Xem mẫu

  1. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 16, Số 3; 2016: 255-266 DOI: 10.15625/1859-3097/16/3/7533 http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst ẢNH HƯỞNG CỦA TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ VÀ BIẾN ĐỔI BẤT THƯỜNG CỦA MỰC NƯỚC TRONG BIỂN ĐÔNG LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Trần Văn Chung*, Bùi Hồng Long Viện Hải dương học-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam * E-mail: tvanchung@gmail.com Ngày nhận bài: 11-12-2015 TÓM TẮT: Mực nước biển dâng cao khá lớn tại Biển Đông trong năm 2010 là những biến đổi bất thường của tự nhiên đã được ghi nhận trong công trình nghiên cứu mới nhất của tác giả nước ngoài, điều này chưa từng xảy ra trong hơn một thập kỷ trước đây (trên cơ sở các kết quả phân tích chuỗi số liệu vệ tinh từ năm 1993 đến 2010). Để góp phần làm rõ vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành phân tích sự thay đổi nền nhiệt độ của nhiệt độ không khí, nhiệt độ bề mặt biển cùng với sự thay đổi mực nước. Các số liệu nhiệt độ sử dụng trong nghiên cứu này được khai thác từ hệ thống dự đoán khí hậu phân tích lại theo bước thời gian 1 giờ với độ phân giải ngang 0,31250 của Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia Mỹ và chuỗi số liệu mực nước được trích xuất từ mô hình HYCOM + NCODA phân tích lại toàn cầu với ô kích thước lưới 1/12,50. Các kết quả phân tích đã giải thích phần nào mối liên hệ giữa trường nhiệt độ và sự dâng cao mực nước đến sự biến đổi khí hậu trong khu vực Biển Đông. Từ khóa: Thay đổi khí hậu, nhiệt độ không khí, nhiệt độ bề mặt biển, mực nước biển, tương tác biển-khí, NCEP, CFSR, HYCOM, NCODA. MỞ ĐẦU tăng cao của mực nước biển và làm mất đi hệ thống dòng có cấu trúc lưỡng cực trong mùa hè Các kết quả nghiên cứu của mới nhất của ở khu vực bên ngoài bờ biển miền Trung Việt Fang và nnk., 2014 [1] khi quan trắc độ cao bề Nam. Những nhận định trên cho thấy có sự tồn mặt biển từ chuỗi các số liệu vệ tinh giai đoạn tại của mối liên hệ giữa độ cao mực nước, hoàn 1993 - 2010 cho thấy chúng có sự biến đổi thập lưu của Biển Đông với chế độ nhiệt nhiều năm niên (Decadal) với ba giai đoạn tương ứng của Thái Bình Dương. Điều này được thể hiện 1998, 2001 và 2010 vào mùa hè ở Biển Đông. rõ hơn qua các kết quả phân tích hàm trực giao Mực nước biển có sự gia tăng khá nhanh trong thực nghiệm (EOF - Empirical Orthogonal giai đoạn 2006 - 2010 và cao bất thường vào Function) của độ cao bề mặt biển 1993 - 2010. năm 2010. Trong các nghiên cứu của mình Các kết quả của Fang và nnk., 2014 còn cho (Fang và nnk., 2014), họ còn cho rằng các bất thấy cho thấy sự tăng mực nước trong 1993 - thường của chỉ số dao động Thái Bình Dương 2010 sau đó có sự giảm dần và không tăng mang đặc trưng thập kỷ PDO (Pacific Decadal trong giai đoạn 2001 - 2005 tương tự như các Oscillation Index) của vùng trung tâm tây Thái kết quả đã được ghi nhận trước đó của Cheng Bình Dương (dị thường nhiệt độ nước biển trên và Qi, 2007 [2], Swapna và nnk., 2009 [3] và bề mặt từ vĩ độ 200N trở lên phía cực bắc so với Fang và nnk., 2006 [4]. Sau đó mực nước của trung bình nhiều năm) có thể tác động vào sự Biển Đông tăng trở lại với mức độ nhanh hơn 255
  2. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long trong giai đoạn 2006 - 2010. Các bất thường thiện việc điều khiển quy mô thời gian mà còn của độ cao bề mặt biển thường gây ra sự biến tạo ra nhiều sản phẩm mới phục vụ cho dự báo động của dòng hải lưu (Sự thay đổi mực nước cận mùa và theo mùa (các dự báo hồi cố) để động lực để cân bằng với các dị thường của vận người sử dụng có thể tham khảo để hiệu chỉnh tốc địa chuyển (Hakkinen và Rhines, 2004 các sản phẩm dự báo của mình. Những dự báo [5]); nó cũng có thể được hiểu như là sự tích hồi cố và dự báo thời gian thực sẽ được các nhà lũy (kho) nhiệt ở lớp phía trên của biển theo quản lý sử dụng khi chuẩn bị đưa ra các quyết một mối quan hệ tuyến tính đơn giản (Cheng và định trong các lĩnh vực như quản lý nước của Qi, 2007 [2] và Swapna và nnk., 2009 [3]). các lưu vực sông, nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, việc khai thác