Tiểu luận đề tài: Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời kỳ trung đại

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 16 | Page: 23 | FileSize: 0.38 M | File type: PDF
of x

Tiểu luận đề tài: Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời kỳ trung đại. Trong thế giới cổ đại phương Đông xuất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và những thành tựu văn hóa và các quốc gia cổ đại này đạt được đã đánh dấu một bước tiến dài của xã hội loài người trong tiến trình phát triển của văn minh nhân loại. Một trong bốn trung tâm văn hóa lớn đó là Trung Hoa. Mặc dù văn minh Trung Hoa được xem là nền văn minh xuất hiện sớm trên.... Cũng như các giáo án bài giảng khác được bạn đọc chia sẽ hoặc do sưu tầm lại và chia sẽ lại cho các bạn với mục đích nâng cao trí thức , chúng tôi không thu tiền từ người dùng ,nếu phát hiện tài liệu phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho website ,Ngoài giáo án bài giảng này, bạn có thể tải đề thi, giáo trình phục vụ học tập Có tài liệu tải về lỗi font chữ không xem được, thì do máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn tải các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://tailieumienphi.vn/doc/tieu-luan-de-tai-thanh-tuu-cua-van-hoa-trung-hoa-thoi-ky-trung-dai-3a82tq.html

Nội dung


  1. TIỂU LUẬN Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời kỳ trung đại 1
  2. MỞ ĐẦU Trong thế giới cổ đại phương Đông xu ất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và những thành tựu văn hóa và các quốc gia cổ đại này đạt đ ược đ ã đánh d ấu một b ước tiến d ài của xã hội lo ài người trong tiến trình phát triển của văn minh nhân loại. Một trong bốn trung tâm văn hóa lớn đó là Trung Hoa. Mặc dù văn minh Trung Hoa được xem là nền văn minh xuất hiện sớm trên thế giới nhưng so với các trung tâm văn minh khác ở phương Đông thì xuất hiện muộn hơn (kho ảng cuối thiên niên kỉ thứ III TCN). Tuy vậy, không trầm mặc, cổ kính như Ấn Độ, huyền bí như Ai Cập mà văn hóa của Trung Hoa thời cổ - trung đ ại này mang những sắc thái riêng và đ ậm màu sắc Trung Hoa (cổ - trung đại). Một nền văn hóa phát triển rực rỡ và những thành tựu văn hóa mà Trung Hoa đem lại không những có giá trị to lớn ở thời kì cổ trung đại mà còn có giá tr ị ở cả thời kì sau này. Điều này đ ược thể hiện rõ khi nghiên cứu và làm rõ những giá trị của những thành tựu văn hóa cũng như sức ảnh hưởng của nó đến văn hoá của các quốc gia khá NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa và những thành tựu văn hóa Trung Hoa thời cổ - trung đại 1.1. Khái quát về cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa 1 .1.1 Điều kiện tự nhiên Lãnh thổ Trung Hoa thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Hoa đa dạng, p hía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ p hì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.Trung Hoa có rất nhiều sông trong đó có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (hay sông Dương Tử). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây- đông. Những con sông này chảy qua đồng bằng làm cho đ ất đai phì nhiêu, tạo cơ sở cho kinh tế nông nghiệp sớm phát triển. Chính vì vậy, nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Lịch sử cổ đại Trung Hoa kéo dài gần 2000 năm (từ khoảng thế kỉ XXI TCN đến năm 221 TCN). Trong quá trình đó, đ ịa bàn của Trung Hoa từ lưu vực Hoàng Hà đã d ần dần được mở rộng. Tuy vậy, cho đến thế kỉ III TCN, phía bắc cả biên giới Trung Hoa chưa vượt qua d ãy Vạn lí Trường Thành ngày nay, phía tây mới đến tỉnh đông nam của tỉnh Cam Túc và phía Nam chỉ b ao gồm một dải đất nằm dọc theo hữu ngạn Trường Giang. 1.1.2. Lịch sử Con người đã sinh sống ở đất Trung Hoa cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh) có niên đ ại cách đây hơn 500.000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thu ỷ ở Trung Hoa b ước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời. Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Hoa chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Hoa là ở thời kì Tam Hoàng ( Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông ) và Ngũ Đế ( Ho àng đ ế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đ ế, Thuấn đế ). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thu ỷ. 1.1.3. Dân tộc Trung Hoa có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gốc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ).có 100 dân tộc ở Trung Hoa ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng. 2
