuyển sang chế độ trượt Bắc bể sông Hồng. Theo kết quả minh giải tài liệu bằng phải do quá trình tiếp tục đâm xuyên của địa chấn, có mười ba tập địa chấn được xác định. mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á. Chuyển động trượt Hình 3 thể hiện các tập địa chấn và đặc điểm cấu dÇu khÝ - Sè 8/2009 9
  10. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 10 th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ trúc ngang của bể sông Hồng - phần chính của hoặc dạng thấu kính xen kẹp trong các lớp trầm cấu trúc vịnh Bắc Bộ trong Kainozoi. Mặt cắt địa tích hạt mịn hoặc lấp đầy trong các dòng chảy cổ. chấn trong Hình 3 cho thấy khu vực vịnh Bắc Bộ Trong khi đó các lớp bột, bột sét và sét hạt mịn, được khống chế bởi một loạt các đứt gãy ngang phân lớp mỏng được đặc trưng bởi biên độ phản thuận (transtensional faults), đặc biệt là đứt gãy xạ yếu hơn với tần số cao hơn, có tính liên tục về Sông Hồng ở rìa Tây Nam và đứt gãy No.1 ở rìa chiều dày tốt hơn. Các thành tạo trầm tích tur- Đông Bắc. Cấu trúc móng trước Kainozoi bắt bidite liên quan đến trượt lở ngầm hoặc các vận đầu tách giãn trong gian đoạn Paleogen-Eocen chuyển khối thường được lắng đọng nhanh nhưng quá trình tách giãn và sụt lún xảy ra mạnh chóng trên các bề mặt bào mòn ngầm, có độ mẽ khoảng từ 27-34 triệu năm, cùng giai đoạn chọn lọc kém nên thường được đặc trưng bởi hoạt động mạnh của đớt đứt gãy sông Hồng. trường sóng phản xạ hỗn độn (chaotic). Ngoài ra Gần như toàn bộ các thành tạo trầm tích đồng các đới quá bão hòa áp suất và các tập cát/cát tách giãn (synrift deposits) được lắng động ở kết có chứa khí nông thường được thể hiện qua phần trung tâm của vùng nghiên cứu. Biên độ sự giảm đột ngột tốc độ truyền sóng và quan sát dịch chuyển của các thành tạo trầm tích dọc theo trên mặt cắt địa chấn các “điểm sáng” (bright các đứt gãy này không giống nhau. Quá trình spot) với biên độ phản xạ âm mạnh mẽ (Hình 6). tách giãn và sụt võng kiến tạo ở trung tâm bể 3. Phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích sông Hồng và vịnh Bắc Bộ được tiếp theo bởi quá trình sụt võng do co rút nhiệt (thermal subsi- Các nghiên cứu trước đây cho rằng phần dence) trong Mioxen trước khi tái hoạt động lớn trầm tích được lắng đọng trong khu vực vịnh mạnh mẽ trở lại sau Mioxen (5,5 triệu năm). Các Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng được bóc mòn từ thành tạo trầm tích Kainozoi ở phía Bắc và trung khu vực Đông Nam cao nguyên Tây Tạng và tâm khu vực nghiên cứu bị biến dạng, trượt miền Bắc Việt Nam. Các vật liệu này được bóc chờm và bào mòn mạnh mẽ (Hình 4). Ngoài ra mòn và vận chuyển ra biển Đông bởi hệ thống còn quan sát thấy các cấu trúc dạng vòm đặc sông Hồng và các chi lưu chính của nó (sông trưng bởi trường sóng xuyên cắt vào các thành Đà, sông Lô/sông Chảy) (Clift và nnk. 2006) tạo trầm tích ở phần trung tâm vịnh Bắc Bộ (Hình trong khi các nguồn địa phương dọc theo bờ 4). Trên một số tuyến địa chấn phương TB- ĐN, biển miền Bắc, Bắc Trung Bộ Việt Nam và đảo chiều dày của các tập tăng dần từ Tây Bắc về Hải Nam chỉ đóng vai trò thứ yếu. Mặc dù tổng Đông Nam (Hình 5) cho thấy ở giai đoạn sớm chiều dài và diện tích lưu vực của hệ thống sông của quá trình tách giãn phần lớn trầm tích