nguồn năng Chúng ta biết rằng cho đến nay còn rất ít lượng sạch (gió …), các nguồn năng lượng bền các nghiên cứu tập trung vào sự thay đổi ở quy vững khác, cũng như dự báo tai biến thiên mô thập kỷ của nhiệt độ nước, không khí, độ nhiên như dự báo mùa mưa, bão (Saha và nnk., cao mực nước, dòng hải lưu mùa hè trên bề mặt 2014 [6]). Biển Đông. Để đi tìm câu trả lời cho vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phân tích chuỗi số Khó khăn chung ở nước ta hiện nay là do liệu nhiệt độ không khí (cách 2 m trên bề mặt những hạn chế nguồn số liệu thực đo, trải đều biển), nhiệt độ bề mặt nước biển để đánh giá trong khu vực biển nghiên cứu (đây cũng là khả năng ảnh hưởng của nhiệt độ đến biến điều bất khả thi), thiếu các chuỗi số liệu nhiều động dị thường của mực nước như đã nói ở năm để thực hiện các đồng hóa dữ liệu cho mô phần trên. Với chuỗi số liệu tương đối tốt được phỏng hiện tượng cũng như các đánh giá tính cung cấp bởi Trung tâm Dự báo Môi trường thích ứng của mô hình nghiên cứu. Do vậy, Quốc gia Mỹ (NCEP), Hệ thống dự đoán Khí trong bài báo này, chúng tôi đã tận dụng chuỗi hậu phân tích lại (CFSR) với khoảng 1 giờ/số số liệu đã được tập hợp từ mô hình HYCOM + liệu với độ phân giải theo phương ngang NCODA để phân tích lại với lưới phương khoảng 0,3 độ cho chuỗi số liệu dài 32 năm ngang 1/12,50 cho 40 lớp độ sâu. Trong khu (1979 - 2010) và độ phân giải 0,2 độ cho chuỗi vực Biển Đông và lân cận chúng tôi thấy rằng thời gian từ (2011 - 2014). Như chúng ta đã Yaremchuk và nnk., 2009 [7], Metzger và nnk., biết, hiện nay phiên bản thứ hai phân tích lại 2010 [8] đã dùng các kết quả của mô hình của hệ thống dự báo khí hậu NCEP (CFSv2) đã HYCOM trong nghiên cứu biển Indonesian. được đưa vào hoạt động từ tháng 3/2011. Phiên Gao và nnk., 2013 [9] đã sử dụng số liệu của bản này được nâng cấp để tăng cường khả năng mô hình HYCOM làm điều kiện biên mở cho không chỉ cho đồng hóa dữ liệu mà còn cho mô mô hình POM khi nghiên cứu vịnh Bắc Bộ. hình dự báo các thành phần trong hệ thống. Xue và nnk., 2014 [10] đã sử dụng kết quả của Việc phân tích lại (reanalysis) cũng đã được mô hình HYCOM để nghiên cứu quá trình trầm thực hiện trong khoảng thời gian 30 năm (1979 tích trong vùng cửa sông Mê Kông. Các vấn đề - 2009), để cung cấp các điều kiện ban đầu cho nghiên cứu cấu trúc dòng chảy cho vùng nước việc dự báo nâng cao hơn cho 29 năm (1982 - trồi Nam Trung Bộ bằng mô hình đã được 2010). Mục đích của công việc này là để có chúng tôi nghiên cứu trong công trình của mình được các hiệu chuẩn phù hợp và ổn định hơn, (Bùi Hồng Long và Trần Văn Chung, 2009, cũng như ước lượng cho các dự đoán cận mùa 2010 [11, 12]). Tuy nhiên, các công trình trên và theo mùa CFSv2 tại NCEP. Từ các đánh giá chỉ dừng lại ở nghiên cứu đặc trưng mùa gió dự báo lại cho thấy rằng CFSv2 làm tăng độ dài chứ chưa giải quyết bài toán cho các giai đoạn của các dự báo MJO (Madden Julian dài có tính đến sự biến đổi của khí hậu. Oscillation) lên từ 6 - 17 ngày tăng cường khả năng dự báo cận mùa), nâng cao gần gấp đôi TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP mức độ dự báo theo mùa của nhiệt độ không Như trình bày ở phần trên phân tích lại hệ khí tại độ cao 2 m trên bề mặt biển của Hoa Kỳ, thống dự báo khí hậu (CFSR) của trung tâm dự cải thiện đáng kể khả năng dự báo nhiệt độ bề báo môi trường (NCEP) đã có phiên bản mới từ mặt biển trên phạm vi toàn cầu so với phiên tháng 3/2011. CFSR được thiết kế và thực hiện bản trước đây. Ngoài ra CFSv2 không chỉ cải cho phạm vi toàn cầu, độ phân giải cao, kết hợp 256
