Báo cáo khoa học: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIS VÀ PHƯƠNG PHÁP THỨ BẬC TRONG TÌM...

  • 30/08/2018 02:44:16
  • 52 lượt xem
  • 0 bình luận

  • Ít hơn 1 phút để đọc

Giới thiệu

Wonfram là kim loại được sử dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân hiện nay( ví dụ : Làm dây tóc bóng đèn , đèn sưởi , tên lửa vũ trụ … ) , nhờ các đặc tính vật lý và hóa học vượt trội của nó ( ví dụ : độ bền , nhiệt độ nóng chảy cao , độ cứng cao) . Việc thăm dò và khai thác vonfram ngày nay càng trở nên cấp thiết . Hiện đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu vonfram trong tìm kiếm...

Thông tin tài liệu

Loại file: DOCX , dung lượng : 0.47 M, số trang : 22

Xem mẫu

Chi tiết

  1. 1 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIS VÀ PHƯƠNG PHÁP THỨ BẬC TRONG TÌM KIẾM KHOÁNG SẢN VOLFRAM KHU VỰC PLEIMEO , KONTUM. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Wonfram là kim loại được sử dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân hiện nay( ví dụ : Làm dây tóc bóng đèn , đèn sưởi , tên lửa vũ trụ … ) , nhờ các đặc tính vật lý và hóa học vượt trội của nó ( ví dụ : độ bền , nhiệt độ nóng chảy cao , độ cứng cao) . Việc thăm dò và khai thác vonfram ngày nay càng trở nên cấp thiết . Hiện đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu vonfram trong tìm kiếm thăm dò ( phương pháp trọng sa , địa vật lý ….). trong đề tài này chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu mới trong tìm kiếm khoáng sản Wonfram cho khu vực Pleimeo, Kontum. Đó là việc kết hợp GIS và phương pháp phân tích thứ bậc AHP . Phương pháp phân tích thứ bậc AHP hiện đã được áp dụng nhiều trong công trình tìm kiếm khoáng sản ở nhiều nơi trên thế giới nhưng ở Việt Nam vẫn còn hạn chế . Vậy nên chúng tôi tham gia đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu , phân tích rõ hơn những khó khăn và những thuận lợi của phương pháp kết hợp giữa AHP và GIS trong tìm kiếm thăm dò khoáng sản. 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2.1 Nội dung phương pháp 2.1.1 Phương pháp phân tích thứ bậc ( AHP) AHP là một phương pháp ra quyết định đa mục tiêu được đề xuất bởi Saaty(1980).Dựa trên so sánh cặp ,AHP có thể được mô tả với 3 nguyên tắc
  2. 2 chính:phân tích,đánh giá và tổng hợp.Trước tiên ,AHP phân tích một vấn đề phức tạp ,đa tiêu chí theo cấu trúc như trong hình 1. Hình 1:Sơ đồ cấu trúc thứ bậc(Saaty,T.L..,1980) Sơ đồ cấu trúc thứ bậc bắt đầu với mục tiêu, được phân tích qua các tiêu chí lớn và các tiêu chí thành phần,cấp bậc cuối cùng thường bao gồm các phương án có thể lựa chọn.Nội dung cơ bản của phương pháp là xây dựng hệ thống các yếu tố hình thành và phát triển tai biến,so sánh cặp đôi tầm quan trọng của các yếu tố dựa trên tiêu chuẩn so sánh của Thomas Saaty(bảng 1)trong một ma trận tương ứng (bảng 2),sau đó tính toán trọng số của mỗi yếu tố trong hàng loạt các yếu tố đặt ra theo công thức tính toán tương ứng. STT Đặc điểm so sánh cặp đôi các yếu tố Điểm đánh giá 1 Có tầm quan trọng như nhau 1 2 Quan trọng ít 3 3 Quan trọng nhiều 5 4 Quan trọng hơn rất nhiều 7 5 Tuyệt đối quan trọng hơn 9 6 Khoảng trung gian giữa các mức độ 2,4,6,8 2
  3. 3 trên Bảng 1:Chỉ tiêu của Saaty so sánh cặp đôi các yếu tố Bảng 2:Ma trận so sánh các yếu tố tương ứng. Có thể sử dụng công thức sau để xác định một cách gần đúng trọng số Wi thể hiện mức độ quan trọng của chỉ tiêu : Để xác định một cách chính xác các trọng số Wi thì có thể sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Expert Choice.Phần mềm này hỗ trợ việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá ,phân tích số liệu để xác định trọng số thể hiện mức độ quan trọng của các chỉ tiêu ,đồng thời cho phép xác định chỉ số đánh giá nhất quán trong đánh giá của các chuyên gia,đó là chỉ số tỷ lệ nhất quán. 2.1.2 Phương pháp GIS GIS là một tập hợp các nguyên lý, ph ương pháp, d ụng c ụ và d ữ li ệu quy chiếu không gian ược sử dụng để nhập, lưu trữ, chuyển đổi, phân tích, lập mô hình, mô phỏng , lập bản đồ các hi ện tượng, s ự ki ện trên trái
