Xem mẫu

  1. 50 3 (43) - 2019: NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRUNG HOA ĐẾN GIA GIÁO HUẾ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN QUA HỆ THỐNG THƯ TỊCH Nguyễn Thị Tâm Hạnh* Tóm tắt: Là kinh đô của nhà nước quân chủ cuối cùng của Việt Nam, Huế được biết đến là nơi bảo lưu nhiều yếu tố cung đình vốn mang đậm màu sắc Nho giáo, trên nhiều phương diện: lễ nghi, kiến trúc, âm nhạc, ẩm thực, v.v... và đặc biệt là nếp giáo dục gia đình. Bên cạnh những biểu hiện trong thực hành gia giáo thì hệ thống thư tịch cổ, nhất là các trước tác gia huấn, gia quy và các bản hương ước, chế định của chính quyền là những di sản có giá trị được gìn giữ cho đến ngày này, ở tư gia lẫn các thư viện lớn. Thông qua những tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy rằng sự ảnh hưởng của Trung Hoa, trực tiếp hơn là Nho giáo, đến gia giáo của người Huế dưới triều Nguyễn là điều không thể phủ nhận. Song điều đáng nói là Nho sĩ Việt không đơn thuần mượn y nguyên gia giáo Minh, Thanh mà chủ động lựa chọn và dành nhiều công phu để diễn Nôm và biên soạn các trước tác cho riêng mình; tạo nên vốn di sản có giá trị, có bản sắc riêng gắn với văn hóa của dân tộc. Từ khóa: Gia giáo, Huế, thư tịch, triều Nguyễn, Trung Hoa. 1. Đặt vấn đề * đầu cuộc xâm lăng và thôn tính nước ta. An Dương Vương mất nước vào tay Triệu Đà. Vị Xuất phát từ sự tiếp giáp địa lý; giao lệnh quan này đã nhân việc nhà Tần suy vong, thương và nhất là quá trình xâm lược về mặt tự xưng đế, sau chấp nhận làm “phiên vương” chính trị - quân sự, chính sách đồng hóa văn hóa trong suốt 1000 năm đã dẫn đến sự chi nhưng lại gọi mình là “Man Di đại trưởng lão phối tất yếu của Trung Hoa đối với người Việt phu”, đòi đặt ngang bằng nhà Hán. Sự xâm trên tất cả các phương diện tổ chức đời sống nhập của văn hóa Hán vào Nam Việt lúc bấy xã hội, bao gồm gia giáo. Sự chi phối này giờ, do đó, hầu như không đáng kể, như Triệu được thể hiện ngay ở bản thân từ “gia giáo” Đà đã nói với Lục Giả - sứ giả nhà Hán (139 (家教) - một từ Việt gốc Hán. tr.CN): “Tôi ở đất này lâu ngày quên mất cả lễ nghĩa”; "Ở đất Việt này không ai đủ để nói Cùng với những biểu hiện trực tiếp trên chuyện được” (1); hay Hoài Nam Vương mặt ngôn ngữ với lớp từ vựng liên quan đến [Lưu] An tâu với Hán Vũ Đế (135 tr.CN) về gia giáo (từ ngữ liên quan đến đạo lý, quan hệ việc dân “không theo pháp độ”; “không nhận gia đình, các chuẩn mực…), sự ảnh hưởng của chính sóc” (2). Chỉ sau thời điểm 111 tr.CN, Trung Hoa đối với gia giáo của người Việt khi nhà Hán thiết lập 3 quận Giao Chỉ, Cửu còn được thể hiện qua các sự kiện lịch sử - Chân và Nhật Nam [nay thuộc Việt Nam] văn hóa. cùng với 6 quận khác (Nam Hải, Thương Bắt đầu từ thế kỷ thứ II tr. CN, như Đại Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Châu Nhai, Đạm Việt sử ký toàn thư đã viết, nhà Tần đã phái 50 Nhĩ - nay thuộc Trung Hoa) ở Nam Việt; “đặt vạn “binh phải tội đồ” xuống Nam Việt, bắt Thứ sử, Thái thú”; “dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào”; “cho học sách *TS. Phân viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế. ít nhiều, hơi thông hiểu lễ hóa’; “dựng nhà