  3. Dưới thời quân chủ, ở Trung Hoa tên nước đ ược gọi theo tên triều đại. Đồng thời người Trung Hoa cổ đại cho rằng nước họ là một quốc gia văn minh ở giữa xung quanh là các tộc người lạc hậu gọi là Man, Di, Nhung, Địch. Vì vậy, đất nước của họ còn đ ược gọi là Trung Hoa hoặc Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ tinh thần tự hào dân tộc sớm hình thành từ thời cổ đại. 1.2. Những thành tựu chủ yếu của Trung Hoa thời cổ trung đại Trung Hoa là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ - trung đại. Văn minh Trung Hoa thời cổ - trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương đông. 1.2.1. Về chữ viết: Chữ viết ở Trung Hoa cũng phát triển qua các thời kì : Theo truyền thuyết, từ thời hoàng đế, sử quan Thương Hiệt đã sang tạo ra chữ viết. Sự thực, đ ến đời Thương, chữ viết của Trung Hoa mới ra đời. Loại chữ viết đầu tiên này khắc trên mai Rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiên năm 1899 và được gọi là chữ g iáp cốt. Sở dĩ chữ đời Thương được khắc trên mai Rùa và xương thú (chủ yếu là xương quạt của bò) vì đó là những quẻ bói. Người Trung Hoa lúc bấy giờ mỗi khi muốn bói việc gì thì khắc nhưng điều muốn bói lên vai giờ hoặc xương thú, đục lỗ lở giữa rồi nung, sau đó theo những đ ường rạn nứt để đoán ý của trời đất qủy thần. Phương pháp cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là phương pháp tượng hình. Ví dụ: Chữ “nhật” (mặt trời) thì vẽ một vòng tròn nhỏ, ở giữa có một chấm. Chữ “ sơn” (núi) vẽ ba đỉnh núi. Chữ “ thủy” ( nước) thì vẽ ba lần sóng. Dần dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng trên cơ sở phương p háp tượng hình đã phát triển thành các lo ại chữ biểu ý và âm thanh. Cho đến nay đ ã phát hiện đ ược hơn 100.000 mảnh mai Rùa Và xương thú có khắc chữ giáp cốt. Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện được có khoảng 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ. Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn dài trên 100 chữ. Đến thời Tây Chu số lượng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn giản. Chữ viết tiêu biểu thời kì này là kim văn cũng gọi là chung đỉnh văn (chữ viết trên chuông đỉnh). Ngo ài đ ồ đồng chữ viết thời Tây Chu còn đ ược viết trên trống đá thẻ tre. Các loại chữ viết đầu tiên này được gọi chung là đại Triện cũng gọi là cổ văn thời Xuân thu - Chiên quốc do đất nước không thống nhất nên chữ viết cũng không thống nhất. Đến thời Tần, Lí Tư đ ã dựa vào chữ nước Tần kết hợp với chữ của nước khác, cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ thống nhất gọi là chữ tiểu Triện. Cuối thời Tần Thủy Hoàng (221- 206 TCN) đ ến thời Hán Tuyên Đế (73- 49 TCN) xuất hiện một kiểu chữ mới gọi là ch ữ lệ. Chữ lệ khác với ch ữ triện (còn giữ lại nhiều yếu tố tượng hình, do đó có nhiều nét cong, nét tròn ) còn chữ lệ thì biến những nét đó thành : ngang, b ằng, sổ, thẳng, vuông khúc ngay ngắn. Thời gian sử dụng chữ lệ không lâu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ Chân tức là chữ Hán ngày nay. 1.2.2. Về văn học Văn học Trung Hoa là một nền văn học rất phong phú và đa dạng, phát triển linh hoạt qua mỗi thời kì lịch sử mỗi vương triều. * Thời cổ đại Trước khi thống nhất các vương triều, văn học thời kì này quen gọi là TiềnTần, trong nền văn học Trung Hoa đ ã xu ất hiện nhiều tác phẩm kiệt xuất, trong đó nổi tiếng nhất là b ộ Kinh Thi và sở Từ - Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca đ ầu tiên của Trung Hoa, tập thơ cổ nhất của văn học Trung Hoa được viết dưới thời Chu. Kinh thi gồm những bài thơ, ca dao, dân ca, của nhân dân lao động và tầng lớp quý tộc (305 bài) ngoài ra có 6 bài gọi là Sinh thi (bài hát co tiếng sinh đệm theo) có đề mục mà không có lời. - Sở Từ là tác phẩm của nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên (340-278), người nước sở, vào thời Chiến quốc. 3
  4. Sở từ là một thể thơ mới sau Kinh thi. Thời bấy giờ, ở vùng Giang hán lưu hành một loại d ân ca câu dài, câu ngắn với hình thức tương đối tự do, hay d ùng chữ “Hề”. Khu ất Nguyên đ ã dung hình tức ấy để sang tác Li Tao, đó là Sở từ hay cũng gọi là “Tao thể”. Sở từ gồm Li Tao, Cửu Chương, Cửu Ca, Thiên Vấn và Chiêu Hồn, trong đó giá trị nhất và hay được nhắc đến là Li Tao. Với di sản văn học để lại cho hậu thế Khuất Nguyên được khẳng định là nhà thơ vĩ đại đ ầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Những bài thơ tràn đầy tình cảm nồng nhiệt của ông Tao thể” mà ông sang tạo đ ã làm cho sức biểu hiện thơ ca cực kì phong phú. Thủ pháp lãng mạn mà ông vận dụng trong Li Tao đã ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển Trung Hoa. Li tao đã trở thành biểu tượng của thơ ca Trung