Xem mẫu

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA NGOẠI NGỮ --------------- BÀI KIỂM TRA QUÁ TRÌNH PHÂN BIỆT THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT (CNDV) VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM (CNDT) LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Môn học: Triết học Mác – Lênin Mã môn học: SH700000 GV: TS.GVC. Trần Quốc Hoàn HV: Nguyễn Phước Diệu Hằng 202818003 Tháng 8, 2021
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA NGOẠI NGỮ --------------- BÀI KIỂM TRA QUÁ TRÌNH PHÂN BIỆT THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT (CNDV) VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM (CNDT) LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Môn học: Triết học Mác – Lênin Mã môn học: SH700000 GV: TS.GVC. Trần Quốc Hoàn HV: Nguyễn Phước Diệu Hằng 202818003 Tháng 8, 2021 2
  3. ĐÁNH GIÁ Giảng viên Điểm (Ký và ghi rõ họ tên) (Bằng số) (Bằng chữ) Nhận xét của Giảng viên: ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… 3
  4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................5 1. Thế giới quan .....................................................................................................6 1.1. Định nghĩa ....................................................................................................6 1.2. Nguồn gốc ....................................................................................................6 1.3. Nội dung và hình thức ..................................................................................6 1.4. Kết cấu .........................................................................................................7 1.5. Vai trò...........................................................................................................8 2. Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm ..........................................8 2.1. Thế giới quan duy vật (CNDV) ...................................................................9 2.2. Thế giới quan duy tâm (CNDT) ...................................................................9 2.3. Phân biệt Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm ......................10 3. Vai trò của Triết học đối với đời sống xã hội................................................11 3.1. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận ................................................11 3.2. Vai trò đối với các khoa học cụ thể và đối với tư duy lý luận ...................12 3.3. Vai trò của Triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa ....................................12 KẾT LUẬN ..............................................................................................................14 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................15 4
  5. MỞ ĐẦU Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp. Triết học nghiên cứu thế giới bằng một phương pháp của riêng mình, khác với mọi khoa học cụ thể, nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra hệ thống các quan niệm chỉnh thể đó. Triết học có hai khái niệm cơ bản hay được nhắc đến, đó là: Thế giới quan duy vật (Chủ nghĩa duy vật) và Thế giới quan duy tâm (Chủ nghĩa duy tâm). Hai trường phái này tồn tại song song và đối lập nhau trong việc tìm ra lý giải cho câu hỏi vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào đóng vai trò quyết định. Triết học có vai trò là hạt nhân của thế giới quan nghĩa là Triết học làm cho thế giới quan phát triển ngày càng mang tính tự giác trên cơ sở của một quan điểm nhất định. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của các thế giới quan đối lập nhau. Cho nên cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong Triết học biểu hiện sự đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau. Lịch sử chứng minh rằng chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp và tầng lớp tiến bộ trong xã hội, góp phần đấu tranh chống áp bức và tôn giáo. Ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được các giai cấp thống trị sử dụng để biện hộ cho đường lối thống trị của mình. Mục tiêu của bài viết này nhằm phân biệt Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm, đồng thời làm rõ vai trò của Triết học đối với đời sống xã hội. Bài viết bắt đầu bằng việc giới thiệu về Thế giới quan và một số khái niệm cơ bản liên quan đến Thế giới quan. Tiếp đến, trình bày sơ lược về Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm trước khi lập bảng phân biệt sự khác nhau giữa hai trường phái này. Cuối cùng, bài viết nêu rõ vai trò của Triết học trong đời sống xã hội thông qua việc phân tích vai trò thế giới quan, phương pháp luận, vai trò của Triết học đối với các khoa học cụ thể, với việc phát triển tư duy lý luận cho con người cũng như vai trò của Triết học trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. 5