  2. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung Hoa… 51 học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa” (3), thì mới tạo hơn với Nho giáo. Ở Trung Hoa, giáo dục văn nên sự tiếp xúc thực sự giữa văn hóa Việt với hóa không còn dành riêng cho tầng lớp sĩ tộc. Hán. Ở thời kỳ này, Hán Vũ Đế thực hành Ở Giao Chỉ/An Nam, Việt Nam tập lược, chính sách “dẹp bỏ bách gia, độc tôn Nho quyển nhị, mục nói về Danh hoạn (bản khắc học” (4), Nho giáo theo đó cũng bắt đầu xâm 1887) đã nhắc đến Vương Phúc Trù "làm nhập mạnh mẽ vào nước ta. Sự ảnh hưởng này chức lệnh ở Giao Châu, gây dựng giáo hóa, ngày càng sâu sắc, đặc biệt khi Sĩ Nhiếp được nhân dân tôn đức, đến nay vẫn còn thờ phụng, Hán Linh Đế cử làm Thái thú Giao Châu (187 gọi là Đền Vương phu tử” (8). Tân Đường thư - 226), đã ra sức truyền bá văn hóa phương cũng đề cập đến một nhân vật nổi bật khác là Bắc, làm cho nước ta “thông thi thư, học lễ Kiền Châu Thứ sử, dưới Nguyên Hòa, “đến làm nhạc, làm một nước văn hiến” (5). Cần nói Đô hộ ở An Nam, làm quan thanh liêm không thêm rằng, trong sự phân chia đẳng cấp thời nhũng nhiễu, dùng Nho thuật để nắn thói tục, Đông Hán, gia giáo là tiêu chí quan trọng để chính sự được tốt đẹp, dân man được yên ổn” phân biệt nhà thường dân với sĩ tộc, nên xã (9). Chữ Hán và Nho thuật được phổ biến rộng hội “coi trọng việc tề gia, coi trọng việc giáo khắp hơn. Tuy nhiên, sự rộng khắp này chủ yếu dục văn hóa trong gia tộc và tuyên dương đạo là trong tầng lớp thống trị, quan lại, các “kiều hiếu, phát triển thành gia học đặc biệt và môn nhân” thuộc nhiều thành phần khác nhau từ phong thanh cao” (6). Ngay từ đầu thời Đông phương Bắc di cư đến. Mặc dù vậy, quá trình Hán, ngoài các nội dung liên quan đến gia tiếp xúc lâu dài thông qua cộng cư, xen cư và cả giáo trong Tứ thư và Ngũ kinh (tập trung ở Lễ hôn nhân giữa người Hán và người Việt đã tạo ký và Luận ngữ), Mã Viện - người đã đến dập thành bộ phận người Hán Việt hóa ngày càng tắt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (43) và đông đảo. Họ cũng chính là tầng lớp tinh hoa lưu lại đất Giao Chỉ 3 năm - cũng là tác giả góp phần quan trọng trong xây dựng nền văn của một số sách gia huấn, như: Giới huynh tử hóa theo bản sắc riêng của người Việt. nghiêm, đôn thư. Cùng thời, còn có Ban Chiêu Khác với thời kỳ Bắc thuộc trước thế kỷ (45-116), em gái của Ban Cố (tác giả Hán thứ X, sau chiến thắng của Ngô Quyền (938) thư), viết sách Nữ giới... Cuối thời Đông Hán, trên sông Bạch Đằng, việc tiếp nhận văn hóa cùng với “danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang Trung Hoa của các triều đại Đại Việt diễn ra nương tựa có hàng trăm người” (7) nhờ Sĩ một cách chủ động trên cương vị của một Vương “trọng kẻ sĩ”, gia giáo của tầng lớp sĩ quốc gia có chủ quyền. Ban đầu, hai triều đại tộc Trung Nguyên theo đó cũng đã đến Nam Lý - Trần chọn Phật giáo làm nền tảng tư Việt và ghi dấu từ khoảng thế kỷ thứ II. tưởng chính trị như một cách tạo bản sắc riêng Bắt đầu thời Tùy - Đường, khi Tùy Văn Đế của dân tộc, tách biệt với ý thức hệ Tống Nho, (581- 604) bãi bỏ Cữu phẩm quan nhân pháp nhằm thể hiện vị thế độc lập tự chủ của mình. (chế độ thụ hưởng đặc quyền chính trị của Tuy nhiên, thể chế chính trị quân chủ - trung tầng lớp sĩ tộc), thực thi khoa cử chọn hiền tài, ương tập quyền vẫn tuân theo mô hình Trung sự ảnh của Nho giáo đến vùng Giao Chỉ ngày Hoa. Nho giáo cũng quay lại vị trí độc tôn dưới càng sâu rộng. Hai anh em Khương Công Phụ, thời Lê - Nguyễn. Đây cũng là hai triều đại mà Khương Công Phục người Cửu Chân (này là ảnh hưởng gia giáo trên nền tảng Nho thuật của tỉnh Thanh Hóa) đỗ tiến sĩ và làm quan ở kinh Trung Hoa được thể hiện một cách rõ nét nhất. đô Tràng An của nhà Đường (thế kỷ VIII) là Với vai trò trung tâm của xứ Đàng Trong dưới một minh chứng. Việc Tùy Đường cho phép thời chúa Nguyễn và là kinh đô của nhà thường dân có thể xuất sĩ làm quan cũng là cơ Nguyễn, những biểu hiện này càng dễ nhận hội và động lực để giới bình dân tiếp cận gần diện trên đất Huế.