  4. 4 đất, nhằm sản sinh các thông tin thiết thực hổ trợ cho việc ra quy ết định …. Một cách tổng quát, GIS là hệ th ống các công c ụ n ền máy tính dùng thu thập, lưu trữ, truy cập và biến đổi, phân tích và th ể hi ện dữ li ệu liên quan đến vị trí bề mặt trái đất, và tích hợp các d ữ li ệu c ần thi ết vào quá trình lập quyết định. Hệ thống thông tin địa lý(GIS)cho phép xây dựng các phân tích không gian ,quản lý,tích hợp và chồng ghép các lớp thông tin.Mô hình phân tích thứ bậc sẽ hỗ trợ cho hệ thống thông tin địa lý ,tổng hợp các thông tin ,gán các trọng số phù hợp nhất cho các yếu tố đã được lựa chọn. Sau khi đã phân cấp và tính trọng số của các chỉ tiêu thì việc tích hợp chúng sẽ cho ta chỉ số nhạy cảm sự phân bố wonfram. 2.2.Nghiên cứu ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc trong tìm kiếm khoáng sản wonfram khu vực Pleimeo,Kontum. 2.2.1 Khái quát về đặc điểm địa chất khu vực Pleimeo,Kontum: 2.2.1.1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu có diện tích khoảng 378,5km 2,thuộc tờ bản đồ địa hình Plei Meo (D-48-60-C) bao gồm địa phận hành chính các xã Mô Rai và xã Sa Sơn, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Trung tâm di ện tích nghiên cứu nằm về phía tây thị xã Kon Tum khoảng 45km, được gi ới h ạn bởi tọa độ địa lý: + 14°20’08’’-14°29’55’’ vĩ độ bắc. + 107°33’04”-107°44’47’’ kinh độ đông. 4
  5. 5 Diện tích khu vực nghiên cứu Hình 1.1. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 2.2.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, nhân văn : a. Đặc điểm địa hình: Vùng nghiên cứu thuộc địa hình núi cao, mức độ phân cắt mạnh, chênh lệch độ cao lớn (300 - 1700m), có thể chia 3 mức địa hình: núi cao 1000 - 1700m, núi thấp 600 - 1000m và đồng bằng giữa núi (400 - 600m) . Cắt qua vùng có sông Đăk Ho Drai với chiều dài tổng cộng >50km, ch ảy từ bắc xuống nam. Hệ thống suối rất phát triển nhưng ngắn và d ốc, nhi ều thác ghềnh, mùa mưa dễ gây lũ quét, cản trở lớn trong mùa thực địa. b. Đặc điểm khí hậu: Vùng có khí hậu nhiệt đới, gió mùa cao nguyên với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình 1.728,5mm/năm (chiếm 80-85% lượng mưa cả năm), hướng gió chính là tây nam;các tháng còn lại là mùa khô, hầu như không mưa, thuận lợi cho lộ trình thực địa, hướng gió chính là đông bắc. c.Dân số và hệ thống giao thông : Dân số trong khu vực khoảng 10.450 người, chủ yếu là dân tộc ít người Xê Đăng, Rơ Ngao, Gia Rai, Rơ Man,mật độ dân số thưa (17,5 người/km2). Cơ sở vật chất, văn hóa xã hội ở các xã còn rất h ạn ch ế, trình độ dân trí thấp, lạc hậu, kinh tế chính là nông nghiệp, làm nương rẫy. Số lượng trường học và trạm y tế còn ít, huyện Sa Th ầy là đi ểm nóng c ủa
  6. 6 bệnh sốt rét rừng, căn bệnh thường xuyên đe dọa đến đời sống và tính mạng người dân. Mạng lưới giao thông trong khu vực nghiên cứu rất khó khăn, hầu như không có đường mòn. Đường tới các huyện và xã là đường cấp phối, đây là đường vận chuyển chính trong mùa thực địa. 2.2.1.3. Đặc điểm địa chất khu vực: a.Địa tầng Các thành tạo trầm tích trongkhu vực nghiên cứu phát triển khá phong phú và đa dạng, có tuổi từ Paleozoi đến Kainozoi. GIỚI PALEOZOI PHỤ GIỚI PALEOZOI HẠ Hệ tầng Mô Rai (PZ1mr) Mô Rai là tên địa danh xã thuộc huyện Sa Thầy, cách thị trấn Sa Thầy khoảng 40km về phía tây-tây nam. Thành phần thạch học của h ệ tầng được chia làm 2 tập: - Tập 1(PZ1mr1): dưới cùng là hệ lớp 1 gồm sạn cuội kết màu xám tro, chiều dày trên 80m, ti ếp lên là h ệ l ớp 2 g ồm s ạn cát k ết màu xám tro, dày trên 40m. Trên cùng là h ệ l ớp 3 gồm cát k ết màu xám tro, xám vàng, xen lớp mỏng bột, sét kết bị phân phi ến, ít đá phi ến th ạch anh sericit, h ệ lớp này dày 180m. Tập 1 dày trên 300m. - Tập 2(PZ1mr2): nằm chuyển tiếp lên trên tập 1 gồm: dưới cùng là hệ lớp 4 gồm bột kết, sét bột kết bị phân phiến xen lớp mỏng đá phiến sét, đá phiến thạch anh-sericit, đá phiến talc-sericit và cát kết bị phiến hóa, dày 195m. Chuyển tiếp lên là hệ lớp 5 gồm đá phiến thạch anh-sericit, đá phiến sericit-thạch anh-chlorit xen lớp mỏng đá phiến sét, bột sét kết bị phiến hóa, ít cát bột kết, dày 120m. Tập 2 dày 315m. Chiều dày của hệ tầng khoảng 615m. Các đá của hệ tầng Mô Rai ph ủ bất chỉnh h ợp trên đá phi ến th ạch anh hai mica của phức h ệ Khâm Đức (NP-Є 1kđ) ở bắc Grấp. Đồng thời chúng bị granitoit phức h ệ B ến Giằng (Gdi/PZ 3bg) cắt qua ở bắc Chư Chok, vì vậy hệ tầng Mô Rai được t ạm x ếp vào Paleozoi h ạ. Hệ tầng Cư Brei (D1cb) Trong phạm vi diện tích khu vực nghiên cứu, hệ tầng Cư Brei (D1cb)lộ một diện nhỏ ở làng Le Rẽ (3km2). Hệ tầng được chia làm 2 tập: - Tập 1 (D1cb1):cát sạn cuội kết đa khoáng, cát kết hạt thô chứa ít cuội thạch anh nhỏ, cát kết hạt nhỏ màu xám vàng phớt trắng, phân lớp dày, xen ít lớp mỏng bột kết màu xám. Trên bột kết, sét bột kết, màuxám-xám vàng, phân lớp mỏng. - Tập 2 (D1cb2): đá vôi màu xám đen xen ít sét vôi, phân lớp dày. Chưa quan sát được quan hệ giữa tập 1 và tập 2 do bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ. 6