vận Hồng hiện tại không dài và rộng như một số hệ chuyển bởi hệ thống sông Hồng được lắng đọng thống sông khác trong khu vực nhưng hàng năm ở khu vực châu thổ và phía Bắc vịnh Bắc Bộ nó vận chuyển ra biển Đông một lượng trầm tích nhưng trung tâm lắng đọng dịch chuyển dần về rất lớn (~130 x 106 tấn/năm) bao gồm cả vật liệu phía Đông Nam. Trường sóng phản xạ kiểu nêm vận chuyển ở tầng đáy và vật liệu lơ lửng lấn (progradation) trong Hình 5 cho thấy trong (Milliman & Syvitski, 1992; Schimanski và nnk, giai đoạn Holoxen - Đệ Tứ, vật liệu trầm tích 2001). Mức độ tập trung trầm tích cao trong hệ nhanh chóng được vận chuyển về phía Đông thống sông Hồng là do các hoạt động phong hóa Nam của vịnh Bắc Bộ với tốc độ cung cấp trầm hóa học và bóc mòn vật lý xảy ra mạnh mẽ ở các tích diễn ra nhanh hơn tốc độ tạo không gian khu vực đá nguồn. Để làm sáng tỏ về vai trò của lắng đọng. các khối địa chất phân bố ở thượng lưu hệ thống Về thành phần thạch học của các thành tạo sông Hồng và nguồn gốc vật liệu trầm tích cung trầm tích ở vịnh Bắc Bộ và khu vực châu thổ cấp cho khu vực châu thổ sông Hồng và vịnh sông Hồng đã được nghiên cứu khá chi tiết qua Bắc Bộ, chúng tôi đã sử dụng phương pháp định các giếng khoan thăm dò dầu khí và các chương tuổi tuyệt đối U-Pb trên các khoáng vật zircon. trình khảo sát lấy mẫu lõi trước đây. Tuy nhiên do Các mẫu cát bở rời được lấy từ hạ lưu sông độ sâu có hạn nên thành phần của các tập trầm Lô, sông Đà, sông Hồng tại Lào Cai và hạ lưu tích ở dưới sâu vẫn chưa được làm sáng tỏ, chủ sông Hồng để đảm bảo tính đại diện và tránh bị yếu dựa vào các đặc điểm trường sóng địa chấn ảnh hưởng bởi các nguồn địa phương. Kết quả (Hình 6). Các tập cát và cát kết có chiều dày lớn, phân tích các mẫu được so sánh với kết quả định hạt thô thường có biên độ phản xạ mạnh, tần số tuổi của các khối địa chất có tiềm năng là nguồn thấp; có thể phân bố thành tập kéo dài liên tục vật liệu trầm tích cho hệ thống sông Hồng đã 10 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  11. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 11 PETROVIETNAM được công bố: Khối Qiangtang (trung tâm cao lắng đọng được bóc mòn từ khu vực Đông Nam nguyên Tây Tạng) (Roger và nnk. 2003; Roger và Tây Tạng và miền Bắc Việt Nam mặc dù trầm nnk. 2000); khối Songpan Garze (Bruguier và tích lắng đọng trong giai đoạn đầu chủ yếu là từ nnk. 1997; Liu và nnk. 2004; Weislogel và nnk. nguồn địa phương (khi mà hệ thống sông Hồng 2006), nền Dương Tử (Yangtze) (Hacker và nnk. chưa phát triển). Hai hệ thống đứt gãy ngang 1998; Li 1999; Ling và nnk. 2003; Xue và nnk. thuận (transtesional faults) ở sườn phía Đông 1997; Zheng và nnk. 2006), khối Cathaysia (Li và Bắc và Tây Nam bể sông Hồng, đặc biệt là đứt nnk. 2005; Li và nnk. 1989; Li và nnk. 2002), đới gãy sông Hồng và đứt gãy No. 1 đóng vai trò Ailao Shan và dãy núi Con Voi (Schaerer và nnk., khống chế và định hình cấu trúc địa chất trong 1990; Zhang & Schärer 1999). Mẫu trầm tích bở các thành tạo Kainozoi cho khu vực nghiên cứu. rời được tách phần khoáng vật nặng trước khi Sự bất đồng nhất về cự li dịch chuyển của các tuyển tinh lần hai bằng dung dịch nặng bromo- thành tạo trầm tích dọc theo các đứt gẫy (giảm form. Các hạt khoáng vật zircon