  3. 52 3 (43) - 2019: NGHIÊN CỨU VĂN HÓA 2. Biểu hiện sự chi phối của tư tưởng Trung Hán thư, Cựu Đường thư, Tân Đường Thư, Hoa đến gia giáo Huế dưới triều Nguyễn Tùy thư). Đặc biệt, trong cải cách lần này, Nguyễn Đăng Tuân chú ý đến các sách tiểu 2.1. Hệ thống sách học cho trẻ em và các học để dạy cho các hoàng tử “tuổi còn ấu tác phẩm liên quan đến gia giáo thơ (…) biết nghi tiết tiến, lui, ứng đối”, 2.1.1. Sách và các tác phẩm có nguồn gốc như: Tiểu học tập chủ của Lưu Tử Trừng từ Trung Hoa đời Tống, Tiểu học vận ngữ của La Trạch Trong bối cảnh gia thục và giáo dục học Nam đời Thanh, Khai tâm bửu giám (được hiệu chưa hoàn toàn tách biệt, sách học/đọc cho là soạn thảo dưới đời Tống). Riêng sách cho thanh thiếu niên, đặc biệt là ấu học/tiểu Khai tâm bửu giám với tên đầy đủ là Tân học, có thể xem là một dạng sách gia giáo. Hệ toản thiếu tiểu Khai tâm bửu giám - hiện thống kinh sách dành riêng để giảng dạy cho còn được lưu giữ ở viện Hán Nôm (mã số các vương tôn công tử nhà Nguyễn mà chúng VHv. 719) - cho biết đây là sách do Hàn ta có thể tra cứu trong sử liệu hay dưới dạng lâm viên tập và cho khắc in vào năm 1834. tàng bản, chính là loại hình thể hiện rõ nét sự Các sách này giảng dạy cho các hoàng tử tích hợp giữa sách gia giáo với sách giáo khoa còn nhỏ những kiến thức chính yếu của Nho và nhất là sự ảnh hưởng, nếu không muốn nói giáo, như: Minh thiên (hiểu rõ về trời), Tôn là rập khuôn từ Trung Hoa. tâm (giữ vẹn lòng tốt), Cẩn ngôn (cẩn thận trong lời nói), Thận hành (thận trọng trong Để định chương trình giảng dạy cho các việc làm); các nghi tiết quét tước, đi đứng, hoàng tử tại nhà học Tập Thiện đường, năm thưa gửi, v.v... (11). Minh Mạng thứ 4 (1823), Cần chánh học sĩ Ngô Đình Giới đã đề xuất các sách mà trước Không được nhắc đến trong chính sử, đó, Cao Tông nhà Thanh [Càn Long (1711- nhưng những thư tịch hiện tồn tại các kho lưu 1799)] đã học khi còn là hoàng tử, gồm: Tứ trữ Hán Nôm cũng đã cho thấy sách ấu học truyện, Ngũ kinh, Tính lý, Cương mục, Đại căn bản của Trung Hoa khá phổ biến ở Việt học diễn nghĩa, Cổ văn uyên giám. Ngoài Nam, kể cả trước lẫn dưới triều Nguyễn. Các ra, ông cũng đề nghị chọn lọc trong số các sách này được Hoa kiều mang đến hoặc người sách Khâm định, Ngự định, Ngự toản, Ngự Việt sao chép, biên soạn lại từ sách của Trung phê do các vua Đại Thanh sai các Nho thần Hoa: Tam tự kinh, được cho là của Vương biên soạn để “định làm sách giảng luận, ban Ứng Lân (tự Bá Hậu), nho sĩ nhà Tống “viết cho các vị học tập”, bao gồm: Tứ thư giải ra để dạy trường nhà” và “có thể tạm thời xác định thời điểm cuốn sách này truyền nhập vào nghĩa, Thư kinh giải nghĩa, Lễ ký giải Việt Nam là năm 1836, hoặc sớm hơn một nghĩa, Xuân Thu giải nghĩa, Dịch kinh giải chút là quãng năm 1820 - 1830, theo các nghĩa, Ngự toản thi nghĩa chiết trung, Ngự chứng cứ văn hiến học khả khảo hiện còn” định Hiếu kinh, Tập chú Hiếu kinh, Ngự phê (12); Thiên tự văn do Châu Hưng Tự (470- lịch đại thông giám tập lãm (10). 521) biên soạn dưới thời Nam triều cũng được Năm 1837 (Minh Mạng năm thứ 17), khi du nhập vào Việt Nam ít nhất là thời Lê, qua Giáo đạo Nguyễn Đăng Tuân xin định lại ghi nhận của Bùi Dương Lịch (1744-1814) chương trình giảng dạy ở Tập Thiện đường trong lời tựa của Bùi Gia huấn hài: “Tôi từng thì hệ thống kinh sách cũng không nằm ở làng thấy mọi nhà dạy trẻ phần nhiều cho ngoài Tứ thư (Đại học, Trung Dung, Luận học thuộc lòng quyển Thiên tự văn của Chu Ngữ, Mạnh Tử), Ngũ kinh (Dịch, Thi, Thư, Hưng Tự, cuối cùng chẳng có ích lợi gì. Có Lễ, Xuân Thu), Chư sử/Bắc sử (Sử ký, Tiền người lấy sách Hiếu kinh, Tiểu học thay vào,