  7. 7 Trong diện tích nghiên cứu các đá của hệ tầng Cư Brei bị granitoid phức hệ Đèo Cả, Định Quán xuyên cắt gây sừng hóa, được đối sánh với thành tạo đá vôi ở Cư Brei có tuổi Devon sớm (D1). GIỚI MESOZOI HỆ TRIAS, THỐNG TRUNG Hệ tầng Mang Yang (T2my) Các thành tạo núi lửa của hệ tầng Mang Yang phân bố chủ yếu ở Chư Mom Ray (43km2), Chư Ya Krei (20km2) và ở Chư Rơ Ban (12km 2) xã Mô Rai, kéo dài về phía đông bắc và nam - đông nam ra ngoài diện tích nghiên cứu. Các thành tạo phun trào hệ tầng Mang Yang phân bố rộng rãi, tạo nên các bồn trũng ổn định, chúng được thể hiện rõ nhất trên hai mặt cắt sau: + Mặt cắt ở khu vực núi Chư Mom Ray: Gồm 3 tướng từ dưới lên như sau: - Tướng trầm tích nguồn núi lửa:thành phần gồm sạn kết tuf, cát sạn kết tuf thành phần felsic. Dày 50-100m. Các đá có cấu tạo phân lớp m ỏng, tạo các tập dày một vài mét đến chục mét ph ủ trực ti ếp trên granodiorit dạng gneis phức hệ Diên Bình (GDi/Sdb2). - Tướng phun trào thực thụ:thành phần gồm ryolit, ryolit porphyr, ryodacit, ryodacit porphyr, felsit, felsit porphyr, dacit, dacit porphyr và tuf của chúng. Dày 400-450m. Các đá có cấu tạo khối hoặc dòng ch ảy, th ế nằm thoải (10-20o), phủ trực tiếp trên các đá tướng trầm tích nguồn núi lửa. - Tướng họng núi lửa:thành phần gồm ryolit, tuf ryolit, felsit, felsit porphyr và dăm kết núi lửa thành phần felsic. Dày 250-300m. Các đá có c ấu tạo khối hoặc cấu tạo dòng chảy khá rõ rệt, thế nằm khá dốc (30-40o). Tổng chiều dày của mặt cắt Chư Mom Ray khoảng 800m. + Mặt cắt ở khu vực núi Chư Ya Krei: Gồm 2 tướng từ dưới lên như sau: - Tướng phun tào thực thụ:thành phần gồm ryodacit, ryodacit porphyr màu xám, xám sáng, cấu tạo khối hoặc dòng chảy yếu (phần dưới). Chuyển tiếp lên trên là các thành tạo núi lửa thành phần felsic: ryolit, tuf ryolit, felsit, tuf felsit màu xám, xám sáng, đá có c ấu tạo kh ối ho ặc dòng chảy. Dày 450-550m. - Tướng họng núi lửa:thành phần gồm tuf ryolit và dăm kết núi lửa thành phần felsic, cấu tạo khối hoặc dòng chảy yếu. Dày 100-200m. Các đá ryodacit của tướng phun trào thực thụ có ranh giới tiếp xúc kiến tạo với dacit, dacit porphyr của hệ tầng Đèo Bảo L ộc (J 3đbl) và bị granodorit phức hệ Định Quán xuyên cắt. Tổng chiều dày của mặt cắt Chư Ya Krei khoảng 650m. Kết quả phân tích tuổi đồng vị bằng phương pháp K-Ar các đá ryolit porphyr tướng phun trào thực thụ của hệ tầng ở khu vực Chư Ya Krei cho
  8. 8 giá trị 175,3± 6,6 triệu năm. Kết quả phân tích tuổi đồng vị bằng phương pháp Rb-Sr các đá ryolit porphyr tướng phun trào thực thụ của hệ tầng ở khu vực núi Chư Mom Ray (2004) cho giá trị 280± 2,8 triệu năm. Vì vậy tuổi của hệ tầng Mang Yang được xếp vào Trias giữa (T2). HỆ JURA, THỐNG THƯỢNG Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3đbl) Trên diện tích nghiên cứu, các đá phun trào h ệ tầng Đèo B ảo L ộc phân bố chủ yếu ở: Nam Chư Kram Lo (5km 2), suối Ya Krei - Đông Chư Ya Krei (9km2), Plei Meo (1km2), suối Đăk Mô (0,3km2)..., tạo các trũng núi lửa hẹp, không đều đặn, được khống chế bởi hệ th ống đứt gãy ph ương á kinh tuyến. Hệ tầng Đèo Bảo Lộc được quan sát tốt nhất ở mặt cắt suối Ya Krei, gồm 2 tướng từ dưới lên: - Tướng trầm tích nguồn gốc núi lửa: sạn kết tuf, cát sạn kết tuf, cát bột kết tuf và sét bột kết tuf. Chiều dày khoảng 100 m. Các đá có cấu t ạo phân lớp thô, nằm phủ trực tiếp trên các đá ryodacit của hệ tầng Mang Yang. - Tướng phun trào thực thụ:bao gồm andesit, dacit, dacit porphyr và tuf của chúng. Các đá có màu xám tới xám đen; cấu tạo kh ối; ki ến trúc porphyr hoặc mảnh vụn trên nền vi hạt; cấu tạo kh ối hoặc dòng ch ảy. Dày 250-300m. Các đá bị các thành tạo xâm nhập granit hạt nhỏ sáng màu pha 2 phức hệ Bà Nà xuyên cắt, chúng bị biến chất tiếp xúc nhi ệt b ởi granodiorit pha 2 phức hệ Định Quán. Chiều dày của hệ tầng ở mặt cắt này khoảng 350-400m. Trong tuf andesit chứa các mảnh đá bột kết, sét kết hệ tầng Mô Rai ở đông Chư Ya Krei. Các đá của hệ tầng bị xuyên cắt bởi granodiorit ph ức hệ Định Quán và granit phức hệ Đèo Cả. Vì vậy tuổi của chúng được x ếp vào Jura muộn (J3). HỆ CRETA Hệ tầng Nha Trang (Knt) Trên diện tích nghiên cứu các thành tạo núi lửa của hệ tầng Nha Trang (Knt) phân bố không nhiều ở khu vực Chư Rơ Bang, Suối Ya Hron (13km2), tạo nên các diện núi lửa nhỏ hẹp, không đều đặn, đ ược kh ống chế chủ yếu bởi hệ thống đứt gãy phương á kinh tuy ến và th ứ y ếu b ởi h ệ thống đứt gãy tây bắc - đông nam. Thành phần thạch học của hệ tầng gồm: ryolit porphyr, ryodacit porphyr và tuf của chúng. Các biển đổi sau magma phát tri ển y ếu, quá trình biến đổi lục hóa (chlorit hóa, epidot hóa), silic hóa ch ứa các biểu hi ện khoáng hóa sulfur. Các đá núi lửa của hệ tầng Nha Trang phủ lên và bắt tù các đá phun trào trung tính của hệ tầng Đèo Bảo Lộc ở Chư Rơ Bang, tây nam Xóm Mới. Ở Chư Rơ Bang gặp granitoid phức hệ Vân Canh, phức hệ Định Quán là mảnh vụn trong tuf ryolit, tuf ryodacit của h ệ tầng. Các đá c ủa h ệ 8
