Xem mẫu

  1. Amiodaron (Kỳ 2) Amiodaron cũng tương tác với các thuốc chống trầm cảm ba vòng (như amitriptylin, ELAVIL) hoặc các phenothiazid (như chlopromazin, THORAZINE) và có thể gây loạn nhịp nghiêm trọng. Amiodaron tương tác với warfarin (COUMADIN) và làm tǎng nguy cơ chảy máu. Chảy máu có thể nặng và thậm chí gây tử vong. Tác dụng này có thể xảy ra sớm sau 4-6 ngày dùng phối hợp thuốc hoặc muộn sau một vài tuần. Amiodaron ức chế chuyển hóa dextromethorphan, một thuốc giảm ho có trong hầu hết các thuốc không (và một vài thuốc có) kê đơn chữa cảm lạnh và ho (như ROBITUSSIN-DM). Mặc dù chưa rõ ý nghĩa của tương tác này, nên tránh dùng hai thuốc này cùng nhau nếu có thể.
  2. Vì amiodaron lưu lại trong cơ thể một thời gian dài. Các tương tác thuốc có thể xảy ra trong nhiều tuần sau khi ngừng amiodaron. Cholestyramin (QUESTRAN) có thể làm tǎng đào thải amiodaron, có lẽ bằng cách gắn với thuốc trong đường tiêu hóa. Đối với phụ nữ có thai: Nói chung không nên dùng amiodaron trong thời gian mang thai vì đã có những báo cáo về thiểu nǎng giáp hoặc cường giáp ở trẻ do bà mẹ uống amiodaron trong khi có thai. Tuy nhiên, nếu việc dùng amiodaron được xem là tối cần thiết, bệnh nhân cần được cảnh báo về nguy cơ đối với thai nhi. Đối với bà mẹ cho con bú: Chưa xác định được độ an toàn của amiodaron ở những bà mẹ cho con bú trong thời gian điều trị. Tác dụng phụ: Khoảng 7/10 bệnh nhân uống amiodaron bị một loại phản ứng phụ nào đó, và 1/20-1/5 bị những phản ứng phụ nặng đến mức phải ngừng thuốc. Tác dụng phụ nặng nhất của liệu pháp amiodaron liên quan đến phổi. Phản ứng này có thể gây tử vong. (1/10 số bệnh nhân bị nhiễm độc phổi sẽ chết). Bệnh nhân cần thông báo về mọi triệu chứng ho, sốt hoặc thở đau. Bệnh nhân đang bị bệnh phổi không có vẻ tǎng nguy cơ nhiễm độc phổi do amiodaron mặc dù tiên lượng của họ xấu hơn nếu họ bị những tác dụng phụ này.
  3. Mặc dù khá hiếm gặp, nhiễm độc gan gây tử vong có thể xảy ra với liệu pháp amiodaron. Nhiễm độc gan có thể biểu hiện bằng sút cân, gan to, cổ trướng, đau bụng, chán ǎn hoặc viêm gan. ở một số trường hợp, có thể giảm liều amiodaron. ở một số trường hợp khác cần ngừng dùng amiodaron. Amiodaron có thể gây một số loạn nhịp tim, mặc dù tỷ lệ loạn nhịp tim do amiodaron có vẻ thấp hơn các thuốc dùng điều trị loạn nhịp khác. (Điều này nghe có vẻ nghịch lý vì amiodaron là được dùng để điều trị loạn nhịp). Chưa đến 1/20 bệnh nhân suy tim ứ huyết dùng amiodaron bị suy tim nặng hơn. Có thể xảy ra hạ huyết áp. Khoảng 1/2 - 1/5 bệnh nhân dùng amiodaron bị nhiễm độc thần kinh. Các triệu chứng có thể bao gồm mất thǎng bằng hoặc thay đổi dáng đi, run, cử động cơ thể không kiểm soát được, tê ngón tay hoặc ngón chân, hoa mắt, yếu cơ, mệt mỏi hoặc mất điều vận. May thay, các triệu chứng này không nặng đến mức phải ngừng thuốc. Thay vì thế, chúng có thể biến mất khi giảm liều. Có tới 1/4 bệnh nhân dùng amiodaron bị một thể nào đó của chức nǎng tuyến giáp bất thường, vì phân tử thuốc có quan hệ về mặt hóa học với chính hormon tuyến giáp. Nhược giáp có vẻ hay gặp hơn cường giáp. Các triệu chứng của cường giáp bao gồm ra nhiều mồ hôi, sút cân, rối loạn giấc ngủ, tǎng nhạy cảm với nóng, tǎng nhịp tim, bướu cổ, run hoặc cǎng thẳng. Các triệu chứng của
  4. nhược giáp bao gồm không chịu được lạnh, da khô, tǎng cân và mệt mỏi bất thường. Khoảng 1/10 bệnh nhân uống amiodaron có đáp ứng quá mức với tác động có hại của ánh nắng, đặc biệt với tia cực tím A bước sóng dài (UVA). Tác động này có thể xảy ra thậm chí qua kem chống nắng và/hoặc vải bông. Kem chống nắng chuẩn không ngǎn ngừa được tác động này trừ phi chứng cũng hấp thu tia UVA. Những kem chống nắng mờ đục như oxid kẽm hay dioxid titan có tác dụng bảo vệ thích hợp. Cần tránh phơi nắng lâu và sử dụng quần áo bảo vệ để giúp ngǎn ngừa phản ứng có hại này. Dùng amiodaron dài ngày đôi khi làm da chuyển thành màu xanh xám. Tác dụng này hay gặp hơn ở bệnh nhân có da trắng. Hiện tượng đổi màu này hồi phục chậm khi ngừng dùng amiodaron; tuy nhiên, đôi khi sự hồi phục là không hoàn toàn. Khoảng 1/4 số bệnh nhân bắt đầu dùng liệu pháp amiodaron bị buồn nôn, nôn, chán ǎn, táo bón hoặc đau bụng. Tác dụng phụ này đặc biệt hay gặp trong giai đoạn điều trị tấn công ban đầu, khi liều dùng cao. May thay, chúng thường không dẫn đến phải ngừng thuốc. Uống amiodaron cùng với đồ ǎn có thể làm giảm nguy cơ tác dụng này. Chừng 1/10 bệnh nhân uống amiodaron bị suy giảm hoặc nhiễu loạn thị lực, như nhìn quầng, nhìn lóa, sợ ánh sáng và khô mắt. Lắng đọng giác mạc
  5. (lắng đọng vi thể) xảy ra ở hầu hết các bệnh nhân dùng amiodaron trong ít nhất 6 tháng. Các lắng đọng này không gây ra bất kỳ triệu chứng nào, và không có mối liên quan giữa những lắng đọng này và các nhiễu loạn thị lực đã mô tả ở trên. Các tác dụng khác trên mắt hiếm gặp và bao gồm đục thuỷ tinh thể và những bất thường của dây thần kinh thị giác. Amiodaron cũng làm giảm ham muốn tình dục.