  4. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung Hoa… 53 câu ngắn, câu dài, khó khăn cho con trẻ" (13). tứ hiếu của danh sĩ nhà Nguyên (Quách Cự Ngoài ra, còn có một số sách Hán ngữ khác: Nghiệp, 1280-1346) được quan bộ Lễ Lý Văn Bách gia tính, Ấu học ngũ ngôn thi (hay còn Phức (1785-1849), trong lần đi sứ sang nhà gọi là Trạng nguyên thi), được xác định tương Thanh vào năm Minh Mạng thứ 16 (1836), đồng với Thần đồng thi của Uông Thù (tự mang về diễn Nôm với tiêu đề Nhị thập tứ Đức Ôn) sáng tác dưới thời Bắc Tống. hiếu diễn âm; Nữ phạm diễn nghĩa do Nguyễn Cũng như sách học cho trẻ em, sách gia Phúc Miên Trinh (1820-1947) “vâng dịch” và huấn và các sách liên quan đến gia giáo có chú giải (1853) từ tác phẩm Nữ phạm đời nguồn gốc Trung Hoa được lưu hành ở Việt Minh, vốn dựa trên “Liệt nữ truyện" của Lưu Nam thời phong kiến nói chung, Huế nói Hướng đời Hán (15). riêng rất phổ biến. Có thể kể đến: Minh Đạo Ngoài ra, sách song ngữ Hán - Nôm để dạy gia huấn, Thái thị gia huấn, Chu công gia chữ Hán vỡ lòng, như Nhất thiên tự (khuyết huấn, v.v... Một số sách loại thư liên quan danh), Ngũ thiên tự (khuyết danh); Tam thiên tự đến gia giáo của nhà Thanh cũng đã được (Ngô Thì Nhậm, 1786 -1803) cũng được xếp vào nhà Nguyễn cho biên tập, sao khắc, như bộ sách gia giáo dạy về tri thức văn hóa cho trẻ đồng Ngũ chủng di quy (gồm Dưỡng chính di quy, ấu. Dưới triều Nguyễn, đáng chú ý là cuốn Tự Học sĩ di quy, Tùng chính di quy, Giáo nữ di Đức thánh chế tự học diễn nghĩa ca, một cuốn từ quy, Huấn tục di quy) do Trần Hoằng Mưu điển Hán Việt được viết theo thể lục bát, dễ học, biên soạn (còn gọi là Trần thị ngũ loại di dễ nhớ và được “bộ Lễ trình lên vua Thành Thái quy) do Phó sứ Trần Văn Chuẩn (1836-1885) (1889-1907) vào năm 1896 và được khắc in sau mang về khi đi sứ ở Trung Hoa. Đây là bộ đó (từ 1898) theo đúng như di nguyện của Tự sách “trích dẫn lời tiền nhân, chủ yếu là Đức” (16); Sơ học vấn tân (khuyết danh), viết về những trước tác có liên quan từ thời Tống trở lịch sử Trung Hoa, Việt Nam (từ thời Hồng Bàng đi, chia loại biên soạn, đem các quy giới, đến nhà Nguyễn), v.v... quan châm, dung ngôn, gia ước, thế phạm, 2.1.2. Tác phẩm gia huấn của Nho sĩ tông quy, ngôn ngữ tập hợp thành” (14). người Việt Trong đó, Giáo nữ di quy (giáo dục người phụ nữ trau dồi công dung ngôn hạnh, vai trò Người Việt cũng dành nhiều công phu để làm mẹ, làm vợ) và Dưỡng chính di quy (dẫn soạn sách gia huấn qua các thời đại. Các tác những câu cách ngôn của Chu Tử trong trị phẩm này không nằm ngoài tư tưởng đạo đức gia) là những sách liên quan trực tiếp đến gia Nho gia với các thể loại thường thấy trong văn giáo, được chính Trần Văn Chuẩn duyệt và học cổ Trung Hoa. in sang, trích sao vào các năm Tự Đức thứ Ở Huế, các ông hoàng triều Nguyễn cũng 31, 32 (1878, 1879). đã có nhiều trước tác liên quan đến việc giáo Một số loại sách có nội dung liên quan đến huấn con cháu hoàng tộc, quan lại trong triều việc giáo dục trong gia đình của người Trung và dân chúng trên tinh thần Nho giáo. Ngoài Hoa cũng đã được người Việt diễn Nôm. Các các chỉ, dụ liên quan đến việc của Tôn thất tàng bản cho thấy thể loại sách này dưới triều và nội cung của các đời vua, có thể kể đến Nguyễn được in khắc khá phổ biến, thường Hoàng Huấn cửu thiên (1847) - một tập thơ khuyết danh cả tác giả lẫn dịch giả, như: Nữ gồm 9 bài tương ứng với 9 thiên của vua tử tu tri, Nữ tắc diễn âm, Khuyến phu ca, Bài Thiệu Trị (Cao minh, Bác hậu, Sủng tuy, ca răn cờ bạc, v.v... Bên cạnh đó là các tác Trung lương, Từ ái, Hiếu đễ, Tạo đoan, Hữu phẩm mà chúng ta có thể truy nguyên nguồn vu, Chí tín). Sau khi được Nội các biên tập, gốc xuất xứ, thời điểm ra đời, như: Nhị thập tập thơ này được ban cho các giảng đường để