  9. 9 tầng bị các mạch gabrodiabas phức hệ Cù Mông xuyên cắt ở khu vực Ch ư Rơ Bang. Vì vậy chúng đượcxếp vào tuổi Kreta không phân chia (K). Phức hệ Khâm Đức(NP-ε1kđ) Trong diện tích nghiên cứu phức hệ Khâm Đức lộ ra ở Mô Rai và một vài dải nhỏ ở Chư Đô, Chư Hing,... Tổng diện tích phân bố của phức hệ khoảng 12km2. Các thành tạo của phức hệ bị biến dạng, biến chất mạnh mẽ, sắp xếp hỗn độn kiểu đới xáo trộn về ki ến tạo, không th ể tách bạch riêng rẽ thứ tự trên dưới trên mặt cắt. Đặc điểm thạch học các đá của phức hệ như sau: - Tổ hợp đá metagabropyroxenit (Gb/NP-ε1kđ):lộ 2 thể nhỏ dạng thấu kính dẹt, rộng vài chục mét, dài vài trăm mét, nằm ch ỉnh hợp với đá phi ến thạch anh-mica (tây Mô Rai) và 4 thể khác nằm rải rác trong trường đá magma xâm nhập trẻ hơn. Thành phần: metagabropyroxenit, metagabro, metahornblendit, chúng bị amphibol hóa, actinolit hóa, talc hóa. - Tổ hợp đá amphibolit (a/NP-ε1kđ): lộ 2 dải rộng vài mét đến vài chục mét, kéo dài 1-1,2km và các thể tù nhỏ trong trường đá xâm nhập trẻ hơn. Thành phần: amphibolit, đá phiến amphibol, màu xám đen, cấu tạo phân phiến, kiến trúc hạt vảy biến tinh hoặc dạng kim que. - Tổ hợp đá gneis amphibol (ga/NP-ε1kđ): lộ 3 dải nhỏ dạng thấu kính dẹt ở Chư Đô và Plei Meo. Thành phần: gneis amphibol, plagiogneis vàplagiogranitogneis, diorit và tonalit màu xám sáng hoặc dải sáng. - Tổ hợp đá hoa (h/NP- ε1kđ): lộ 2 dải nhỏ ở tây Chư Ya Krei. Thành phần gồm đá hoa, đá hoa olivin, đá hoa dolomit, nằm xen với đá phiến thạch anh-mica. Thành phần thạch hóa (%): CaO 29,0-31,25, MgO 1,25- 1,61, trong khi đó đá hoa dolomit có CaO th ấp h ơn 23,03-31,84 nh ưng MgO cao hơn nhiều 16,35-26,73. - Tổ hợp đá phiến silic (si/NP- ε1kđ): nằm xen kẹp trong các đá phiến thạch anh-mica ở tây Mô Rai, tạo hệ lớp phân phiến mỏng, kéo dài theo phương tây bắc - đông nam như tập đánh dấu và bị vò u ốn m ạnh m ẽ. Thành ph ần: đá phiến silic phân dải mỏng bị thạch anh hóa màu trắng s ữa, s ọc đen, có ít (
  10. 10 Pỏ, khi chưa có tuổi đồng vịtạm xếp các tổ hợp đá của phức hệ vào tuổi Neoproterozoi-Cambri sớm (NP-ε1kđ). Phức hệ Diên Bình(Di, GDi, G/Sdb) Trong diện tích nghiên cứu các granitoid được đối sánh với phức hệ Diên Bình lộ 2 khối, có dạng batolit, kéo dài theo phương tây b ắc - đông nam: Chư Kram Lo (29km2), Chư Ya Bruh (32km2).Dựa vào thành phần thạch học và sự xuyên cắt các đá của phức hệ có thể chia ra 3 pha xâm nhập thực thụ và pha đá mạch từ cổ đến trẻ: - Pha 1 (GDi/Sdb1): Thành phần: diorit, diorit thạch anh, ít hơn là gabrodiorit, màu xám tối, cấu tạo dạng gneis. Kiến trúc n ửa tự hình tàn d ư đến hạt vảy biến tinh. - Pha 2 (GDi/Sdb2):Thành phần gồm granodiorit biotit hornblend, tonalit biotit hornblend và granit biotit hornblend hạt trung không đều, màu xám trắng sọc đen. Đá có cấu tạo dạng gneis (khối Ya Lon ...), gneis dạng mắt (Chư Kram Lo), các ổ hình mắt là plagioclas, orthoclas, microclin, thạch anh, ôm uốn lượn theo các mắt là vảy biotit, hornblend, ki ến trúc tàn dư nửa tự hình hoặc porphyr tàn dư. Granodiorit biotit hornblend phổ biến nhất trong pha 2 (60-70%). - Pha 3 (GDi/Sdb3): Thành phần gồm granit, granit biotit có hornblend hạt nhỏ màu xám trắng, cấu tạo gneis, kiến trúc tàn dư nửa tự hình hoặc biến tinh. - Pha đá mạch:Đá mạch sẫm màu gặp ở khối Chư Ya Bruh, Ya Lon, mạch rộng vài dm đến vài mét, kéo dài vài chục đến trăm mét. Thành ph ần gồm diorit porphyrit, spesartit, màu xám đen phớt lục, cấu tạo dạng gneis, kiến trúc porphyr tàn dư. Ban tinh là plagioclas, hornblend, nền hạt nh ỏ đ ến vi hạt. Các đá mạch sáng màu gặp nhiều trong các khối, rộng vài cm đến vài mét, kéo dài không quá 100 mét. Thành phần gồm granit aplit, th ạch anh, granit porphyr sáng màu, cấu tạo dạng gneis, kiến trúc ban biến tinh hoặc aplit, nửa tự hình tàn dư. Kết quả phân tích mẫu quang phổ bán định lượng đá gốc cho th ấy nhóm siderofin có hệ số tập trung khá cao 1,1-3,34clark;nhóm chancozin đáng chú ý Cu 2,23clark, Pb 1,37clark. Kim loại hi ếm đáng chú ý Mo 2,03clark, riêng Ag 2,00clark. Hiện chưa gặp quặng hóa nội sinh nào liên quan. Ở Sa Sơn, các đá phức hệ Diên Bình bị các đá ryolit h ệ tầng Mang Yang phủ lên trên,chúng cũng xuyên cắt và ch ứa tù các tổ h ợp đá c ủa ph ức hệ Khâm Đức. Vì vậy phức hệ Diên Bình được xếp vào tuổi Silur (S). Phức hệ Bến Giằng(Di, GDi, G/PZ3bg) Trên diện tích nghiên cứu, phức hệ Bến Giằng lộ 3 kh ối (Đăk R ơtil, Chư Tan Kra và phần nhỏ khối Ia Tri). Ngoài ra còn gặp các th ể nhỏ (1- 10