Hoa. * Thời kì trung đại: Văn học Trung Hoa phát triển đến đỉnh cao là ở thời kì này, với các thể loại nổi b ật: Phú (Hán), thơ (Đường), Từ (Tống), Kịch (Nguyên), Tiểu thuyết (Minh- Thanh). Thơ Đường: chiếm vị trí nổi bật trong các thành tựu văn hóa Đường, là đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa và nhân loại thời bấy giờ (VII-IX),với 50000 bài thơ của 2300 thi sĩ thể hiện b ằng những quy phạm chặt chẽ. Trong hằng hà sa số các nhà thơ đó, nổi tiếng nhất là 3 nhà thơ lớn: Lý Bạch, Đỗ Phủ, và Bạch Cư Dị + Những kiệt tác của thơ đường tiêu biểu: “Trường hận ca” và “T ỳ Bà Hành”. - Tiểu thuyết: đặc biệt phát triển vào thế kỉ XIV-XVIII. Thời kì này thuộc hai triều đại Minh (1368 -1644) và Thanh (1644-1911) b ởi vậy còn gọi là tiểu thuyết Minh Thanh, hay tiểu thuyết chương hồi, vì thể loại của nó là chương hồi, mỗi hồi ứng với một buổi kể, nhiều hồi thành một chương, ứng với một câu chuyện. Từ đời Tống (thế kỉ 12, 13) đ ã xu ất hiện các chuyện kể. Thời này kinh tế thương nghiệp phát triển, nhiều đô thị lớn hình thành. Trong các hội hè thường xuất hiện các nghệ nhân kể chuyện. Họ kể đủ thứ chuyện nhưng nhiều hơn cả là chuyện lịch sử xa xưa, chuyện các hảo hán anh hùng đã đ i vào truyền thuyết, chuyện các nhà sư đ ến Ân Độ Mang kinh Phật về dịch và truyền bá, chuyện tình duyên của các tài tử giai nhân…Các nhà văn thời Minh và Thanh đã sưu tầm các chuyện kể ấy gia công thêm bất trâu văn chương, hình thành hàng rong hơn loạt bộ tiểu thuyết có giá trị. Trong hơn 300 bộ tiểu thuyết thời bấy giờ, có các tác phẩm lớn và nổi tiếng: + Thủy Hử (Thi Nại Am): truyện kể về một số nhân vật anh hùng cuối thời Bắc Tống, vạch trần tội ác của xã hội p hong kiến; Biểu hiện lòng bất mãn và ý chí phản kháng của quần chúng nhân dân lao động. + Tam quốc chí diễn nghĩa (La Quán Trung): Tác phẩm được sáng tác trên cơ sở tiếp thu thành qu ả kể chuyện dân gian và nghệ nhân kể chuyện, cùng những căn cứ sự thật lịch sử. Tất nhiên, tác phẩm cũng không thiếu chỗ hư cấu, song hư cấu nhưng về cơ b ản là hợp tình, hợp lí, và đ ậm đ à tính nghệ thuật chân thực. Cho nên, có ý kiến cho rằng, trong Tam quốc chí diễn nghĩa “bảy phần sự thực, ba phần hư cấu”. Tác phẩm kể lại lịch sử gần một thế kỷ- từ năm 184- 280 SCN, chủ yếu khắc họa cuộc đấu tranh giữa ba tập đoàn chính trị: Ngụy, Thục, Ngô. + Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân): tác phẩm được sáng tác trên cơ sở câu truyện dân gian, với trí tưởng tượng phong phú, lạ lùng. Nội dung Tây Du Ký kể chuyện về Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung và thầy trò Đường Tăng, trải qua nghìn vạn khó khăn , hiểm trở đến Tây Thiên lấy kinh. + Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần). 1.2.3. Sử học Đến thời Tây Hán sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập mà người đ ặt nền móng là Tư Mã Thiên. Với tác phẩm Sử kí, bộ thông sử đầu tiên của Trung Hoa, Tư Mã Thiên đã ghi chép lịch sử 3000 năm từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế, trong đó chia làm năm phần là b ản kỉ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện. 4
  5. Tuy rằng quan điểm lịch sử của Tư Mã Thiên chủ yếu là quan điểm của giai cấp phong kiến, nhưng qua sử kí, Tư Mã Thiên đ ã bộc lộ nhiều tình cảm với nhân dân, ca ngợi sự tích anh hung và mỉa mai châm biếm những việc làm b ạo ngược của bọn vua chúa. Sau sử kí, trong giai đoạn từ Hán đến Nam- Bắc triều có hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Việp … Bắt đầu từ thời đ ường trên lĩnh vực sử học có hai vấn đề mới, đó là việc thành lập cơ quan biên so ạn lịch sử của nhà nước- gọi là “ sử quán” và việc ra đ ời những tác phẩm lớn với những thể tài mới. Chính Quốc sử quán thời Đường đã so ạn được cấc bộ sử Tấn thư, Luơng thư, Trần thư, Bắc Tề thư, Chu thư,…T ừ đó về sau, các bộ sử của các triều đại đều do nhà nước biên soạn. Tông sử, Nguyên sử, Minh sử… Bên cạnh những bộ sử, các triều đại còn có một số tác phẩm lớn viết theo các thể tài khác như Sử thông của Lưu Tri Cô, Thông điển của Đỗ Hữu thời Đuờng, Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tống. Thời Minh- Thanh, cơ quan chép sử của nhà nước cũng biên so ạn đ ược nhiều tác phẩm như: Minh thực lục, Minh sử, Đại Minh nhất thống chí, Thanh thực lục, Đại Thanh nhất thống chí,… Ngoài ra, những tác phẩm sử học do các sử gia khác viết theo các thể biên niên, kỉ sự bản mạt, tạp sự, bút kí…cũng rất nhiều. Những bộ sách trên là những di sản văn hoá vô cùng quý báu của Trung Hoa và có giá trị lịch sử rất lớn. 1.2.4. Về Tư tưởng - Triết học 1.2.4.1. Một số học thuyết tiêu biểu của Triết học Trung Hoa cổ - trung đại a. Thuyết Âm - Dương : Âm và dương theo khái niệm cổ sơ khô ng phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thu ộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong to àn vũ trụ cũng như trong từng tế b ào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đ ã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu d ương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài). Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đ ỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau. Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui lu ật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương". Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật. Nói chung, cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngo ài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương. Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đ en tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm. Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều đ ược qui vào âm dương. + Ví dụ : về thiên nhiên thuộc d ương ta có thể kể: Mặt trời, b an ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đ êm, thu, đông, tây, b ắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối. Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh. Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong d ương lại có mầm mống của âm. 5
  6. + Tư tưởng triết học về Âm - Dương : Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật, đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau : Âm và Dương. + Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực đ ược coi như nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân b ằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất b iến và cái biến đổi. + Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đ ã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. + Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý : Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đ ến đó và ngược lại, đồng thời “Dương cực thì Âm sinh”, “Âm thịnh thì Dương khỏi”. Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, p hái Âm - Dương đ ã đưa ra cái lôgíc tất định : Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương – Thái Âm) và T ứ tượng sinh Bát quái (Càn - Khảm - Cấn - Chấn -Tốn - Ly - Khôn - Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận). Tư tưởng triết học về Âm - Dương đ ạt tới mức là một hệ thống ho àn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như : Kiền, Khôn, Bí, Thái, Truân, Ký tế, Vị tế… Sự chú giải Kinh Dịch không p hải củ a một tác giả mà là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời đại với những xu hướng khác nhau. Điều đó tạo ra một “tập đại thành” của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức p hong phú và sâu sắc. b. Thuyết Ngũ hành : Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đ ã giới thiệu trong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm d ương hoàn b ị hơn. Ngũ hành là : Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ cho 5 chất phối hợp nhau mà tạo nên. Theo tính chất thì thu ỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống. Hoả là lửa thì bùng cháy, bốc lên. Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng. Kim là kim lo ại, thuận chiều hay đổi thay. Thổ là đất thì đ ể trồng trọt, gây giống đ ược. Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ. Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật. - Lu ật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau. Theo lu ật tương sinh thì thu ỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thu ỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc đ ẩy sự phát triển không bao giờ ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ. Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau. - Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong qui luật tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim, kim khắc mộc, và mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái. Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường. 6