  3. Ảnh hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi … hệ thống khí quyển-hải dương-bề mặt đất-băng Để sử dụng phân tích biến động mực nước, biển sẽ được mở rộng để có thể sử dụng như chúng tôi sử dụng cơ sở dữ liệu từ hệ thống sản phẩm thời gian thực trong tương lai. CFSR được thiết lập cho đại dương toàn cầu với mô so với hầu hết các phân tích lại, nếu không phải hình động lực HYCOM 2.2. Tính toán được tất cả, trước đó bao gồm (1) sự liên kết của khí thực hiện trên lưới GLab0.08 theo 32 lớp có thể quyển và đại dương qua thời gian tạo ra các cung cấp trên lưới đều GLBu0.08 (40 lớp) bằng trường phỏng đoán 6 giờ, (2) một mô hình phương pháp nội suy. Đó là 32 lớp theo tương tác băng-biển, và (3) sự đồng hóa của độ phương thẳng đứng. Trường độ sâu có nguồn bức xạ vệ tinh bằng sơ đồ nội suy thống kê gốc từ bộ dữ liệu GEBCO 1/30 giây. Lực tác điểm lưới qua toàn bộ thời kỳ. Độ phân giải khí động bề mặt có được từ Trung tâm Dự báo Môi quyển toàn cầu CFSR là ~ 38 km (T382) với 64 trường Quốc gia Mỹ (NCEP), Hệ thống dự mức kéo dài từ bề mặt tới 0,26 hPa. Độ phân đoán Khí hậu phân tích lại (CFSR) theo bước giải các đại dương trên toàn cầu là 0,250 tại thời gian 1 giờ với độ phân giải ngang 0,31250 đường xích đạo, kéo dài đến toàn cầu 0,50 vượt bao gồm ứng suất gió, tốc độ gió, thông lượng ra ngoài vùng nhiệt đới, với 40 mức tới độ sâu 4.737 m. Các sản phẩm đầu ra CFSR khí nhiệt và lượng mưa. Chu trình ngày được phân quyển, hải dương và bề mặt đất có sẵn tại độ tích tích hợp bởi tần số theo thời gian của đầu phân giải thời gian theo giờ và độ phân giải vào lực tác động. Sử dụng hệ thống các đồng theo phương ngang 0,50. Phân tích lại hóa dữ liệu hải dương kết kợp (NCODA) (reanalysis) này sẽ xác định các trạng thái trung (Cummings, 2005 [13], Cummings và bình của khí quyển, đại dương, bề mặt đất và Smedstad, 2013 [14]) cho hệ thống dữ liệu băng biển tiếp theo qua khí hậu chuẩn 30 năm đồng hóa. NCODA sử dụng các mô hình dự (1981 - 2010); cung cấp các điều kiện ban đầu báo như là các ước lượng đầu tiên theo sơ đồ có thể dự đoán được quá trình cần thiết cho biến phân 3D và đồng hóa các quan sát vệ tinh việc hiệu chỉnh dự báo khí hậu NCEP (từ 2 cao độ kế sẵn có (theo dõi thu được thông qua tuần đến 9 tháng); cũng như cung cấp các ước Trung tâm dữ liệu cao độ thuộc Văn phòng Hải tính và chẩn đoán các trạng thái khí hậu của trái dương học Hải quân Mỹ (NAVOCEANO)) đất, qua chu kỳ theo dữ liệu vệ tinh, cho nghiên quan sát vệ tinh và nhiệt độ bề mặt biển (SST) cứu khí hậu. Tên sản phẩm được chúng tôi lựa tại chỗ cũng như các mặt cắt thẳng đứng của chọn 32 năm cho giai đoạn 1979-2010: NCEP nhiệt độ và độ mặn tại chỗ từ các thiết bị XBT, Climate Forecast System Reanalysis (CFSR) các trạm phao Argo và trạm phao neo cố định. Selected Hourly Time-Series Products, January Tổng hợp MODAS được sử dụng cho phép 1979 to December 2010 (ds093.1). Ngoài ra, để chiếu hướng xuống của thông tin bề mặt (Fox mở rộng phân tích thêm tính biến động nhiệt độ và nnk., 2002) [15]. sau năm 2010, chúng tôi đã dữ dụng chuỗi số liệu từ 2011-2014 từ sản phẩm CFSv2. Nguồn KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU gốc sản phẩm này như sau: bắt đầu từ ngày Khu vực nghiên cứu được chúng tôi chọn 1/1/2011, CFSR đã được mở rộng bởi Hệ thống để phân tích các tiến trình nhiệt độ (nhiệt độ dự báo Khí hậu phiên bản 2 (CFSv2) trong không khí 2 m trên mặt biển và nhiệt độ bề mặt NCEP. Hiện tại mô hình đồng nhất theo biển), có phạm vi kinh độ từ 1050E đến 1140E phương thức CFSR vẫn được sử dụng như và vĩ độ từ 70N đến 220N (hình 1). Như đã trình trước đây. Vì vậy các dữ liệu xuất ra bởi bày ở phần phương pháp các giá trị nhiệt độ tại CFSv2 có thể được coi như một phần mở rộng liên tục của CFSR, ngoại trừ độ phân giải của các điểm trong vùng tính được tính trung bình các trường bề mặt và thông lượng đã tăng từ độ trên toàn vùng theo các biến trình trung bình phân giải 0,3 độ trong CFSR đến khoảng 0,2 độ tháng, trung bình năm và trung bình theo 5 năm ở CFSv2. Tên sản phẩm được chúng tôi lựa từ các giá trị nhiệt độ theo từng giờ với chuỗi chọn cho giai đoạn 4 năm tiếp theo (2011 - số liệu từ giai đoạn 1979 - 2010 có độ phân giải 2014): ds094.1: NCEP Climate Forecast lưới theo phương ngang  0,30 và giai đoạn từ System Version 2 (CFSv2) Selected Hourly 2011 - 2014 với độ phân giải lưới theo phương Time-Series Products. ngang  0,20. 257