  6. 1. Thế giới quan 1.1. Định nghĩa Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, bản thân, con người và vị trí của con người trong thế giới đó. Nó đóng vai trò định hướng đối với toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn cho đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân, xác định lý tưởng, hệ giá lối sống cũng như nếp sống của mình. Khái niệm thế giới quan thể hiện cái nhìn bao quát về thế giới trong ý thức của mỗi chủ thể bao gồm thế giới bên ngoài, con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới đó. Đây chính là kim chỉ nam cho thái độ, hành vi của con người đối với thế giới bên ngoài. 1.2. Nguồn gốc Nguồn gốc của thế giới quan ra đời từ sự sống. Tất cả các hoạt động của con người đều bị chi phối bởi thế giới quan nhất định. Yếu tố cấu thành nên thế giới quan đó chính là tri thức, lý chí, tình cảm và niềm tin; chúng sẽ liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất, chi phối đến nhận thức và hành động thực tiễn của con người. Các thời đại lịch sử khác nhau, do trình độ phát triển sản xuất và trình độ nhận thức của con người khác nhau, nên thế giới quan của mỗi thời đại cũng khác nhau. Vì vậy thế giới quan là hiện tượng xã hội phức tạp, có nguồn gốc từ thực tiễn xã hội. Thế giới quan là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người, nó thay đổi trong quá trình phát triển xã hội. 1.3. Nội dung và hình thức Nội dung của thế giới quan bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có thể chia thành ba lĩnh vực cơ bản là:  Các đối tượng bên ngoài chủ thể  Những quá trình diễn ra trong bản thân chủ thể  Quan hệ giữa chủ thể với các đối tượng bên ngoài chủ thể Thế giới quan gồm hai yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin, trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã chuyển hóa thành niềm tin thúc đẩy hành động của con người. 6
  7. Hình thức thể hiện của thế giới quan có thể bằng các quan điểm, quan niệm khái quát nhất định nào đó, cũng có thể bằng một hệ thống lý luận với các khái niệm, phạm trù quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ: hệ thống Triết học, hệ thống lý luận chính trị, kinh tế… 1.4. Kết cấu Thế giới quan có kết cấu phức tạp. Đó là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, lý trí và tình cảm. Quan hệ giữa thế giới quan và tri thức là quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận. Thế giới quan là cái toàn thể bao hàm tri thức. Tri thức là bộ phận hợp thành của thế giới quan. Tri thức tự bản thân nó chưa phải là thế giới quan. Tri thức là sự hiểu biết của con người về một lĩnh vực nhất định của thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người. Tri thức có nhiều loại khác nhau: Tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tự bản thân nó tri thức chưa phải là thế giới quan. Tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi nó kết hợp với các yếu tố lý trí, tình cảm, chuyển thành niềm tin của con người. Chỉ khi biến thành niềm tin, tri thức mới trở nên sâu sắc và bền vững, và mới trở thành cơ sở cho hoạt động của con người. Ví dụ khoa học đã chỉ ra xu hướng phát triển của xã hội loài người là tiến lên chủ nghĩa xã hội, con đường phát triên của xã hội Việt Nam hiện nay là đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên nếu tri thức này không trở thành niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể bền vững, không thể là cơ sở cho hoạt động thực tiễn của hàng triệu người. Niềm tin là một trạng thái tinh thần thể hiện ý chí quyết tâm cao trong hoạt động của Cồn người nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định nào đó. Niềm tin có vai trò quan trọng trong đời sống của con người: Nó có thể làm tăng thêm sức lực của con người, giữ vững ý chí quyết tâm, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho niềm tin đó. Trong thế giới quan còn có sự thống nhất giữa lý trí, trí tuệ và tình cảm. Lý trí, trí tuệ là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin. Thế giới quan thể hiện trình độ tương đối cao của lý trí, trí tuệ. Nhưng lý trí đó không tách rời tình cảm. Tình cảm là một hình thức phản ánh đặc biệt mối quan hệ giữa con người với thế giới và giữa con 7
  8. người với nhau, thể hiện thái độ của con người về những tác động của thế giới xung quanh đối với bản thân. Tình cảm củng cố thêm lý trí, làm cho lý trí có chiều sâu và có sức mạnh. Như vậy, thế giới quan không phải là tri thức, niềm tin, tình cảm đơn lẻ, mà là sự tổng hợp toàn bộ hiểu biết và kinh nghiệm sống của con người. Thế giới quan là một hiện tượng xã hội phức tạp. 1.5. Vai trò Một là, nhờ xác định được những mối liên hệ chung của thế giới và vị trí của con người đối với thế giới nên thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Nói cách khác, thế giới quan giúp con người có thể định hướng cho cuộc sống của mình bằng việc xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Hai là, nhờ các tri thức chung về thế giới và về bản thân con người, cùng với niềm tin và tình cảm được củng cố trong thế giới quan, nên thế giới quan có thể chi phối hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người ở mức độ khá sâu sắc. Ví dụ, nếu hiểu đúng ý nghĩa cuộc sống, sẽ giúp con người có ý chí và quyết tâm tích cực hoạt động vì sự tiến bộ của xã hội và của bản thân. Ngược lại, nếu hiểu không đúng ý nghĩa cuộc sống sẽ làm giảm ý chí, cản trở tính chủ động, tích cực trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, thậm chí còn dẫn con người đến các hoạt động phá hoại, thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội. Điều đó cản trở sự tiến bộ xã hội. Trong thời đại ngày nay khi các mối quan hệ xã hội đã trở nên hết sức phức tạp, tính chủ động của con người, của chủ thể ngày càng được tôn trọng, được tự do phát triển, thì vai trò của thế giới quan cũng càng lớn hơn. Hình thành và phát triển thế giới quan khoa học là một đòi hỏi tất yếu, đồng thời là một trong những chỉ tiêu quan trọng của quá trình hình thành nhân cách con người hiện nay. 2. Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của Triết học gắn liền với việc phân chia các học thuyết Triết học thành hai trường phái Triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. 8