  7. Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ:Giữa cái thắng nó và cái nó thắng. Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó. Hiện tượng tương khắc không tồn tại đ ơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển. - Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau. Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau. Quy luật chế hoá ngũ hành là: Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc. Ho ả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả. Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc khắc thổ. Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim. Thu ỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ. Luật chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Coi bảng dưới đây chúng ta thấy mỗi hành đ ều có mối liên hệ bốn mặt. Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó và cái b ị nó khắc. Ví dụ: Mộc khắc thổ nhưng thổ sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như nếu mộc khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là km tất nhiên nổi dậy khắc mộc kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là b ản thân cái bị có đầy đủ nhân tố chống lại cái khắc nó.Cho nên, mộc khắc thổ là đ ể tạo nên tác dụng chế ức, mà duy trì sự cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự giữ gìn thế cân b ằng trong thiên nhiên. Cũng trong bảng quan hệ chế hoá, chúng ta thấy mộc sinh hoả; nếu chỉ nhìn hành mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là hoả, nhưng nhờ có hoả mạnh, hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc mộc. Như vậy mộc sinh con là hoả, nhưng nhờ có con là hoả mạnh mà hạn chế bớt kim làm hại mộc do đó mộc giữ vững cương vị. c. Thuyết Bát quái : Là lý thuyết triết học giải thích thế giới đ ược tạo thành bởi 8 nhóm sự vật, hiện tượng khác nhau. Tiên thiên Bát quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lý hay Lẽ Trời. Vì lúc đó chưa có chữ viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để diễn tả. Sử dụng vạch liền, vạch liên tục, tức vạch Lẽ, gọi là Cơ đ ể tượng trưng cho phần Dương. Sử dụng vạch đứt đoạn, tức vạch Chẳn, gọi là Ngẫu để tượng trưng cho phân Âm. Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng b ằng 2 vạch Dương và Âm gọi là Dương Nghi và Âm Nghi. + Tứ Tượng : Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Toàn Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là đã lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới, nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thì thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm. Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm trung hữu Dương căn, Dương trung hữu Âm căn, nghĩa là trong Âm có mầm Dương. Dương sinh ở d ưới thành ra Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở d ưới làm chủ. Dương trưởng ở trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là Dương đ ã toàn thịnh. Âm sinh ở trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở d ưới làm chủ. Âm trưởng ở dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã toàn thịnh. Bát Quái là 8 Qu ẻ mỗi Quẻ gồm có 3 vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn đ ược gọi là Qu ẻ Đơn hay Đơn Quái, dùng để diễn tả 8 hiện tượng chính của hoạt động Âm Dương trong Vũ 7
  8. Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực hiện theo thứ tự ho àn toàn theo tự nhiên : Dương trước, Âm sau, tay mặt trước, tay trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau : Càn, Đo ài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Càn : Trời, Thiên. Càn vi Thiên. Dương đã thinh và Âm đ ã hủy. Đoài : Đầm, ao. Đo ài vi Trạch. Dương đ ã lớn và Âm sắp tàn. Li : Lửa, hơi nóng. Li vi Hỏa. Dương đã lớn và Âm sắp tàn. Chấn : Sấm, sét. Chấn vi Lôi. Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy. Tốn : Gió. Tốn vi Phong. Âm mới sinh và Dương b ắt đầu suy. Khảm : Nước, chất lỏng. Khảm vi Thuỷ. Âm đã lớn và Dương sắp tàn. Cấn : Núi non. Cấn vi Sơn. Âm đã lớn và Dương sắp tàn. Khôn : Đất, Địa. Khôn vi Địa. Âm đ ã thịnh và Dương đã hủy. 1.2.4.2. Một số trường phái tư tưởng tiêu biểu a. Nho gia Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI tr. CN d ưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 tr. CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đ ã được Mạnh Tử và Tuân T ử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận. Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Lu ận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Các kinh sách này hầu hết đều viết về xã hội, về kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị - đ ạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những quan niệm đó đ ược thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau: Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia. Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây d ựng một "xã hội đại đồng". Đó là một xã hội có trật tự trên - dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên. Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng "đại đồng". Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là "Nhân". Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v .v. đ ều là những biểu hiện cụ thể của Nhân. Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị -xã hội đ òi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người. Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông, "bản tính con người vốn là thiện" (Nhân chi sơ, tính bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có củ a con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ .v.v. Mạnh Tử đ ã thần bí hóa những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên, b ẩm sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng - Mạnh) đề cao sự giáo dục con người để con người trở về đ ường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn. Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác (Nhân chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí....). Xu ất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết 8
  9. hợp giữa Nho gia và Pháp gia. Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đ ương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “ Trời có nói gì đ âu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Lu ận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh). Đó là yếu tố duy tâm khách qua trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải đ ược mệnh Trời”. Hiểu biết mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người ho àn thiện là người quân tử. Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống. Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có). Theo ông, tri thức có hai loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết). Nghĩa là ông đ ã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm giữa “trí” và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí. Còn không học thì rơi xuống hạ ngu. Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân lo ại). Khổng Tử cũng nêu ra một số phương pháp học tập có ý nghĩa như: học phải đ i đôi với luyện tập; học phải kết hợp với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết mới; học phải nắm đ ược cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng Tử là ở quan niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay. Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học thuyết Khổng Tử. Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là : Nhân, lễ, trí, dũng...cùng với một hệ thống quan niệm về chính trị - xã hội như “nhân trị”, “chính danh”, “thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân”... Khổng Tử lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đ ạo đức cơ b ản trong triết học của mình. Nhân có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tuỳ theo trình độ, hoàn cảnh mà ông giảng giải về nhân với nội dung khác nhau. “Sửa mình theo lẽ là nhân”, “ Điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người là nhân”...Tư tưởng bao trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người. Để điều nhân có thể thực hiện đ ược thì phải bằng “lễ”. Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật Nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp...Lễ đ ược coi là hình thức biểu hiện của nhân. Mặc dù kiên trì bảo vệ lễ của nhà Chu , nhưng Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và p hát triển nó lên, b iến lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Mục đích của Khổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương. Để làm đươc đ iều đó cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng”(Luận ngữ, Nhan Uyên ); “Chính danh thì người nào có đ ịa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên d ưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 19)...Theo Khổng Tử, muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính thì lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc không thành công thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử Lộ, 3). Xuất phát từ tình hình lo ạn lạc của xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu, Khổng Tử đã nêu lên thuyết “chính d anh”, nhưng trên thực tế, học thuyết này mang tính bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu. Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền”, d ùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ. Trong việc 9