  4. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long có xu thế giảm) thì nhiệt độ trung bình năm 2010 gần tương đương nhiệt độ trung bình năm 1998, ảnh hưởng của nhiệt độ nước biển dẫn đến sự tẩy trắng san hô vào các thời gian này tại vùng biển Phú Quốc, Côn Đảo có thể tham khảo tài liệu Võ Sĩ Tuấn, 2011 [16]. Đây là một điểm đặc biệt cần lưu ý khi đánh giá biến đổi khí hậu. Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, có một mối liên hệ tương đối chặt về xu thế của nhiệt độ và độ cao bề mặt nước biển trong thời gian nghiên cứu (hình 4). Nếu xét riêng rẽ theo trung bình từng tháng trong nhiều năm, nhiệt độ trung bình tháng (nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt biển) trên toàn vùng nghiên cứu có quan hệ khá chặt chẽ (hình 2), thấp nhất xảy ra cùng vào tháng 1/1984 (Tair = 21,140C (nhiệt độ không khí 2 m trên bề mặt biển), Tsea = 22,230C (nhiệt độ bề mặt biển). Trong khi cao nhất cho nhiệt độ không khí vào tháng 5/2010 (Tair = 28,980C) và nhiệt độ nước Hình 1. Khu vực nghiên cứu biến động nhiệt biển cao nhất vào tháng 6/2010 (Tsea = độ theo giai đoạn 1979 - 2014 29,260C), năm mà có hiện tượng mực nước cao bất thường theo nghiên cứu của Fang và nnk., Biến động nhiệt độ 2014 [1]. Vị trí mà nhiệt độ đạt giá trị cao nhất xảy ra vào tháng 4/2003 (giai đoạn El Niño Theo các kết quả của Fang và nnk., 2014 trung bình đang suy giảm), cụ thể nhiệt độ [1] độ cao bề mặt biển trong giai đoạn 1993 - không khí cao nhất tại (105,62500E; 2010 có biến đổi vào mùa hè (từ tháng 7 - 9) ở 11,39640N) với 32,400C và nhiệt độ nước biển Biển Đông với ba sự chuyển pha vào các năm đạt giá trị cao nhất tại (105,62500E; 11,39640N) 1998, 2001 và 2010. Trong đó trong giai đoạn với 33,490C (hình 2). 2006 - 2010 có sự tăng nhanh bất thường, mực nước biển đạt cao nhất vào năm 2010. Từ các Theo tiến trình nhiệt độ năm (hình 3), kết quả phân tích nhiệt độ (nhiệt độ không khí chúng ta thấy rằng có ba giai đoạn nhiệt độ 2 m trên mực nước biển và nhiệt độ nước biển biến đổi khá đặc biệt 1987, 1998 và 2010. Tuy tại tầng mặt), chúng tôi thấy rằng, xét trên giai nhiên về hình dạng, xu thế biến đổi năm 2010 đoạn 18 năm từ năm 1993 - 2010 thì hiện tượng khá đặc biệt không giống như năm 1987 (năm nhiệt độ trung bình năm đạt giá trị cao nhất là El Niño trung bình) và 1998 (năm El Niño năm 2010. Nhưng xét từ giai đoạn 36 năm từ mạnh). Chênh lệch giữa nhiệt độ không khí và 1979 đến 2014 thì có ba giai đoạn nhiệt độ nhiệt độ bề mặt biển trung bình khoảng 0,460C. trung bình năm toàn vùng nghiên cứu đạt giá trị Các biến trình không khí theo năm giữa hai đại cao so với các năm khác. Các năm đạt giá trị lượng không khí khá theo quy luật năm, tuy nhiệt độ cao là năm 1987 (giai đoạn phát triển nhiên có một điều dễ nhận thấy là độ lớn nhiệt El Niño mạnh), 1998 (giai đoạn suy giảm El độ có xu thế tăng dần từ năm 2000 đến 2007 và Niño mạnh) và năm 2010 (giai đoạn đang phát biến đổi phức tạp từ năm 2008 - 2012. Các biến triển La Niña mạnh). Rõ ràng, năm 2010 là một trình nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước bề năm khá đặc biệt (là năm mà hiện tượng La mặt có cùng diễn biến theo quy luật năm, tuy Niña mạnh đang phát triển) sau đó nhiệt độ nhiên có một điều dễ nhận thấy là nhiệt độ có giảm đi khá nhanh xuống thấp nhất trong năm xu thế tăng cao hơn từ năm 2000 đến 2007 và 2011. Song nhìn ở góc độ khác hơn thì thấy biến đổi phức tạp hơn từ năm 2008 - 2012. rằng trong giai đoạn 36 năm từ 1979 - 2014 (là Nhiệt độ cao nhất trong giai đoạn phân tích là giai đoạn nhìn chung hiện tượng La Niña mạnh năm 1998 (Tair = 26,660C, Tsea = 27,110C). Theo 258
  5. Ảnh hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi … phân tích thì nếu xét trên trung bình năm trong sự suy giảm bất thường nhiệt độ thấp của năm 36 năm thì nhiệt độ trung bình năm 1987 cao 2011 (hình 5b). đứng thứ 10 cho nhiệt độ không khí và cao Mùa gió Tây Nam (từ tháng 6 - 8), không đứng thứ 6 cho nhiệt độ nước biển tầng mặt, do xuất hiện dị thường trong năm 1987, xét nhiệt đó năm 1987 được coi là sự tăng bất thường độ trung bình còn thấp hơn cả năm 1988 theo giai đoạn 1979 - 1995. Nếu xét trên (hình 5c). Các biến đổi này có thể sẽ ảnh hưởng phương diện biến trình nhiệt độ theo mùa: đến hiện tượng nước trồi mạnh khu vực Nam Mùa gió Đông Bắc (tính trung bình từ Trung Bộ (Bùi Hồng Long và Trần Văn Chung tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) thì (2009-2010) [11, 