  9. 2.1. Thế giới quan duy vật (CNDV) Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất. Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. - Chủ nghĩa duy vật cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hạn chế của nó là còn mang tính trực quan, trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể. Ví dụ như quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit... - Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII: Do ảnh hưởng của Cơ học cổ điển nên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc - phương pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Ví dụ như quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII. - Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết Triết học trước đó và vận dụng các thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy. 2.2. Thế giới quan duy tâm (CNDT) Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức. Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu: - Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá 9
  10. nhân, của chủ thể. Beccơly đưa ra luận điểm "Tồn tại nghĩa là được cảm nhận.” (esse est percipi) và coi toàn bộ thế giới chỉ là tổ hợp các cảm giác của con người - Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới. Plato khẳng định rằng các thực thể tinh thần đó là "có thực". Để suy ngẫm về thế giới, Hegel đã bao trùm lên nó một hệ thống phạm trù hay đúng hơn là quan niệm lý trí về thế giới. 2.3. Phân biệt Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm Nội dung TGQ duy vật TGQ duy tâm Loại hình Là thế giới quan khoa học Là thế giới quan tôn giáo Nguồn gốc xã hội Các lực lượng xã hội, các Các lực lượng xã hội, các giai giai cấp tiến bộ cấp phản tiến bộ Nguồn gốc nhận Mối liên hệ với khoa học Tuyệt đối hóa một mặt, tách ý thức thức khỏi thế giới vật chất Quan điểm Vật chất có trước, ý thức có Ý thức có trước, vật chất có sau, vật chất quyết định ý sau, ý thức sản sinh ra tự thức. nhiên. Nhận thức và giải Chứng minh Đặt giải thiết quyết vấn đề Phương pháp luận Biện chứng Siêu hình Xem xét sự vật, sự việc và Xem xét sự vật, sự việc và hiện hiện tượng trong mối quan tượng một cách phiến diện, cô hệ ràng buộc lẫn nhau, cũng lập, không vận động, không như trong sự vận động và phát triển. phát triển không ngừng của Áp dụng máy móc đặc tính của sự vật, sự việc và hiện sự vật, sự việc và hiện tượng tượng. này lên một sự vật, sự việc và hiện tượng khác. 10
  11. Vai trò Đóng vai trò tích cực trong Là điểm tựa về lý luận của các sự phát triển của khoa học; lực lượng xã hội lỗi thời, kìm nâng cao vai trò, vị thế của hãm sự phát triển của xã hội. con người đối với tự nhiên và sự tiến bộ của xã hội. 3. Vai trò của Triết học đối với đời sống xã hội 3.1. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận Vai trò thế giới quan Thế giới quan là hệ thống quan điểm chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề hình thành nhân sinh quan tích cực, tiến bộ. Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng: Triết học là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực để con người nhận dạng thế giới, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình; Triết học nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người, là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học; Triết học giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình. Vai trò phương pháp luận Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, hướng dẫn con người tìm tòi, phát hiện cái mới, cái đúng. Phương pháp luận giúp con người vận dụng các phương pháp hay nhất trong nhận thức và thực tiễn: Triết học trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, những quy tắc, những yêu cầu đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn; Triết học trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật. 11