  5. 54 3 (43) - 2019: NGHIÊN CỨU VĂN HÓA dạy cho Nho sinh (17). Chính thất của ông, Đặc biệt, trong những ngôi nhà rường đặc Quý phi Nghi Thiên Chương Hoàng hậu (Từ trưng của Huế, hoành phi, câu đối, biển bản Dụ Thái hoàng thái hậu, mẹ của vua Tự Đức) ngoài chức năng trang trí, loại hình văn khắc cũng là người nổi tiếng “thuộc sử sách đã này còn mang nội dung tự thuật về ý chí, sự nhiều mà biết việc đời cũng rộng Khi Đức nghiệp, nếp sống của gia chủ; đồng thời cũng Từ Dụ ban câu chi hay, thì ngài biên ngay là lời giáo huấn cho con cháu về lòng hiếu vào một quyển giấy gọi là Từ huấn lục” (18). kính, uống nước nhớ nguồn, khuyến học, đề Có thể xem Từ huấn lục là một cuốn sách gia cao cuộc sống hoà thuận, sum vầy cũng như huấn được viết theo lối “biên thuật”, gồm những phẩm chất cần có theo chuẩn mực Nho 225 bài giáo huấn của mẹ (bà Từ Dụ) răn dạy gia. Bài “Tự huấn minh” hiện lưu giữ tại từ các hoàng thân và quan lại từ năm Tự Đức 12 dòng họ Cao, làng Thế Chí Đông (huyện (1859) đến năm Tự Đức 31(1878) (19). Phong Điền) là một tác phẩm gia huấn tiêu biểu ở dạng này. Từ lời di ngôn của Tổng đốc Gia đình của quan lại người Huế cũng có An Hà Cao Hữu Dực (1799-1859), con trai những bản gia huấn, sau trở thành các tác của ông là Quang Lộc Tự Khanh Cao Hữu phẩm được xã hội biết đến rộng rãi. Từ thụ Sung (tự Lư Khanh) đã cho khắc gỗ vào năm yếu quy (1867) của Đặng Huy Trứ là cuốn Tự Đức 31 (1878) để nhắc nhở cháu con về sách mà ông cho rằng chỉ “để làm khuôn phép nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung, thiện lành, cho bản thân và cho con cháu đời sau, không cần kiệm, liêm minh, v.v... Tương tự, bài dám nghĩ để làm khuôn phép cho ai” (20) minh về nguồn gốc họ tộc và nội dung một nhưng ảnh hưởng của nó đã vượt ra giới hạn đạo sắc do vua Khải Định (năm thứ 9-1924) của gia tộc họ Đặng. Ngoài ra, Đặng Dịch ban phong tước Dực bảo Trung hưng Linh Trai ngôn hành lục (1868) là tập sách mang phò chi thần cho thỉ tổ Lương Thanh [….] đại tính “gia sử” khác, gồm 47 thiên mà Đặng Huy lang, được phụng lục trên một tấm biển bằng Trứ ghi lại lời nói và việc làm hay của cha gỗ, treo ở vị trí trang trọng nhà thờ họ Lương mình (Dịch Trai - Đặng Văn Trọng) với mong Thanh (làng Phước Tích, huyện Phong Điền) muốn: “Con cháu tôi, nếu ngày đọc đêm suy cũng là một hình thức văn bản gia huấn, nhắc nghĩ sẽ thấy như cha tôi đang dạy bảo ở trước nhở con cháu về ý thức nguồn cội. Ngoài ra, mắt, bản thân nếu cố gắng thực hiện sẽ thấy chúng ta có thể tìm thấy các dạng gia huấn như cha tôi nhắc nhở bên mình” (21). dưới hình thức văn khắc gỗ (câu đối, thơ) ở Tương tự Đặng Dịch Trai ngôn hành lục, bất cứ nhà thờ họ hay nhà rường nào của Huế. Văn Nghị Công niên biểu của người Việt gốc 2.2. Các chế định giáo hóa của chính quyền Hoa Minh Xuyên Trần Tiễn Hối (1869-1919) Ngoài các tác phẩm gia huấn, nhà Nguyễn cũng là một tác phẩm viết theo thể ký về cuộc còn tiếp nhận các hình thức giáo hóa của đời và sự nghiệp của cha mình, Phụ chính đại chính quyền của nhà Minh, Thanh. Dưới triều thần Trần Tiễn Thành (1813-1883). Bằng việc Minh, Chu Nguyên Chương (1328-1398) đã kể lại các sự kiện lịch sử gắn với những ứng ban bố thánh huấn Lục dụ và được vua Thuận xử của một vị quan đầu triều, đây cũng là một Trị (1636-1661) kế thừa khi lập nhà Thanh. tác phẩm gia giáo dưới hình thức nêu gương Sau đó, vua Khang Hy (1654-1722) viết bản về lời nói và việc làm của tiền nhân. Thượng dụ thập lục điều; người kế vị, Ung Ngoài sách và các văn bản gia huấn được Chính đế (1638-1735), trên cơ sở đó cũng đã viết trên giấy, gia huấn được khắc trên đá, gỗ biên soạn thành Thánh dụ quảng huấn. Thông dưới dạng ký, minh hoặc thơ cũng khá phổ qua quan lại địa phương hoặc các trưởng lão biến ở Huế nói riêng, Việt Nam nói chung. có kiến thức và đức hạnh, các bản huấn dụ