12]). Vấn đề này sẽ được chỉ thể hiện dị thường của năm 1998 và năm chúng tôi nghiên cứu chi tiết hơn trong các 2010 (hình 5a). công trình tiếp theo. Mùa gió chuyển tiếp từ Đông Bắc sang Mùa chuyển gió Tây Nam sang mùa gió Tây Nam (CT 1), sự xuất hiện của 3 bất thường Đông Bắc (CT 2), xuất hiện dị thường nhiệt độ đã thể hiện khá rõ trong năm 1987, 1998 và 1987 và 1998 nhưng không thấy sự bất thường năm 2010 và có một đặc trưng khá đặc biệt là của nhiệt độ trong năm 2010 (hình 5d). Hình 2. Biến trình nhiệt độ theo trung bình tháng trong khu vực nghiên cứu bắt đầu từ tháng 1/1999 đến tháng 12/2014 (Tair: nhiệt độ không khí 2 m trên mặt biển, Tsea: nhiệt độ bề mặt biển) Hình 3. Biến trình nhiệt độ theo trung bình năm (Tair: nhiệt độ không khí 2 m trên mặt biển, Tsea: nhiệt độ bề mặt biển) 259
  6. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long Hình 4. Biến trình nhiệt độ theo trung bình 5 năm (Tair: nhiệt độ không khí 2 m trên mặt biển, Tsea: nhiệt độ bề mặt biển) Hình 5a. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa gió Đông Bắc (từ tháng 12 - 2) theo năm Hình 5b. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa gió chuyển tiếp 1 (từ tháng 3 - 5) theo năm Hình 5c. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa gió Tây Nam (từ tháng 6 - 8) theo năm 260
  7. Ảnh hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi … Hình 5d. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa gió chuyển tiếp 2 (từ tháng 9 - 11) theo năm Căn cứ theo biến trình nhiệt độ trong 5 khí hậu có khoảng thời gian từ 5 năm đến thập năm (hình 4), khả năng ảnh hưởng biến đổi kỷ. Thông tin về biến trình nhiệt độ được thể khí hậu là hoàn toàn xảy ra trong vùng nghiên hiện trong bảng 1 (cho 5 năm) và bảng 2 (cho cứu. Bước đầu có thể nhận xét các biến đổi 10 năm). Bảng 1. Dao động các giá trị nhiệt độ (0C) trong giai đoạn 5 năm Mùa gió Đông Bắc Mùa gió CT 1 Mùa gió Tây Nam Mùa gió CT 2 Trung bình năm Giai đoạn Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea 1979-1983 22,81 23,62 26,6 26,93 27,5 27,84 25,88 26,59 25,7 26,24 1984-1988 22,72 23,49 26,28 26,57 27,45 27,72 25,66 26,34 25,53 26,03 1989-1993 22,95 23,63 26,35 26,66 27,51 27,76 25,64 26,19 25,61 26,06 1994-1998 23,13 23,98 26,56 26,85 27,79 28,06 26,00 26,5 25,87 26,35 1999-2003 23,31 23,97 26,82 27,11 27,78 28,03 26,12 26,64 26,01 26,44 2004-2008 23,17 23,75 26,66 26,89 27,98 28,20 26,36 26,82 26,04 26,41 2009-2013 23,17 23,85 26,5 26,78 27,87 28,12 26,16 26,67 25,93 26,35 Bảng 2. Dao động các giá trị nhiệt độ trong giai đoạn 10 năm Mùa gió Đông Bắc Mùa gió CT 1 Mùa gió Tây Nam Mùa gió CT 2 Trung bình năm Giai đoạn Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea Tair Tsea 1979-1988 22,76 23,55 26,44 26,75 27,47 27,78 25,77 26,47 25,61 26,14 1989-1998 23,04 23,8 26,45 26,76 27,65 27,91 25,82 26,35 25,74 26,20 1999-2008 23,24 23,86 26,74 27,00 27,88 28,11 26,24 26,73 26,02 26,43 Dao động độ cao mực nước biển đạt giá trị thấp nhất và ít dao động nhất, tháng điển hình mùa gió Tây Nam, tháng thường Theo kết quả phân tích chuỗi số liệu độ cao xuyên xảy ra hiện tượng nước trồi Nam Trung mực nước biển trung bình trong 20 năm từ 1993 Bộ. Sau tháng 8 độ cao mực nước dâng lên tới đến 2012 (từ chuỗi số liệu HYCOM + NCODA tháng 12, đại diện cho mùa chuyển tiếp từ Tây Global 1/12,50 reanalysis). Các nghiên cứu được Nam đến Đông Bắc. Rõ ràng trong tiến hình độ chúng tôi tập trung phân tích trên phạm vi vùng dâng mực nước, thì trong mùa gió Tây Nam, sự biển trong khung hình màu đỏ (hình 1). Theo kết dao động độ dâng giữa các tháng là không đáng quả phân tích độ cao mực nước 20 năm từ 1993 kể. Đây cũng là một đặc trưng quan trọng của - 2012, chúng tôi thấy rằng bắt đầu từ tháng 12 - khu vực nghiên cứu (hình 6). 3, độ cao mực nước suy giảm (mùa gió Đông Bắc) và tăng ít từ tháng 3 - 5 và giảm từ tháng 5 Trên cơ sở trung bình tháng trong 20 năm, - 6 (phản ánh mùa gió chuyển tiếp từ Đông Bắc vào tháng 11/2008 độ cao mực nước đạt giá cao sang Tây Nam. Từ tháng 6 - 8, độ cao mực nước nhất (85,31 cm) (năm có hiện tượng La Niña 261