  11. 11 4km2) là các vệ tinh, nằm rải rác nhiều nơi.D ựa vào thành ph ần th ạch h ọc và quan hệ xuyên cắt, phức hệ chia ra 3 pha xâm nhập và pha đá mạch. - Pha 1 (Di/PZ3bg1):ít phát triển, diện lộ nhỏ (
  12. 12 kiềm, granit biotit, có màu hồng, cấu tạo khối, kiến trúc nổi ban, ban tinh felspat kiềm lớn (0,5-2cm) màu hồng nâu, nền nửa tự hình hạt trung. - Pha 2 (sG/T2vc2):ít phổ biến hơn, tạo thể cán nhỏ vài km 2. Thành phần là granit á kiềm, granit, granosyenit có biotit, màu hồng nâu, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt nhỏ. - Pha đá mạch:chúng rất phổ biến, mạch rộng 0,1-4m, dài vài trăm mét theo các phương khác nhau. Thành phần gồm granit aplit, granosyenit porphyr màu hồng nâu, kiến trúc aplit hoặc porphyr, nền aplit hoặc nửa tự hình hạt nhỏ-vi hạt. Kết quả phân tích mẫu quang phổ đá gốc cho thấy: pha 1 nhóm siderofin có hệ số tập trung không cao 0,41-2,13clark. Nhóm chancozin có Cu 2,03clark, Pb 2,04clark. Kim loại hiếm, quý Mo 2,5-3,54clark, Ag 2,0clark. Nhóm nguyên tố phân tán đều thấp hơn hoặc bằng giá trị clark. Đã phát hiện quặng hóa nội sinh Th-TR-U trong mạch pegmatoid ở Chư Kà Net, Sa Nhơn liên quan đến pha mạch của phức hệ, ngoài ra dân đang khai thác đá chẻ, vật liệu xây dựng và đá ốp lát ở Sa Bình, Plei Dốch. Các đá phức hệ Vân Canh xuyên cắt granitoid phức hệ Bến Giằng, ryolit hệ tầng Mang Yang và bị granodiorit phức hệ Định Quán xuyên và bắt tù. Đối sánh với các đá granioit của phức hệ ở tờ Sa Thầy có tuổi đồng vị Trias giữa. Vì vậy có thể xếp phức hệ vào tuổi Trias giữa (T2). Phức Hệ Định Quán(Di, GDi, G/K1đq) Trong diện tích nghiên cứu phức hệ Định Quán lộ 2 khối nhỏ Ya Lon, Chư Đô. Chúng gần gũi về không gian với andesit hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3đbl). Phức hệ phân dị dài, thành phần từ bazơ đến acit, có thể chia phức hệ làm 3 pha xâm nhập và 1 pha đá mạch. - Pha 1 (Di/K1đq1):ít phát triển, các khối có diện lộ nhỏ (
  13. 13 Trong diện tích khu vực nghiên cứu chưa bắt gặp trực ti ếp chúng có quan hệ với các phân vị khác, song các cứ liệu của các diện tích bên cạnh đã cho phép xếp phức hệ Định Quán vào tuổi Creta sớm (K1). Phức hệ Đèo Cả(GDi, sG, G/Kđc) Trong diện tích khu vực Plei Meo, các khối granitoid được đối sánh với phức hệ Đèo Cả của Huỳnh Trung xác lập (1980) gồm: Le R ơ Man (25km2), Ya Lon (75km2) và các vệ tinh nhỏ. Phức hệ Đèo Cả phân dị dài từ trung tính đến acit, có thể chia làm 3 pha xâm nhập và pha đá mạch. - Pha 1 (GDi/Kđc1):ở khối Ya Lon có diện lộ lớn (10km 2), dạng kéo dài bám theo các đứt gãy và ven rìa khối hoặc là các thể tù nhỏ. Thành phần: granodiorit, mozodiorit, ít hơn là diorit thạch anh màu xám tro. Đá có cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình. - Pha 2 (sG/Kđc2):thành phần chính của phức hệ (70-95%), tạo các thể vài chục km2. Thành phần: granosyenit biotit hornblend, granit á kiềm biotit hornblend ít hơn là granit biotit hornblend h ạt trung đ ến thô, màu xám hồng, cấu tạo khối, kiến trúc nổi ban, ban tinh felspat kiềm màu hồng thịt. - Pha 3 (G/Kđc3):lộ thể nhỏ (0,5-3km2) đẳng thước, nằm bám theo các đứt gãy (Le Rơ Man, Chư Hing). Thành phần: granit biotit có ít hornblend, màu xám trắng phớt hồng, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt nhỏ. - Pha đá mạch: Lộ các mạch nhỏ vài cm đến vài mét, kéo dài đến vài trăm mét. Thành phần: granit aplit, pegmatoid, felsit, granosyenit porphyr màu hồng xám và mạch thạch anh. Đá sáng màu, cấu tạo kh ối, ki ến trúc aplit, felsit, granosyenit có kiến trúc dạng porphyr, granophir v ới n ền h ạt nhỏ đến vi hạt. Kết quả mẫu quang phổ bán định lượng đá gốc cho: nhóm siderofin có hệ số tập trung cao (1,17-2,14clark). Các nguyên tố cần chú ý Cu: 2,2clark, Pb: 1,57clark, Mo: 2,53clark, riêng Ag: 2,40clark. Tuy nhiên hiện chưa gặp quặng hóa nội sinh liên quan đến phức hệ. Gặp các đá của phức hệ Đèo Cả xuyên cắt andesit h ệ tầng Đèo B ảo Lộc ở Plei Meo. Trên các khối đều gặp các đá mạch diabas, gabrodiabas phức hệ Cù Mông và đá mạch minet chưa rõ tuổi xuyên cắt. Kết h ợp các cứ liệu cho phép xếp phức hệ vào tuổi Creta (K). Phức hệ Bà Nà(G/Kbn) Trong diện tích khu vực nghiên cứu, các thành tạo granitoid đ ược đ ối sánh với phức hệ Bà Nà của Nguyễn Văn Quyển xác lập (1985) gặp 1 khối granitoid Chư Ya Krei. Chúng lộ nhiều thể nhỏ (0,3-3km 2) dạng đẳng thước, thuộc pha 2 và pha mạch của phức hệ. Ngoài ra còn gặp các kh ối nhỏ rải rác ở tây suối Ya Lon. - Pha 1 (G/Kbn1): lộ ở tây suối Ya Lon khoảng 2km2, thành phần là granit hai mica, granit giàu thạch anh, granit có biotit, c ấu tạo kh ối, ki ến trúc hạt trung-thô nửa tự hình, khá phổ biến kiến trúc dạng porphyr.