được chọn lựa dần lên phía trên) cho thấy các đứt gãy này tái dưới kính hiển vi. Do zircon là khoáng vật phổ hoạt động trong nhiều pha. Quá trình tách giãn biến và chứa hàm lượng U, Pb khá cao so với các và sụt võng xảy ra mạnh mẽ trong Eoxen- khoáng vật khác nên nó được sử dụng rộng rãi và Oligoxen trước khi quá trình sụt lún giảm dần do hiệu quả trong việc định tuổi kết tinh và tuổi nguội quá trình co rút nhiệt hậu tách giãn (thermal con- lạnh dưới mức 7500C (Hodges 2003). Hơn nữa traction). Sự uốn nếp mạnh mẽ đi kèm với các do hệ thống U-Pb có nhiệt độ “đóng” cao nên tuổi hoạt động trượt chờm và các bề mặt bất chỉnh của nó ít khi bị thay đổi trong các quá trình biến hợp quan sát được trên một số mặt cắt ở phía chất sau này, cho phép sử dụng hiệu quả trong Bắc vịnh Bắc Bộ cho thấy khu vực nghiên cứu đã phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích. Các hạt zir- trải qua ít nhất hai pha nghịch đảo kiến tạo, con được rửa sạch bằng ethanol để loại bỏ tạp chuyển từ chế độ căng giãn sang chế độ ép nén chất và được phân tích bằng phương pháp MC- khu vực. Pha nghịch đảo thứ nhất (~34-35 triệu ICPMS, sử dụng mẫu chuẩn zircon (Xie và nnk năm) mang tính cục bộ, chỉ quan sát được ở 2008, Wei và nnk. 2009). phần phía bắc khu vực nghiên cứu và có thể Kết quả định tuổi U-Pb được trình bày trên được gây ra bởi giai đoạn trượt sớm của đới đứt Hình 7. Các mẫu trầm tích bở rời cho khoảng gãy Sông Hồng trong khi pha nghịch đảo thứ hai tuổi tương đối rộng từ 30-2800 triệu năm thể xảy ra trong Mioxen trung (~15,5 triệu năm) hiện sự đa dạng về nguồn gốc vật liệu, trừ sông mang tính khu vực và được liên kết với bất chỉnh Lô chủ yếu gồm các hạt zircon phân bố trong hợp khu vực trên toàn biển Đông (Hazebroek & khoảng tuổi rất hẹp và rất tập trung xung quanh Tan 1993; Hutchison 1996; Mathews và nnk.. mức 400 triệu năm. Mặc dù trầm tích ở hạ lưu 1997). Pha nghịch đảo trong Mioxen giữa được sông Đà có tuổi chủ yếu tập trung ở mức 250 liên hệ với sự ngưng nghỉ của đới đứt gãy sông triệu năm, liên quan đến chu kỳ tạo núi Indosini Hồng và quá trình ngừng tách giãn biển Đông. (Lepvrier và nnk., 2004) nhưng vẫn có một số hạt Sự chuyển tiếp từ chế độ tách giãn sang ép nén phân bố trên một khoảng tuổi kết tinh khá rộng. và nghịch đảo đóng vai trò quan trọng trong việc Các mẫu trầm tích trên sông Hồng lấy ở Lào Cai tái phân bố lại các vật liệu trầm tích hạt mịn trong và Hà Nội có mô hình phân bố tuổi U-Pb khá đới quá bão hòa áp suất để tạo nên các cấu trúc phức tạp cho thấy vật liệu trầm tích được bóc vòm bột/sét (shale diapir) ở trung tâm của vùng mòn từ các đá đa nguồn gốc và tương phản lẫn nghiên cứu (Hình 3). Tuy vậy các cấu trúc vòm nhau. Nhìn tổng thể thì các hạt zircon trong các này còn xuyên cắt cả vào các thành tạo sau giai mẫu này có tuổi kết tinh U-Pb tập trung ở một số đoạn nghịch đảo Mioxen giữa. Điều này cho thấy cực trị tại ~700-900, ~250, ~1.800-2.000 và rằng các cấu trúc vòm ép nén trước đây lại tiếp ~2.200-2.500 triệu năm. tục phát triển xuyên lên các thành tạo trẻ hơn do áp lực thủy tĩnh của các lớp trầm tích bên trên đè 4. Một số vấn đề thảo luận và kết luận lên (Clift & Sun 2006). Mặc dù các tài liệu trước Mặc dù các thành tạo trầm tích sâu nhất ở đây ghi nhận