  8. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long cường độ yếu giai đoạn suy giảm) và thấp nhất hiệu tăng độ cao bề mặt từ tháng 9/2007 (trên đạt 57,74 cm vào tháng 8/1994 (năm có hiện biểu đồ hình 7 là số “176” trên trục hoành (trục tượng El Niño cường độ trung bình giai đoạn thời gian)) có thể do ảnh hưởng của biến đổi đang phát triển) và vị trí tại đó giá trị độ cao bề khí hậu. Vấn đề này sẽ tiếp tục nghiên cứu mặt biển đạt lớn nhất trong tiến trình 20 năm tại trong các giai đoạn tiếp theo để tìm được lời (110,40000E; 20,64000N) là 186,9 cm vào giải pháp chính xác hơn. tháng 10/2000 (giai đoạn đang phát triển La Theo trung bình năm, các giá trị độ cao bề Niña cường độ yếu) (hình 7). mặt nước tăng cao trong năm 2001 (77,93 cm) Trong tiến trình thời gian theo trung bình (giai đoạn La Niña cường độ yếu đang suy tháng trong 20 năm, phân tích trên đường xu giảm) và năm 2010 (76,86 cm) (giai đoạn La thế biến đổi độ cao bề mặt biển cho thấy có dấu Niña cường độ mạnh đang phát triển) (hình 8). Hình 6. Độ cao mực nước (cm) trung bình theo tháng trong 20 năm (1993 - 2012) Hình 7. Biến trình độ cao mực nước trung bình tháng (cm) bắt đầu từ năm 1993 - 2012 Hình 8. Biến trình độ cao mực nước trung bình năm (cm) từ năm 1993 - 2012 262
  9. Ảnh hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi … Trong mùa gió Đông Bắc, trên biến trình Trong mùa gió Tây Nam, có sự khác biệt độ cao mực nước biển (hình 9a) thấy xuất hiện khá rõ so với biến trình độ cao mực nước biển của dị thường độ dâng vào năm 2001 (giai đoạn trong mùa gió chuyển tiếp 1. Trong 2 lần giai suy tàn của La Niña cường độ yếu). Theo Fang đoạn 8 năm từ năm 1993 - 2000 và từ 2002 - và nnk., 2014 [1] thì đây cũng là giai đoạn của 2009, dao động mực nước có xu thế ngược biến đổi khí hậu. nhau (hình 9a). Tuy nhiên, độ dâng dị thường mực nước vẫn thể hiện khá rõ trong năm 2001 Trong mùa gió chuyển tiếp 1 (từ Đông và năm 2010 (cách 10 năm) (hình 9c). Bắc sang Tây Nam), trong vòng 20 năm xuất hiện 3 độ cao mực nước bất thường vào năm Trong mùa gió chuyển tiếp 2, độ dâng 1994, 2001 và 2010. Trong đó, sự xuất hiện của mực nước bất thường năm 2010 biến mất, trong dị thường độ cao năm 1994, xảy ra trong giai đó độ dâng bất thường của năm 2001 vẫn còn đoạn đang phát triển El Niño cường độ mạnh. duy trì. Trong biến trình độ cao mực nước mùa Trong đó, sự xuất hiện dị thường trong năm chuyển tiếp này, xuất hiện độ dâng mực nước 2001 và 2010 do ảnh hưởng của giai đoạn La bất thường năm 1996 (giai đoạn suy tàn La Niña (hình 9b). Niña cường độ yếu) (hình 9d). Hình 9a. Biến trình độ cao mực nước biển trung bình năm điển hình trong mùa gió Đông Bắc (12-2) Hình 9b. Biến trình độ cao mực nước biển trung bình năm điển hình trong mùa gió chuyển tiếp 1 Hình 9c. Biến trình độ cao mực nước biển trung bình năm điển hình trong mùa gió Tây Nam (6-8) 263
  10. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long Hình 9d. Biến trình độ cao mực nước biển trung bình năm điển hình trong mùa gió chuyển tiếp 2 Từ các phân tích tiến trình độ cao mực động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu đến khu nước biển trong 4 chế độ mùa gió, chúng tôi vực nghiên cứu tạo nên hiệu ứng tăng độ cao thấy rằng gần như độ dâng bất thường của mực mực nước trung khoảng 1,19 cm. Tuy nhiên, nước thường xuất hiện trong giai đoạn chịu ảnh theo phân tích theo 4 mùa gió, thì chỉ vào mùa hưởng của hiện tượng La Niña. Trong phân tích gió Tây Nam có hiệu ứng giảm độ cao mực dữ liệu độ cao mực nước biển trong giai đoạn 5 nước khoảng 1,15 cm, có thể do hiệu ứng nóng năm (bảng 3) và 10 năm (bảng 4), đã thấy có sự lên, gia tăng sự bốc hơi nước và suy giảm gia tăng độ cao mực nước biển theo chu kỳ lượng giáng thủy (lượng mưa vào mùa hè). thập niên, có thể giải thích lý do này là do tác Bảng 3. Giá trị độ cao mực nước trung bình (cm) trong giai đoạn 5 năm Mùa gió Đông Bắc Mùa gió CT 1 Mùa gió Tây Nam Mùa gió CT 2 Trung bình Giai đoạn (12 - 2) (3 - 5) (6 - 8) (9 - 11) năm 1993-1997 68,98 67,98 66,45 70,18 68,4 1998-2002 73,39 70,14 71,22 74,99 72,43 2003-2007 70,26 68,8 64,75 71,46 68,82 2008-2012 76,23 73,76 70,64 76,94 74,40 Bảng 4. Giá trị độ cao mực nước