  10. chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ, Tử Lộ). Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đ ào tạo ra những người có tài, đ ức tham gia vào công cuộc cai trị. Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh... của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích chính trị là “Đức trị”. Ông phản đố i việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà p hải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu đến. *Tóm lại: So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đ ã đ ược bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu b iểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống). Quá trình b ổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại đ ược tiến hành theo hai xu hướng cơ bản: Một là, hệ thống hóa kinh điển và chu ẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đ ại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường đ ược nhấn mạnh. Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa. Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo. Sự kết hợp các tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 - 1279). b. Đạo gia Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. CN). Học thuyết của ông đ ược Dương Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng triết học của Đạo gia đ ược khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh. Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với nhữ ng tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội. Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong b ản thể luận của Đạo gia. Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ b ản sau: - "Đạo" là bản nguyên của vạn vật. Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo. - "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau. Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại. "Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lý ấy là "đ ạo pháp tự nhiên". Chính trong quan niệm về "Đạo" đã thể hiện một trình đ ộ tư duy khái quát cao về những vấn đ ề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó. Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về "Đạo", trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau: Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên t ắc "bình quân" và "phản phục" (cân bằng và q uay trở lại cái ban đầu). - Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đ ã có cái kia. 10
  11. Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển. Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là lu ận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của "Đạo". c. Mặc gia Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 tr.CN) sáng lập thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất đ ương thời (Nho - Đạo - Mặc). Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về "Phi thiên mệnh". Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu...không phải là do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan niệm khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh. Học thuyết "Tam biểu" của Mặc gia mang tính cách l à một học thuyết về nhận thức, có xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực của nhận thức. Thuyết "Kiêm ái" là một chủ thuyết chính trị - xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông. Mặc Địch p hản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ...trong học thuyết "Nhân". Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đ ẳng cấp... Phái Hậu Mặc đ ã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ k ỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận. d. Pháp gia Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đ ạo đức của con người và củng cố chế đ ộ chuyên chế thời Chiến quốc. Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời. Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 tr. CN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử d ựa trên những luận cứ triết học cơ b ản sau: + Về tự nhiên: Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là Đạo. Đạo là quy lu ật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đ ổi. Còn mỗi sự vật đều có "Lý" của nó. "Lý" là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển. Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ d ựa trên quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của "Lý", chống thái độ cố chấp và b ảo thủ. + Về lịch sử: Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là không thay đ ổi. Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản xuất và văn minh. Đó là: - Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn. - Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai. - Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau. Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội đ ược ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã hội. + Về thuyết "Tính ngư ời": Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá nhân vị lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi...Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý 11