  12. 3.2. Vai trò của Triết học đối với các khoa học cụ thể và đối với tư duy lý luận Là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cụ thể Triết học giúp các khoa học xác định đúng vị trí và phương hướng hoạt động của mình; Triết học giải phóng khoa học khỏi sự ràng buộc của thế giới quan và phương pháp luận duy tâm, siêu hình, sai lầm của các hệ thống Triết học lỗi thời. Là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể Muốn thúc đẩy khoa học tự nhiên phát triển các nhà khoa học tự nhiên phải tự giác hoạt động theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng; Các khái quát Triết học ảnh hưởng đến sự phát triển của các tư tưởng khoa học khi chúng chỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triển có thể có. Triết học giúp rèn luyện và phát triển tư duy lý luận cho con người Tư duy lý luận là hình thức tư duy có tính hệ thống và tính khái quát cao hơn tư duy kinh nghiệm. Tư duy lý luận có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, như Ăngghen nói: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Nhưng tư duy lý luận không phải là cái có sẵn, tồn tại ở đâu đó trước con người, mà được hình thành trong quá trình con người hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức. Ăngghen viết: “Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi. Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ Triết học thời trước.” 3.3. Vai trò của Triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa Triết học giúp cho con người có được cái nhìn tổng quát, có cách lý giải đúng đắn về chiều hướng và về những biến động trên thế giới, về xã hội, về bản thân mình thì chính Triết học đã giúp con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố sự quyết tâm hành động để hoàn thành mục tiêu đã đề ra với kết quả cao nhất. 12
  13. Triết học sẽ giúp con người rèn luyện khả năng tư duy mềm dẻo, nhạy bén, vừa là để tự nhận thức bản thân mình, hiểu được cả những khả năng vốn có lẫn cả những hạn chế của mình để tự vươn lên, vừa là để nhận thức đúng đắn và chính xác hoàn cảnh khách quan và dự báo được những sự biến động nhanh chóng của xã hội. Đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Triết học vừa rút ra các bài học tổng quát hơn, chung hơn, sâu sắc hơn nhằm tìm ra cái tất yếu ở trong đó, tìm ra cái đóng vai trò chi phối toàn bộ quá trình, cái nhất thiết phải được thực hiện. Để công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, cần có cách tiếp cận Triết học chứ không chỉ dừng lại ở cách tiếp cận kinh tế hay kỹ thuật đơn thuần. Chính ở điểm này, việc dựa vào Triết học và các khoa học xã hội và nhân văn là vô cùng cần thiết, vì những kết luận do các khoa học này rút ra không chỉ là sự đúc kết các giá trị lịch sử, mà còn là sự đối chiếu, sự phân tích - so sánh với hiện tại. 13
  14. KẾT LUẬN Như vậy, cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất. Trong lịch sử Triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển tư duy Triết học. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội. Tuy những quan điểm trong lịch sử Triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy cho cùng, Triết học chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử Triết học cũng là lịch sử đấu tranh của hai trường phái này. Triết học giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi các quan điểm, các phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tư duy sáng tạo của mình, phòng tránh những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và của phương pháp tư duy siêu hình. Đối với các khoa học khác, Triết học đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển các khoa học. Nó định hướng cho các khoa học khác trong việc xác định cơ sở lý thuyết của bộ môn, giúp cho các khoa học khác khái quát những thành tựu của mình. Ngược lại các khoa học khác cung cấp tài liệu cho Triết học. Do vậy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận Triết học và các nhà khoa học để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức thế giới của con người. Cũng như trong quá khứ, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, Triết học không mất chỗ đứng của nó dù là trong phạm vi một dân tộc hay trên bình diện nhân loại. Triết học giúp con người có được cách nhìn nhận đúng đắn thế giới, giúp con người có được khả năng đánh giá những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề. Đồng thời, Triết học vạch ra những nghịch lý mà con người đang phải đối diện trong bối cảnh toàn cầu hoá, góp phần chỉ ra lối thoát khỏi những nghịch lý ấy. Nó vẫn vừa thực hiện chức năng giải thích thế giới và vừa góp phần biến đổi thế giới hướng tới mục tiêu tất cả là vì con người và hạnh phúc của con người trong kỷ nguyên toàn cầu hoá. 14
  15. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đoàn Quang Thọ (Chủ biên), (2007), Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. 2. Trần Thiên Tú, “Phương pháp, phương pháp luận và vai trò của phương pháp luận Triết học Mác Lênin”, http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong- khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/phuong-phap-phuong-phap-luan-va-vai-tro- cua-phuong-phap-luan-triet-hoc-mac-lenin-162.html 3. Website: https://hoc360.net/dac-diem-va-vai-tro-cua-triet-hoc/ 4. Website: http://philosophy.vass.gov.vn/chinh-tri-xa-hoi/Ve-vai-tro-cua-triet-hoc- trong-giai-doan-toan-cau-hoa-hien-nay-132.0 5. Website: https://sanluat.com/triet-hoc-la-gi-vai-tro-cua-triet-hoc-trong-doi-song- xa-hoi-ra-sao/. 6. Website http://www.triethoc.info/2014/03/chu-nghia-duy-vat-va-chu-nghia-duy- tam.html 7. Website: https://trithuclyluan.com/chuc-nang-vai-tro-cua-triet-hoc-mac-lenin- trong-doi-song-xa-hoi-nhu-the-nao/. 8. Website: https://hoc360.net/the-gioi-quan-va-vai-tro-cua-the-gioi-quan/ 15
nguon tai.lieu . vn