  14. 14 - Pha 2 (G/Kbn2):thành phần là granit hai mica, granit sáng màu, granit bị greizen hóa. Đá có cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt nh ỏ, ít dạng porphyr, ban tinh felspat kiềm màu xám trắng. Thành phần khoáng v ật (%): plagioclas 7-42, felspat kali 25-47, thạch anh 25-60, biotit 0-4, muscovit 0-9, khoáng vật phụ: apatit; zircon; ilmenit; orthis; granat; turmalin; casiterit. Chúng bị sericit, chlorit hóa, thạch anh, kiềm hóa, greizen hóa, tạo các đới thạch anh, greizen chứa quặng wonfram và thiếc (Chư Ya Krei). Pha 2 xuyên cắt gây sừng hóa đá tuf ryolit hệ tầng Mang Yang, andesitodacit h ệ tầng Đèo Bảo Lộc. - Pha đá mạch:gồm các đá mạch sáng màu: granit aplit, pegmatoid, granit porphyr và mạch thạch anh, thạchanh-wonframit, thường kèm theo hiện tượng greizen hóa cạnh mạch. Chúng xuyên cắt pha 2,mạch rộng từ vài cm đến vài mét, dài hàng chục mét theo các phương khác nhau. Thành ph ần khoáng vật (%) của granit aplit và granit porphyr: felspat kali 32-62; plagioclas 0-34; thạch anh 27-50; muscovit ít-8, khoáng vật ph ụ: apatit; zircon; ilmenit; granat; turmalin; casiterit. Kết quả phân tích mẫu quang phổ bán định lượng đá gốc cho thấy: các nguyên tố có hệ số tập trung cao là: Cu, Pb (1,01-1,87clark). Đáng chú ý làMo 2,00-2,30clark; W 20,00-24,30clark; Sn 1,22-3,06clark; Ag 2,00- 2,44clark. Rất phù hợp với mẫu phân tích quang phổ trên, tại khối Chư Ya Krei đã phát hiện điểm quặng wonfram, thiếc. Các đá phức hệ Bà Nà xuyên cắt granitoid phức h ệ B ến Gi ằng, ryolit hệ tầng Mang Yang, andesit hệ tầng Đèo Bảo Lộc ở Chư Ya Krei và b ị gabrodiabas phức hệ Cù Mông cắt qua. Về thành phần khoáng vật, thạch hóa và kiến trúc, cấu tạo cũng như tính sinh khoáng (W, Sn, Bi) chúng hoàn toàn giống các đá tại khối granitoid Bà Nà. Vì vậy phức hệ được xếp vào tuổi Creta (K). b. Kiến tạo Uốn nếp - Uốn nếp tuổi Paleozoi sớm: các tổ hợp đá phát triển trong bồn trũng Paleozoi sớm bị biến dạng uốn nếp về sau tạo nên cấu trúc phức nếp lõm cấp I, bị uốn nếp mạnh mẽ với phương trục nếp uốn chủ yếu là kinh tuyến hoặc tây bắc - đông nam, kiểu nếp uốn dạng vỏ, hình thái uốn nếp đảo hoặc nghiêng là chính, góc cắm của các cánh thay đổi từ 30-60o. - Uốn nếp tuổi Trias giữa và Mesozoi muộn : nếp uốn lượn theo các bồn trũng đẳng thước, cấu tạo khối hoặc dòng chảy, có th ế n ằm tho ải 10- 30o đổ về tâm, kiểu vòm, chậu. Đứt gãy Trên diện tích vùng nghiên cứu phát triển 3 hệ thống đứt gãy chính có phương: tây bắc - đông nam,đông bắc - tây nam và phương kinh tuy ến, á kinh tuyến.Trong đó hệ thống phương kinh tuyến hoạt động rất mạnh, t ạo 14
  15. 15 ra các đới cà nát, dập vỡ và được cho là nguồn dẫn và chứa quặng wonfram. - Hệ thống đứt gãy phương tây bắc - đông nam Các đứt gãy phương tây bắc - đông nam phân bố ở phía tây, tây bắc vùng nghiên cứu, chúng cắt qua các trầm tích h ệ t ầng Mô Rai, Mang Yang, các đá biến chất phức hệ Khâm Đức, cắt qua các đá magma xâm nhập phức hệ Đèo Cả và Diên Bình. Chúng bị hệ đứt gãy phương kinh tuyến cắt qua và gây dịch chuyển. Đi theo hệ thống đứt gãy này có các mạch thạch anh, thạch anh-sulfur. - Hệ thống đứt gãy phương đông bắc - tây nam Các đứt gãy phương đông bắc - tây namphát triển hạn chế, phân bố ở khu vực trung tâm và phía tây vùng nghiên cứu, c ắt quacác tr ầm tích h ệ tầng Mô Rai, thành tạo phun trào andesit hệ tầng Đèo Bảo Lộc, ryolit h ệ tầng Mang Yang, granit pha 2 phức hệ Bà Nà và đóng vai trò kênh dẫn để tạo quặng wonfram. - Hệ thống đứt gãy phương kinh tuyến, á kinh tuyến Hệ thống đứt gãy này hoạt động rất mạnh mẽ và phát tri ển rộng rãi trên diện tích vùng nghiên cứu. Đây là hệ đứt gãy trẻ và đóng vai trò quan trọng trong quá trình dẫn và tích tụ quặng wonfram và quặng đa kim. Chúng cắt qua tất cả các thành tạo có mặt trong vùng. Dọc theo đứt gãy thường có các đới kataclazit, thạch anh hóa, greizen hóa chứa khoáng hóa wonfram và sulfur. Ngoài 3 hệ thống đứt gãy chính nêu trên, trong vùng còn gặp các đ ứt gãy phương á vĩ tuyến, nhưng ít phổ biến. Khe nứt Các hệ thống khe nứt phát triển theo thứ tự về tần suất xuất hiện có thể xếp như sau: phương kinh tuyến-á kinh tuyến (350-10 o) phát triển mạnh nhất, phương vĩ tuyến (260-285o), tây bắc - đông nam (310-320o), đông bắc - tây nam (50-60o), đông bắc - tây nam(20-30o) yếu nhất. Các hệ khe nứt mở có đai mạch gabrodiabas phương kinh tuyến, các hệ đai mạch trước Kainozoi chủ yếu phát triển theo phương bắc đông bắc-nam tây nam. 2.2.1.4.Khoáng sản trong vùng. Khoáng sản trong diện tích khu vực nghiên cứu khá đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại thuộc nhóm kim loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao như vàng, wonfram, molybden, khoáng sản đi kèm là thiếc và bismut ít giá trị hơn. Ngoài ra trong vùng còn gặp khoáng hóa sulfur - đa kim (Pb, Zn, Cu) và đá hoa trắng. a. Kim loại màu Chì, kẽm