sự tồn tại của các cấu trúc vòm trung tâm vịnh Bắc Bộ và bể sông Hồng chưa kiểu như thế này nhưng hình thái và đặc điểm được xác định rõ ràng nhưng phần lớn các ý kiến phản xạ địa chấn hai bên sườn không thể hiện đều thống nhất cho rằng quá trình lắng đọng kiểu cấu trúc vòm đặc trưng (các bề mặt phản trầm tích ở khu vực vịnh Bắc Bộ được bắt đầu từ xạ không bị uốn cong tại nơi tiếp xúc). Vì vậy có Eoxen-Oligoxen với phần lớn lượng trầm tích khả năng tồn tại đứt gãy trượt bằng ẩn (bị các dÇu khÝ - Sè 8/2009 11
  12. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 12 th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ thành tạo trẻ hơn che phủ ở bên trên) tạo nên khoảng tuổi 210 triệu năm, có thể được thành cấu trúc hình tam giác. Sự dịch chuyển địa tạo với giai đoạn muộn của chu kỳ tạo núi tầng ở hai bên cánh của đứt gãy đã làm cho Indosini (Yin & Harrison 2000). Ngược lại, đới các lớp trầm tích bị xáo trộn và mất đi tính Ailao Shan và dãy núi Con Voi lại đặc trưng bởi phân lớp ban đầu như đã được thể hiện trên khoảng tuổi rất trẻ 27-33 triệu năm. Khoảng mặt cắt địa chấn (Hình 3). Do mật độ của các phân bố tuổi rất trẻ và hẹp trong đới này được tuyến địa chấn còn thưa nên chưa có đầy đủ xuất lộ bởi hoạt động của đới đứt gãy sông bằng chứng thuyết phục để kết luận về sự tồn Hồng (Gilley và nnk. 2003, Leloup và nnk. tại các đứt gãy trượt bằng ẩn này vì vậy sẽ 2001). Trong khi đó, Songpan Graze có mô hình không đề cập trong khuôn khổ nghiên cứu này. phân bố tuổi phức tạp hơn với tần suất phân bố Các hoạt động sụt võng tại khu vực nghiên tuổi cao nhất ở trong các khoảng 270-290 triệu cứu sau Mioxen giữa xảy ra từ từ và giảm dần năm (chu kỳ tạo núi Indosini), tiếp theo là cường độ về phía Bắc dẫn đến phần lớn vật khoảng tuổi 440 triệu năm (chu kỳ tạo núi liệu trầm tích do hệ thống sông Hồng vận Caledoni), 1.900 triệu năm (chu kỳ tạo núi chuyển ra được tiếp tục vận chuyển xuống Lulian) và 2.500 triệu năm. Trên cơ sở so sánh phía Đông Nam. Mặc dù không có nhiều giếng sơ đồ phân bố tuổi của các mẫu trầm tích hiện khoan khống chế thành phần thạch học trầm đại với các mẫu đá gốc cho thấy Songpan Gaze tích, đặc biệt ở độ sâu lớn nhưng thông qua có thể là nguồn chính cung cấp vật liệu trầm tích các đặt điểm về biên độ và tần số phản xạ của cho hệ thống sông Hồng trong khi các khối sóng địa chấn cho thấy thành phần chủ yếu là Qiangtang, Cathaysia không đóng vai trò đáng cát, bột với các lớp sét mỏng được lắng đọng kể. Tuy nhiên hệ thống sông Hồng không trực trong môi trường biển nông và delta. Các khu tiếp chảy qua khu vực Songpan Garze vì vậy có vực có dị thường âm mạnh, tần số thấp thể vật liệu từ khu vực này được đổ vào hệ thường là các tập hoặc thấu kính cát có tiềm thống sông Hồng thông qua quá trình tái lắng năng chứa khí nông hoặc các đới quá bão hòa đọng/bóc mòn vật liệu trong các bể trầm tích ở áp suất và được đặc trưng bởi sự giảm mạnh thượng nguồn sông Hồng. Nền Dương Tử có sơ tốc độ truyền sóng địa chấn khi đi qua các đới đồ phân bố tuổi tập trung vào các khoảng hẹp và này. Ngoài ra các trầm tích Kanozoi trong khu tần suất cao tại ~200 triệu năm và ~ 800 triệu vực nghiên cứu còn thể hiện các tướng trầm năm (Hình 8). Sự phân bố này phù hợp với các tích