trung bình (cm) trong giai đoạn 10 năm Mùa gió Đông Bắc Mùa gió CT 1 Mùa gió Tây Nam Mùa gió CT 2 Trung bình Giai đoạn (12 - 2) (3 - 5) (6 - 8) (9 - 11) năm 1993-2002 71,18 69,06 68,84 72,59 70,42 2003-2012 73,25 71,28 67,69 74,20 71,61 NHẬN XÉT VÀ THẢO LUẬN nước khu vực hầu như không tăng. Các năm vào mùa gió Tây Nam có mực nước cao tương Có sự liên quan chặt chẽ giữa nhiệt độ nước đối là 1993, 1996, 1998, 2001, 2008, 2010. Các trên bề mặt biển và độ cao mực nước biển trong năm vào mùa gió Tây Nam có mực nước thấp khu vực nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy tương đối là: 1994, 1997, 1999, 2002, 2009, nhiệt độ bề mặt biển và mực nước biển biến 2011 có liên quan đến hiện tượng El Niño và động theo tháng, mùa, năm, 5 năm, 10 năm và La Niña. dài hơn … Các hiện tượng tăng đột biến của độ cao mực nước trong trường gió mùa Tây Nam Từ các kết quả phân tích mực nước 20 năm trong năm 1998, 2001 và 2010 có thể đã làm bước đầu có thể nhận xét rằng xu thế diễn biến suy yếu hiện tượng nước trồi tại khu vực Nam của mực nước trong khoảng thời gian từ 3 - 7 Trung Bộ. Xu thế tăng mực nước trong khu vực năm. Sự tăng bất thường độ cao mực nước có thể tách thành các giai đoạn 1993 - 2001, trong 2001 và 2010 đều nằm trong thời kỳ hoạt 2007 - 2010, còn giai đoạn 2002 - 2005 mực động của La Niña. Theo phân tích biến trình 264
  11. Ảnh hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi … thời gian của độ cao bề mặt nước biển từ chuỗi 2. Cheng, X., and Qi, Y., 2007. Trends of sea số liệu 20 năm từ 1993 - 2012 của HYCOM + level variations in the South China Sea NCODA phân tích lại quy mô toàn cầu 1/12,50, from merged altimetry data. Global and đã thấy xuất hiện sự gia tăng độ cao mực nước Planetary Change, 57(3): 371-382. nhanh bắt đầu từ năm 2007, bước đầu có thể 3. Swapna, P., Gan, J., Lau, A., and Fung, J., nói đã có ảnh hưởng đến sự biến đổi khí hậu 2009. On the warm/cold regime shift in the trong khu vực Biển Đông. Vấn đề sự biến đổi South China Sea: Observation and bất thường mực nước trong năm 2010 đã được modeling study. Deep Sea Research Part I: lý giải bởi sự đóng góp đáng kể của sự gia tăng Oceanographic Research Papers, 56(7): bất thường bởi nhiệt độ. Các phân tích nhiệt độ 1039-1056. không khí và nhiệt độ bề mặt biển đã cho thấy, có sự biến đổi khí hậu trong giai đoạn từ năm 4. Fang, G., Chen, H., Wei, Z., Wang, Y., 1979 - 2014 mà năm 2010 là một dấu hiệu đặc Wang, X., and Li, C., 2006. Trends and biệt so sự tăng bất thường của nhiệt độ trong interannual variability of the South China năm xảy ra hiện tượng La Niña mạnh ở giai Sea surface winds, surface height, and đoạn đang phát triển và sau đó năm 2011 (trong surface temperature in the recent decade. giai đoạn La Niña đang suy tàn) nhiệt độ giảm Journal of Geophysical Research: Oceans, gần như thấp nhất trong thời gian phân tích 111(C11). (1979 - 2014). 5. Häkkinen, S., and Rhines, P. B., 2004. Decline of subpolar North Atlantic Sự biến đổi mực nước biển, nhiệt độ không circulation during the 1990s. Science, khí sát bề mặt, nhiệt độ nước trên bề mặt biển 304(5670): 555-559. khu vực nghiên cứu có chịu sự tác động của biến đổi khí hậu song không chỉ liên quan đến 6. Saha, S., Moorthi, S., Wu, X., Wang, J., các pha ENSO (ấm, lạnh) mà còn liên quan đến Nadiga, S., Tripp, P., Behringer, D., Hou, các quá trình khác có chu kỳ mùa, liên mùa, Y-T., Chuang, H-Y., Iredell, M., Ek, M., năm, nhiều năm, thập kỷ, … đây là những vấn Meng, J., Yang, R., Mendez, M. P., van den đề mới mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu. Dool, H., Zhang, Q., Wang, W., Chen, M., Các kết quả nghiên cứu trên thấy rằng cần phải and Becker, E.,, 2014. The NCEP climate mở rộng phạm vi nghiên cứu cho nhiều yếu tố forecast system version 2. Journal of tác động khác với cách tiếp cận mới, khoa học Climate, 27(6): 2185-2208. và toàn diện hơn khi nghiên cứu biến đổi khí 7. Yaremchuk, M., McCreary Jr, J., Yu, Z., hậu trên vùng Biển Đông. and Furue, R., 2009. The South China Sea Throughflow Retrieved from Lời cảm ơn: Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân Climatological Data*. Journal