  6. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung Hoa… 55 này được phổ biến đến người dân khắp các địa quy định một tháng giảng tập hai ngày do phương nhằm sửa đạo đức, nề nếp, phong tục. quan lại địa phương phụ trách (26) nhà Lê cử Trong đó, có nhiều nội dung liên quan đến gia người “cao tuổi, đạo đức học tập khá, phẩm giáo và ứng xử trong gia đình, như: “Hiếu hạnh tốt làm người đứng đầu, cứ những ngày thuận với cha mẹ. Cung kính với trưởng bối. nhàn rỗi, đưa người dân đến đình quán, công Hoà thuận với xóm làng. Dạy bảo cho con sở hội họp (27)” thì nhà Nguyễn quy định em” (Lục dụ); hay “dạy hiếu đễ để trọng nhân “phủ Thừa Thiên và các nha, tỉnh, phủ, huyện, luân”, “dạy con em để ngăn việc xấu”, “mở châu, cứ hàng năm, lấy ngày tốt của hai tháng gia thục để dạy con em” (Thượng dụ thập lục Mạnh mùa xuân mùa thu, các học thần trong điều, Thánh dụ quảng huấn) (22). ngoài thì lấy ngày một của bốn tháng Trọng, các xã dân, thì lấy ngày mồng một bốn tháng “Phỏng theo đại ý bản Thánh dụ quảng Quý theo lễ hội giảng” (28). huấn nước Thanh”, vua Minh Mạng đã dụ cho bộ Lễ “đặt những điều huấn cho rõ ràng” (23), Tương tự nhà Lê và các triều đại Trung và ban hành Huấn địch thập điều (1834), hạ Hoa, sự ảnh hưởng của chính quyền đối với chiếu cho nhân dân các làng xã học tập. Năm gia giáo còn thể hiện ở chính sách nêu thưởng 1870, bản Huấn địch này được vua Tự Đức người trung hiếu tiết nghĩa. Năm 1822, vua diễn Nôm dưới dạng lục bát thành Thánh dụ Minh Mạng đã xuống chỉ dụ: “Phàm có trung huấn địch thập điều diễn nghĩa ca (1870) thần phong cho thờ cúng, liệt nữ, thưởng biển (24). Trước đó, vua Lê Thánh Tông cũng từng nêu khen, có đủ cả điển lệ. Nhưng hiếu tử định Nhị thập tứ huấn điều (1470) và được (người con có hiếu), nghĩa phu vẫn chưa được vua Lê Hiển Tông minh định lại vào năm biểu dương (…). Chuẩn từ nay các thành, 1499 với chín điều quan trọng liên quan đến doanh, trấn đều nên để tâm tìm tòi (...) tâu lên gia giáo: Nhiệm vụ giáo dục của cha mẹ đối đợi chuẩn nêu thưởng” (29). với con cái (điều 1), Gia trưởng (điều 2), Lễ Với đường lối “lấy đạo hiếu để sửa trị” nghĩa vợ chồng (điều 3), Quan hệ anh em (30), dựa vào Hội điển nhà Thanh, các chính (điều 4), Quan hệ nàng dâu với gia đình sách để khuyến khích lòng hiếu đễ được nhà chồng (điều 6), Đàn bà góa (điều 7, 8, 9), Nguyễn đặc biệt coi trọng, thể hiện rõ trong Người vợ (điều 10) (25). Vua Lê Huyền Tông Đại Nam Hội điển sử lệ. Có thể kể đến cho ban hành Lê triều giáo huấn điều lệ (Cảnh những chế định về việc phong tặng cho ông Trị nguyên niên, 1663). Để thuận tiện cho bà cha mẹ của quan viên văn võ (Phong việc phổ biến trong dân gian, chúa Trịnh tặng, quyển 29); Quy định về việc quan lại, Doanh đã sai Nhữ Đình Toàn minh định, diễn học trò về phụng dưỡng, thăm nom chịu Nôm và phát hành (1760) dưới thời vua Lê tang cha mẹ (Lệ xử phán, quyển 35) (31); Hiển Tông (Cảnh Hưng năm thứ 21-1760). Quy định về việc cử người đức hạnh dạy Mười trong 47 điều của Lê triều giáo huấn nói Hiếu kinh cho trẻ em ở làng xã khi lên 8 và về bổn phận tương ứng với vai trò trong gia những hậu đãi cha mẹ các quan, trinh thưởng đình mà mỗi thành viên đảm nhận (gia trưởng, các nhà năm đời vẫn ở chung (Phong giáo, con cái, cha mẹ, anh em, vợ chồng, nàng dâu, quyển 100) (32). Đặc biệt, tiếp thu từ Bộ luật đàn bà góa). Hồng Đức, bất hiếu cùng với ác nghịch, bất Như vậy, việc ban bố thánh dụ giáo hóa mục, bất nghĩa, nội loạn là 5 tội liên quan dân chúng phỏng theo điển lệ Minh Thanh đến quan hệ gia đình cũng được Hoàng Việt dưới triều Nguyễn không phải là chưa có tiền luật lệ của nhà Nguyễn xếp vào Thập ác lệ ở nước ta. Điểm khác biệt là nếu nhà Thanh (Luật về tội danh và các điều lệ, quyển 179)