turbidite và vận chuyển khối với đặc điểm trầm tích hiện đại của châu thổ sông Hồng và là địa sóng địa chấn hỗn độn phân bố trên các bề nguồn cung cấp vật liệu trầm tích quan trọng mặt bào mòn. nhất. Hệ thống sông Hồng đóng vai trò quan Trong nghiên cứu này các tác giả đã sử trọng nhất để vận chuyển vật liệu trầm tích được dụng tổng hợp nguồn tài liệu địa chấn và tài liệu bóc mòn từ Đông Nam Tây Tạng, Nam Trung định tuổi tuyệt đối để làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa Hoa và miền Bắc Việt Nam ra biển Đông. Kết trầm tích Kanozoi ở khu vực vịnh Bắc Bộ và quả định tuổi U-Pb là phương pháp hiệu quả châu thổ sông Hồng. Các kết quả đã góp phần phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích. Mô hình làm rõ hơn vai trò các nguồn vật liệu trầm tích và phân bố tuổi U-Pb của trầm tích sông Hồng ở liên hệ được các quá trình bóc bòn, vận chuyển Hà Nội và Lào Cai khá giống nhau (Hình 7), tuy và lắng đọng với các hoạt động kiến tạo và biến nhiên cực trị tại 400 triệu năm cho mẫu trầm tích đổi cổ địa lý ở khu vực Đông Nam Á. sông Hồng tại Hà Nội lại phù hợp với tuổi của các hạt Zr thuộc nhánh sông Lô. Điều này cho Lời cảm ơn thấy nguồn vật liệu sông Lô đóng vai trò đáng kể trong tổng lượng trầm tích được lắng đọng tại Các tác giả xin chân thành cảm ơn Hội châu thổ sông Hồng và vịnh Bắc Bộ. Kết luận đồng nghiên cứu Môi trường Tự nhiên Liên hiệp này phù hợp với nghiên cứu đồng vị Nd và Sr Anh (NERC), trường ĐH Aberdeen, trong mẫu trầm tích sông Lô và sông Hồng Petrovietnam, BP, Viện Hàn lâm Khoa học Trung trước đây của Clift và nnk. (2008). Quốc và các đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, Tuổi U-Pb của các mẫu đá gốc (Hình 8) cho kinh phí và thiết bị thí nghiệm để hoàn thành thấy khối Qiangtang (trung tâm Tây Tạng) được nghiên cứu này. đặc trưng bởi phần lớn các hạt Zr phân bố trong 12 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  13. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 13 PETROVIETNAM Hình 1. Sơ đồ vị trí địa lý và phân chia các khối địa chất của vùng nghiên cứu trong khu vực Đông Nam Á Hình 2. Mô hình thí nghiệm biến dạng giải thích sự hình thành biển Đông và sự đâm trồi của địa khối Đông Dương về phía ĐN (mô phỏng theo Tapponnier và nnk. 1982): A - Biến dạng đối xứng khi hai cạnh bên bị khống chế; B - Biến dạng bất đối xứng khi cạnh bên trái bị không chế và cạnh bên phải để mở; C - Sơ đồ kiến tạo khu vực Đông Nam Á tương tự với sơ đồ biến dạng dÇu khÝ - Sè 8/2009 13
  14. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 14 th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ Hình 3. Mặt cắt địa chấn thể hiện cấu trúc ngang Hình 4. Mặt cắt địa chất ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ. của bể trầm tích Sông Hồng và vịnh Bắc Bộ. Các tập trầm tích bị uốn nếp, trượt chờm Các đứt gãy ngang - thuận đóng vai trò và bào mòn mạnh mẽ thể hiện khu vực này đã quan trọng trong việc hình thành nên cấu trúc bồn trũng (Đối chiếu với Hình 1) trải qua các giai đoạn nghịch đảo kiến tạo (đối chiếu với Hình 1) Hình 5. Các phản xạ địa chấn kiểu "nêm lấn" về phía Đông Nam cho thấy vật liệu trầm tích do sông Hồng vận chuyển ra biển Đông theo hướng Đông Nam trong kỷ Đệ Tứ 14 dÇu khÝ - Sè 8/2009