of Physical thành đến Ban chủ nhiệm nhiệm vụ NVNĐT Oceanography, 39(3): 753-767. Hợp tác Quốc tế Việt Nam-Hoa Kỳ (2013 - 2015) và đề tài cấp nhà nước: “Xây dựng cơ sở 8. Metzger, E. J., Hurlburt, H. E., Xu, X., dữ liệu số các yếu tố hải dương từ nguồn ảnh Shriver, J. F., Gordon, A. L., Sprintall, J., Susanto, R. D., and van Aken, H. M., 2010. VNREDSat-1 và các ảnh viễn thám khác cho Simulated and observed circulation in the khu vực ven biển Ninh Thuận-Bình Thuận Indonesian Seas: 1/120 global HYCOM and phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững, mã the INSTANT observations. Dynamics of số: VT/UD-07/14-15” và các đồng nghiệp Atmospheres and Oceans, 50(2): 275-300. trong nhóm nghiên cứu đã góp ý và hỗ trợ giúp chúng tôi hoàn thành bài báo này. 9. Gao, J., Xue, H., Chai, F., and Shi, M., 2013. Modeling the circulation in the Gulf TÀI LIỆU THAM KHẢO of Tonkin, South China Sea. Ocean 1. Fang, W., Qiu, F., and Guo, P., 2014. Dynamics, 63(8): 979-993. Summer circulation variability in the South 10. Xue, Z., Liu, J. P., DeMaster, D., Leithold, China Sea during 2006 - 2010. Journal of E. L., Wan, S., Ge, Q., Nguyen, V. L., and Marine Systems, 137, 47-54. Ta, T. K. O., 2014. Sedimentary processes 265
  12. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long on the Mekong subaqueous delta: Clay Meteorological Society, 131(613): 3583- mineral and geochemical analysis. Journal 3604. of Asian Earth Sciences, 79, 520-528. 14. Cummings, J. A., and Smedstad, O. M., 11. Long, B. H., and Van Chung, T., 2010. 2013. Variational data assimilation for the Some experimental calculations for 3D global ocean. In Data Assimilation for currents in the strong upwelling region of Atmospheric, Oceanic and Hydrologic Southern Central Vietnam using finite Applications (Vol. II) (pp. 303-343). element method. Marine Biodiversity of Springer Berlin Heidelberg. East Asian Seas: Status, Challenges and 15. Fox, D. N., Teague, W. J., Barron, C. N., Sustainable Development, 165-177. Carnes, M. R., and Lee, C. M., 2002. The Modular Ocean Data Assimilation System 12. Bùi Hồng Long, Trần Văn Chung, 2009. (MODAS)*. Journal of Atmospheric and Tính toán dòng chảy trong khu vực nước Oceanic Technology, 19(2): 240-252. trồi Nam Trung Bộ bằng mô hình dòng 16. Võ Sĩ Tuấn, 2011. Biến động đa dạng sinh chảy ba chiều (3-D) phi tuyến. Tạp chí học rạn san hô vịnh Nha Trang và các giải Khoa học và Công nghệ biển, 9(2): 1-25. pháp quản lý. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị 13. Cummings, J. A., 2005. Operational Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần multivariate ocean data assimilation. V. Tiểu ban Sinh học và Nguồn lợi Sinh vật Quarterly Journal of the Royal biển. Tr. 29-39. EFFECTS OF TEMPERATURE FIELD AND ABNOMAL VARIATIONS OF SEA WATER LEVEL IN EAST VIETNAM SEA IN RELATIONSHIP TO GLOBAL CLIMATE CHANGE Tran Van Chung, Bui Hong Long Institute of Oceanography-VAST ABSTRACT: During 2010, the sea water level in East Vietnam Sea has been raised with an extremely high amplitude as many foreign authors recorded recently that was derived from the analysis of multi temporal (1993 - 2010) satellite altimeter data series. This is one of anomalous changes of nature that was strongly relative to climate change. In another aspect, by using the combination of temporal-spatial changes of the air temperature, sea surface temperature as well as seawater level, authors will try to explain more clearly this above interesting phenomenon that happened in East Vietnam Sea. The used data series in this study were obtained from reanalysis data of CFSR-NCEP with time step of 1 hour and spatial resolution of 0.3150, and data series of sea water level was derived from HYCOM+NCODA with grid size of 1/12.50. The analyzed results explained more clearly the strong relationship of climate change with temporal change of the air and the sea water temperatures as well as sea level rise in the area of East Vietnam Sea. Keywords: Climate change, air temperature, sea surface temperature (SST), seawater level, air-sea interaction, NCEP, CFSR, HYCOM, NCODA. 266