  7. 56 3 (43) - 2019: NGHIÊN CỨU VĂN HÓA (33). Như vậy, cũng như chế độ phong kiến Nguyễn. Đây cũng là lí do khiến Huế là nơi Trung Hoa với nhiều “chính sách và biện phát xuất và lưu giữ một hệ thống văn bản gia pháp thi hành giáo hóa của chính quyền (…) huấn mang tinh thần Nho giáo hết sức phong nhằm tạo ra được tập quán dư luận và phong phú. Đó không chỉ gia huấn quý tộc cung khí xã hội trật tự có lợi cho vương triều đình, gia huấn bình dân, gia huấn nhà nước, thống trị, lấy đó tác động và chế định các gia huấn tư gia; dưới dạng truyền khẩu lẫn khuynh hướng gia giáo” (34), nhà Nguyễn văn bản chép tay, in ấn, văn khắc (trên bia đá, cũng lấy đạo hiếu dạy dân và khuyến khích trên kiên trúc gỗ). gia trưởng dạy con đạo trung. Mặt khác, trong bối cảnh xã hội Việt Nam Có thể nói rằng, với trật tự tổ chức xã hội thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước hai thế theo quan điểm Nho gia: Nhà là đơn vị cơ sở lực ngoại bang: Trung Hoa và Pháp, triều cho Nước và rộng hơn là Thiên hạ, khuynh Nguyễn đã chọn con đường bảo thủ, thân hướng gia giáo người Việt nói chung, Huế nói Trung Hoa, bế quan tỏa cảng, đoạn tuyệt với riêng dưới thời quân chủ luôn đặt dưới sự chi phương Tây và tiếp tục lấy tư tưởng Thanh phối của chính sách giáo hóa mang tính nhất Nho vốn đã lạc hậu để cai trị đất nước. Đây quán từ triều đình đến làng xã. Hệ thống tài được xem là nguyên nhân sâu xa khiến đất liệu gia huấn, pháp luật, điển chế, không nằm nước trì trệ và từng bước rơi vào tay thực dân ngoài việc củng cố cho cá nhân tuân thủ các Pháp, mà biến cố Thất thủ Kinh đô 1885 là quy tắc ứng xử đúng với vị trí, trách nhiệm, cột mốc đánh dấu sự mất chủ quyền trên khắp nghĩa vụ của mình (Chính danh) gắn với từng cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam. Song, trên phương mối quan hệ và chuẩn mực cụ thể: tam cương diện văn hóa, sự bảo thủ lại là nhân tố quan (vua - tôi, cha - con, chồng - vợ); ngũ thường trọng để bản sắc được bảo tồn. Với giới quý (nhân - lễ - nghĩa - trí - tín) đối với nam giới; tộc Nguyễn, sau khi quyền cai trị đất nước chỉ tam tòng (theo cha, theo chồng, theo con), tứ còn mang tính hình thức, họ quay trở về lưu đức (công - dung - ngôn - hạnh) đối với phụ tâm đến việc củng cố gia đạo, chú trọng gia nữ, nhằm đảm bảo cho gia tộc (nhà) được vận giáo trên tinh thần đối kháng “nước mất hành theo những tôn ti trật tự định sẵn của xã nhưng nhà không tan” như là một cách để thể hội rộng lớn hơn. Đối với bậc cai trị, ngoài hiện tinh thần dân tộc. Không chỉ trong phạm yếu tố bình thiên hạ ở người Việt không rõ vi hoàng tộc, mà khắp làng xã, các chính sách nét, sự rèn luyện của cá nhân theo tiêu chuẩn nhằm củng cố hương phong, bao gồm gia của người quân tử phải đi tuần tự các bước từ phong, cũng được lưu tâm, thể hiện tập trung cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề nhất ở hệ thống các hương ước và việc duy trì gia đến trị quốc. Đó cũng là lí do, các nhà các chính sách ban khen của triều đình đối với chính trị, tư tưởng cũng là những người coi hiếu tử, liệt nữ. trọng việc biên soạn các tác phẩm tự huấn, gia huấn, gia phạm như đã đề cập. Tất cả những điều trên đây khiến sự ảnh hưởng của Trung Hoa, trực tiếp hơn là 3. Thay lời kết Nho giáo đến gia giáo của người Huế dưới Có thể thấy, sự ảnh hưởng của Trung Hoa triều Nguyễn không ngừng củng cố, ngay đến gia giáo của người Huế đi theo những con cả khi nhà Nguyễn suy yếu, thậm chí hầu đường khác nhau: gián tiếp qua gia giáo ở như mất hết vai trò chính trị. Và ngày nay, vùng Bắc Bộ; trực tiếp qua người Hoa (Minh những biểu hiện của gia giáo truyến thống Hương) đến định cư ở xứ Đàng Trong và đặc vẫn tiếp tục lưu dấu đậm nét và hiện diện biệt là sự củng cố của Nho giáo dưới triều trong từng nếp nhà xứ Huế, mà hệ thống