  15. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 15 PETROVIETNAM Hình 6. Một số dấu hiệu địa chấn đặc trưng liên quan đến sự biến đổi thạch học và môi trường trầm tích: A- Các dòng chảy cổ có hình thái không đối xứng thể hiện quá trình xâm thực ngang xảy ra mạnh mẽ; B- Các cấu tạo thớ chẻ hình tỏa tia hình thành do lực căng trên nóc của các cấu tạo vòm bột/sét; C- Trầm tích turbidite và vận chuyển khối đặc trưng bởi các dấu hiệu phản xạ hỗn độn, hoặc kiểu phủ đáy trên bề mặt bào mòn. D- Các trầm tích hạt thô đặc trưng bởi biên độ phản xạ mạnh được lấp đầy trong đáy của các bề mặt bào mòn cổ. Sự tăng đột biến vận tốc truyền sóng địa chấn qua đới hạt thô làm cho các bề mặt của các tập nằm dưới bị uốn cong lên phía trên (pull-up effect); E- Biến đổi tần số và biên độ phản xạ địa chấn khi thành phần thạch học và độ sâu chôn vùi thay đổi dÇu khÝ - Sè 8/2009 15
  16. BẢN GỐC:Dien VN SO 24.qxd 11/25/2009 3:58 PM Page 16 th¨m dß - khai th¸c dÇu khÝ Hình 8. Biểu đồ tần suất thể hiện sự phân bố tuổi tuyệt đối U-Pb của các mẫu đá gốc lấy từ Hình 7. Biểu đồ tần suất thể hiện sự phân bố tuổi các khối địa chất khác nhau để đánh giá tuyệt đối U-Pb của các mẫu trầm tích hiện đại tiềm năng nguồn vật liệu trầm tích cung cấp trên hệ thống sông Hồng và các chi lưu chính cho vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng Tài liệu tham khảo Geology, 25(4), pp. 311-314. 1. Acharyya, S.K., 2001. The Role of India-Asia 5. Clift D. P., Hoang V. L., Hinton R. Ellam M. Collision in the Amalgamation of the Gondwana- R., Hannigan., Mai T. T., Blusztajn J., Nguyen A. D., Derived Blocks and Deep-Seated Magmatism dur- 2008. Evolving East Asian river systems recon- ing the Paleogene at the Himalayan Foreland Basin structed by trace element and Pb and Nd isotope and Around the Gongha Syntaxis in the South variations in modern and ancient Red River-Song China Block. Gondwana Research, 4(1), pp. 61-74. Hong sediments. 9. 2. Avouac, J.-. and Tapponnier, P., 1993. 6. Clift, P.D., Blusztajn, J. and Duc, N.A., 2006. Kinematic model of active deformation in Central Large-scale drainage capture and surface uplift in Asia. Geophysical Research Letters, 20(10), pp. eastern Tibet-SW China before 24 Ma inferred from 895-898. sediments of the Hanoi Basin, Vietnam. 3. Bruguier, O., Lancelot, J.R. and Malavieille, Geophysical Research Letters, 33(19),. J., 1997. U-Pb dating on single detrital zircon grains 7. CLIFT, P.D. and SUN, Z., 2006. The sedi- from the Triassic Songpan-Ganze flysch (Central mentary and tectonic evolution of the Yinggehai- China). Provenance and tectonic correlations. Earth Song Hong basin and the Southern Hainan margin, and Planetary Science Letters, 152(1-4), pp. 217- South China Sea. Implications for Tibetan uplift and 231. monsoon intensification. Journal of Geophysical 4. Chunq, S.-., Lee, T.-., LO, C.-., Wang, P.-., Research B: Solid Earth, 111(6),. Chen, C.-., Yem, N.T., Hoa, T.T. and Genyao, W., 8. Gilley, L.D., Harrison, T.M., Leloup, P.H., 1997. Intraplate extension prior to continental extru- Ryerson, F.J., Lovera, O.M. and Wang, 2003. Direct sion along the Ailao Shan-Red River shear zone. dating of left-lateral deformation along the Red 16 dÇu khÝ - Sè 8/2009