  16. 16 Khoáng hóa chì kẽm phân bố trong đới dập vỡ có th ạch anh-sulfur và các mạch, hệ mạch thạch anh-sulfur chứa chì, kẽm (bạc, đồng). Ngoài ra còn gặp chì kẽm là khoáng sản đi kèm với vàng tạiđiểm khoáng hóa vàng (chì, đồng) Chư Hing và đi kèm với wonfram tại biểu hi ện khoáng sảnwonfram Chư Ya Krei. Khoáng hóa chì, kẽm có quy mô nhỏ, ít có triển vọng. - Điểm khoáng hóa chì-kẽm Chư Moor: là các đới dập vỡ có hệ mạch thạch anh-sulfur chứa chì-kẽm, dày 0,5-10m, phương kinh tuyến. Thành phần khoáng vật quặng: pyrit, sphalerit, galenit (chalcopyrit). K ết qu ả phân tích mẫuhấp thụ nguyên tử: Pb 24.470g/t; Zn 8.000g/t; Cu 420g/t. - Điểm khoáng hóa chì-kẽm Chư Hing: là hệ mạch thạch anh-sufur chứa chì, kẽm dày 3-80cm. Thành phần khoáng vậtquặng: galenit, sphalerit, pyrit (vàng) nằm xâm tán, dạng ổ đặc sít, hàm lượng 10-20%. Kết quả phân tích hấp thụ nguyên tử: Pb 2.953g/t; Zn 38.680g/t; Cu 432g/t. b. Kim loại ít và hiếm Molybden Điểm khoáng hóa molybden Chư Kram Lo:thuộc địa phận xã Mô Rai. Mạch thạchanh-molybdenit chứa sulfur xuyên đá granit pha 2, phức hệ Định Quán (GDi/K1đq2), dày 0,5-10cm, dài quan sát 2m. Mẫu hóa cho hàm lượng Mo 5,54%; Thành phàn khoáng vật quặng theo kết quả mẫu khoáng t ướng (%): molybdenit 2-3; pyrit 2-3; sphalerit ít-1; ít chalcopyrit, arsenopyrit. Wonfram Trong diện tích khu vực nghiên cứu, quặng wonfram (thiếc, bismut, chì, bạc) mới phát hiện đượcở khu vực Chư Ya Krei,thuộc xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy.Quặng wonfram nằm trong các đới đá biến đổi của các đá granit thuộc pha 2, phức hệ Bà Nà (G/K bn2). Quặng có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độtrung bình-cao (195-326oC). Tổ hợp khoáng vật: wonframit (casiterit), pyrit, chalcopyrit, bismutin, bismuthit, topaz, hematit, ilmenit (fluorit). Kết quả công tác tìm kiếm đã xác định được 10 thân quặng phân bố thành 2 đới khoáng hóa wonfram, đi kèm wonfram có thiếc, bismut. Thiếc Khoáng hóa thiếc chỉ gặp đi kèm với wonfram ở Chư Ya Krei. Trên diện tích nghiên cứu đã khoanh định được 1 vành phân tán địa hóa bùn đáy nguyên tố thiếc, hàm lượng dị thường bậc 1 đến bậc 3, diện tích 2-4km 2, bao trùm điểm khoáng hóa molybden Chư Kram Lo. Bismut Khoáng hóa bismut ít có triển vọng. Trong diện tích khu vực nghiên cứu chỉphát hiện được điểm khoáng hóa bismut Chư Hing. Ngoài ra còn gặp bismut là khoáng sản đi kèm với quặng wonfram tại Chư Ya Krei. Điểm khoáng hóa bismut Chư Hing: thuộc địa phận xã Mô Rai. Khoáng hóa bismut nằm trong đới cà nát của đá granit pha 3 ph ức h ệ Đèo Cả (G/Kđc3). Đới rộng 6m, chiều dài quan sát vài chục mét theo ph ương 16
  17. 17 340-160o. Đá ven rìa mạch bị thạch anh hóa. Thành phần khoáng vật quặng: pyrit, sheelit, bismutin.Kết quả phân tích mẫu hấp th ụ nguyên tử (g/t): Bi 458; Au
  18. 18 1. KẾT LUẬN Khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực hành chính thuộc địa phận huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum có diện tích khoảng 380 km2. Đây là khu vực có cấu trúc địa chất khá phức tạp, được cấu thành từ các thành tạo của hệ tầng Mô Rai (PZ1mr), hệ tầng Cư Brei (D1cb), hệ tầng Mang Yang (T2my), hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3đbl), hệ tầng Nha Trang (Knt) với sự có mặt phong phú của các thành tạo magma xâm nhập phân dị dài, thành phần từ bazơ đến acid. Từ kết quả nghiên cứu cho phép rút ra một số kết luận sau: 1.1. Trong khu vực Plei Meo, quặng hóa wonfram có liên quan mật thiết với magma xâm nhập pha 2 phức hệ Bà Nà và các hoạt động phá hủy kiến tạo gây nên bởi các đứt gãy phương kinh tuyến, á kinh tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quặng wonfram có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình - cao (195 ÷ 326oC), thuộc kiểu khoáng wonframit - thạch anh.Tổ hợp khoáng vật quặng gồm: wonframit (casiterit), pyrit, chalcopyrit, bismutin, bismuthit, topaz, hematit, ilmenit (fluorit). 