  8. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung Hoa… 57 thư tịch cổ liên quan đến giáo dục gia đình 16. Nguyễn Đình Hoà, “A Preliminary Study of truyền thống, nhất là các trước tác gia Tự Đức Thánh Chế tự học - a 19th - Century huấn là một phần di sản cần được gìn giữ Chinese-Vietnamese Dictionary” (Sơ bộ nghiên và phát huy./. cứu Tự Đức Thánh Chế tự học - cuốn tự điển Hán N.T.T.H Việt thế kỷ XIX), Mon-Khmer Study 26:207- 216.www.sealang.net/mks/copyright.htm, Trần ___________________ Trọng Dương (d.), ttps://hoavouu.com. 1. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 142. 17. Nguyễn Phúc Miên Tông (Thiệu Trị năm 2. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), thứ 7, 1847), 皇訓九篇 (Hoàng huấn cửu thiên), tlđd, tr. 147, 148. Nguyễn Bá Nghi, Tôn Thất Hợp, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải, Mai Anh Tuấn, Nguyễn 3. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), Văn Siêu, Thân Văn Nhiếp, Bùi Long (chú dẫn), tlđd, tr. 153, 154, 166. bản chữ Hán. 4. Diêm Ái Dân (2001), Gia giáo Trung Quốc cổ, Cao Tự Thanh (d.), Nxb. Trẻ, thành phố Hồ 18. Trần Trọng Kim (1923), “Nho giáo”, trong Chí Minh, tr. 27. Việt Nam thanh niên tạp chí, số 3, tr. 236. 5. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), 19. Tự Đức (biên thuật), 詞訓錄 (Từ huấn lục), tlđd, tr. 164. bản chữ Hán, 4 tập viết tay. 6. Diêm Ái Dân (2001), tlđd, tr. 27. 20. Đặng Huy Trứ (2002), Từ thụ yếu quy - Bàn 7. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), về nạn hối lộ và đức thanh liêm của ngời xưa, tlđd, tr. 161. Nguyễn Văn Huyền, Phạm Tuấn Khanh (d.), Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 19. 8. Dẫn theo Lưu Ngọc Quân (2015), Lược thuật về Kinh Học ở Việt Nam, Nguyễn Đức Toàn 21. Đặng Huy Trứ (2007), Đặng Dịch Trai dịch, http://yeuhannom.blogspot.com/2015/12/luu- ngôn hành lục (Lời nói việc làm của cha tôi, Đặng ngoc-quan-luoc-thuat-ve-kinh-hoc-o.html. Hưng Dzoanh, Phạm Tuấn Khanh (sưu tầm), Bùi Văn Côn, Phạm Tuấn Khanh (biên dịch), Nxb. 9. Dẫn theo Lưu Ngọc Quân (2015), tlđd. Thanh niên, tr. 20. 10. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam 22. Diêm Ái Dân (2001), tlđd, tr. 189 - 190. thực lục - Chính biên, tập 2, Tổ phiên dịch Viện Sử học (d.), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 285 - 286. 23. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Nxb. Thuận Hoá, Huế, tr. 242. 11. Hàn Lâm Viện (biên tập) (năm Minh Mệnh 15 - 1834), 新簨少小開心寶鑑 (Tân toản thiếu 24. Lê Hữu Mục (giới thiệu, phiên âm, dịch thuật, tiểu Khai tâm bửu giám), Quốc sử quán in. sưu giảng) (1971), Huấn địch thập điều (Thánh Dụ của Vua Thánh tổ, Diễn ca của Vua Dực Tông), Phủ 12. Nguyễn Tuấn Cường (2015), Bản thảo đề tài Quốc Vụ Khanh xuất bản, Sài Gòn. cấp cơ sở của Viện nghiên cứu Hán Nôm năm 2015, 25. Lê Hữu Mục (1971), tlđd, tr. 79 - 84. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, tr. 5, 18. 26. Diêm Ái Dân (2001), tlđd, tr. 193. 13. Dẫn theo Phạm Văn Khoái (1995), “Một vài 27. Lê Hữu Mục (1971), tlđd, tr. 82. vấn đề về sách giáo khoa dạy chữ Hán trong kho sách Hán - Nôm”, trong Thông báo Hán Nôm học 1995, 28. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, tr. 136 - 149. Đại Nam hội điển sử lệ, tập 7, Viện Sử học (d.), Nxb. Thuận Hoá, Huế, tr. 132. 14. Diêm Ái Dân (2001), tlđd, tr. 168. 29. Nội các triều Nguyễn (1993), tlđd, tr. 160 - 161. 15. Tuy Lý Vương (Tự Đức năm Quý Sửu - 30. Nội các triều Nguyễn (1993), tlđd, tr. 140. 1853), 女 範 演 義 (Nữ phạm diễn nghĩa từ), bản chữ Nôm, lưu giữ tại Phủ Tuy Lí Vương, Huế. (Xem tiếp trang 95)
nguon tai.lieu . vn