1.2. Biến đổi cạnh mạch chủ yếu là thạch anh hóa và greizen hóa, đôi chỗ là pyrit hóa, clorit hóa. Các biến đổi cạnh mạch, đặc biệt là hiện tượng greizen hóa trong khu vực có ý nghĩa nhất định trong việc công tác tìm kiếm. Cấu tạo quặng đặc trưng là xâm tán, mạch xâm tán, vi mạch lấp đầy. Kiến trúc phổ biến và đặc trưng là hạt tha hình, nửa tự hình. 1.3. Trong diện tích khu vực nghiên cứu đã khoanh định được 2 đới khoáng hóa bao gồm 10 thân quặng.Các thân quặng và đới khoáng hoá chủ yếu kéo dài theo phương kinh tuyến, á kinh tuyến và có hình thái kích 18
  19. thước, độ sâu thế nằm khác nhau. Đây là những yếu tố quyết định đến lựa chọn phương pháp tìm kiếm, thăm dò và khai thác mỏ sau này. 1.4. Xác định mối liên quan của các dị thường địa hóa, địa vật lý, vành phân tán trọng sa với các đối tượng khoáng sản bao gồm: quặng wonfram, quặng thiếc, bismut, vàng, khoáng hóa sulfur - đa kim. Phát hiện đối tượng chứa quặng hóa W, Au, nhất là khoáng hóa vàng có quy mô lớn về diện phân bố. 1.5. Sử dụng phương pháp toán logic, kết hợp phương pháp toán địa chất với phương pháp tỷ trọng thông tin và hệ thống GIS, áp dụng phương pháp dự báo sinh khoáng định lượng cho phép dự báo vùng nghiên cứu có tiềm năng tài nguyên wonfram khá lớn. Tổng tài nguyên dự báo đánh giá đạt khoảng 24.780tấn WO3 cấp 334a + 334b, quặng hóa tập trung chủ yếu ở khu vực Chư Ya Krei. 2. Kiến nghị 2.1. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cho thấy quặng hóa wonfram khu vực Plei Meo rất có tiềm năng. Vì vậy, cần đầu tư đánh giá một cách toàn diện nhằm làm sáng tỏ đặc điểm và tiềm năng quặng hóa wonfram cho toàn khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở đó lựa chọn các diện tích có triển vọng để có kế hoạch đầu tư với các mức độ nghiên cứu khác nhau ở từng khu vực cho phù hợp. Trước hết cần đầu tư thăm dò vào khu vực Chư Ya Krei,đây là khu vực đã được nghiên cứu khá chi tiết, đã xác định và khoanh nối được một số thân quặng wonfram có giá trị công nghiệp nhằm sớm đưa mỏ vào khai thác và phát triển cơ sở chế biến khoáng sản. 2.2. Trong quặng hóa wonfram còn có các khoáng sản đi kèm với hàm lượng khá tốt (Sn, Bi, Cu, sulfur - đa kim) nhưng lại chưa được chú ý nghiên cứu một cách đầy đủ. Vì vậy cần phải được tiếp tục nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ nhằm khẳng định giá trị công nghiệp của mỏ.
  20. 20 4 . Tài liêu tham khảo 1. Đỗ Văn Chi và nnk (1998). Báo cáo lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Đăk Lêi- Khâm Đức. Trung tâm thông tin lưu trữ địa chất, Tổng cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. 2.Trần Duân, Thân Đức Duyện (đồng chủ biên) và nnk(2006). Báo cáo lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Kon Tum. Trung tâm thông tin lưu trữ địa chất, Tổng cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. 3.Thân Đức Duyện, Nguyễn Cảnh Biên (đồng chủ biên) và nnk(2006). Báo cáo kết quả điều tra chi tiết khoáng sản wonfram vùng Chư Ya Krei. Trung tâm thông tin lưu trữ địa chất, Tổng cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. 4.Hoa T.T., Borisenko A.S., Anh T.T., Izokh A.E., Phuong N.T.(2006). Cu-Mo-Au porphyr type in Sa Thay area in the west of Kon Tum block. Journal of Geology (Ha Noi). Series B, No 28: 71-83. 5.Đặng Xuân Phong, Đặng Xuân Phú (2006). Cẩm nang địa chất Tìm kiếm - Thăm dò khoáng sản rắn, tr. 246. Nhà xuất bản Xây dựng. 6.Nguyễn Xuân Sơn (Chủ biên) và nnk(2000). Báo cáo bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 và đo trọng lực tỷ lệ 1:100.000 vùng Kon Tum. Trung tâm thông tin lưu trữ địa chất, Tổng cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. 7. Nguyễn Khắc Vinh và nnk(2010). Cẩm nang công nghệ địa chất, tr.602. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ. 8. Nguyễn Chí Vũ (Chủ biên) và nnk (2009). Đề án thăm dò wonfram khu vực Chư Ya Krei, xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Trung tâm thông tin lưu trữ địa chất, Tổng cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. 20

Download

capchaimage
Xem thêm
Thông tin phản hồi của bạn
Hủy bỏ