  12. vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội. + Tư tưởng về pháp trị. Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đ ề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép "vô vi trị" của Đạo gia. Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thu ật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thu ật là p hương tiện để thực hiện chính sách đó. - "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan đ ể định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình. - "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. - "Thu ật" cũng là chính danh, là phương sách trong thu ật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà tránh thực 1.2.5. Về khoa học tự nhiên Cách ngày nay trên 4000 năm, khoa học tự nhiên của Trung Hoa đã có những thành tựu rực rỡ: * Thời cổ đại: Thiên văn học: Ra đời từ rất sớm và đ ạt được nhiều tiến bộ ở thời Xuân thu - Chiến quốc (770 – 221 TCN). Đó là sự ghi chép lại các lần nhật thực (37 lần trong vòng 242 năm ( nay đã chứng minh đ ược 33 lần hoàn toàn chính xác)), các vì tinh tú ( 800 vì tinh tú, trong đó có 120 vì tinh tú đ ược xác đ ịnh). Bảng ghi chép các hành tinh của người Trung Hoa - “Cam Thạch Tinh” có từ thời Xuân Thu, được coi là bảng ghi chép các vì sao xưa nhất thế giới. Thế kỉ VII TCN, người Trung Hoa đã biết dung một cái “cọc” đ ứng để đo bóng mặt trời (gọi là Thổ khuê), qua đó đã xác đ ịnh được ngày h ạ chí và đ ông chí, làm cho cách tính lịch ngày càng chính xác. Lịch: Yêu cầu của hoạt động sản xuất nông nghiệp đ ã làm cho người Trung Hoa biết làm lịch từ rất sớm. Đến đời Thương, họ đ ã phát minh ra lịch- âm lịch( lịch kết hợp với vòng quay của mặt trăng xung quanh quả đất với vòng quay của quả đất xung quanh mặt trời. Để tính năm, tháng, tháng thiếu, tháng đủ, họ lấy tuần trăng tròn và trăng khuyết để tính. Theo đó một năm được chia làm 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày. Người đời Thương đã biết thêm tháng nhuận để cho khớp với vòng quay của quả đất xung quanh mặt trời. Lịch pháp âm lịch, cho đến nay, vẫn còn đ ang được sử dụng song song với d ương lịch ở Trung Hoa( kể cả ở Việt Nam và một số nước khác ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa). Y học : Từ thời Chiến Quốc các thầy thuốc Trung Hoa đã biết giải phẫu cơ thể người biết nội tạng và b ộ máy tuần ho àn của người; chuẩn đoán bệnh qua bắt mạch; châm cứu, sắc thuốc để chữa bệnh. Đặc biệt, thời kì này đ ã xu ất hiện nhiều cuốn sách có tính chất tổng kết về Y học và d ược học, như: “ Hoàng đế nội kinh”, “ Sơn hải kinh”… Ngoài các lĩnh vực khoa học trên, những tri thức về toán học, lý học, nông học, sinh vật học cũng đạt tới trình đ ộ cao. * Thời trung đại + Bốn phát minh lớn Giấy: d o Do Thái Luân phát minh ra vào thời Đông Hán ( thế kỉ VIII SCN ) Đến thời Đường, kĩ thuật làm giấy đ ã hoàn chỉnh: pha thêm hồ bột với nhựa cây, tạo ra giấy chắc hơn và dễ thấm mực. Giấy làm được nhiều màu khác nhau (trong khi đ ến thế kỉ 13 ở châu Âu vẫn viết trên da cừu). Nghề in Bắt nguồn từ thói quen kí tên bằng con dấu 12
  13. Lúc đầu là in chữ liền: khắc chữ lên bảng gỗ, cứ một bảng là một tờ giấy nên rất tốn kém Thời Tống chuyển sang kĩ thuật in chữ, khắc trên đất sét rồi đem nung ( trong khi châu Âu đến thế kỉ 15 kĩ thuật in chữ mới ra đời) Kĩ thuật in này có hạn chế là chữ xấu, không rõ màu. Kĩ thuật này sau đó được truyền bá sang Triều Tiên. Người triều đ ã cải tiến, thay chữ rời bằng đất sét nung rồi đến chữ rời bằng đồng. Thứ chữ này lại đ ược truyền bá trở lại Trung Hoa. La Bàn Có từ rất sớm, khoảng thời Tây Chu Thời Chiến quốc ( cuối thời Đông Chu), Người Trung Hoa đã tìm ra nam châm ( từ thạch). Cửa ra vào của cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng có gắn một thanh nam châm rất lớn, ai mang vũ khí đi qua sẽ bị hút lại ) Đến thời Đường thì La bàn đã khá hoàn chỉnh ( phát hiện ra thêm tính chất sắt nhiễm từ). Thời Nguyên: La bàn đ ã hoàn chỉnh ( được Crixtop Colombo sử dụng ) sau đó truyền bá sang châu Âu, và chính nhờ hệ thống La bàn này mà người châu Âu mới thực hiện được những p hát kiến địa lí. Thuốc súng Phát minh rất tình cờ, ngẫu nhiên. Người Trung Hoa quan niệm con người có thể trưởng sinh bất tử. thời Nam Bắc triều có rất nhiều đạo sĩ tìm cách chế tạo thuốc trường sinh bất tử ( từ d iêm sinh, lưu hu ỳnh, than củi…, họ tình cờ để lửa bén vào gây nổ ). Đến thời Đường, thuốc nổ mới chỉ đ ược sử dụng để làm pháo. Đến thời Tống mới d ùng đ ể làm đạn lửa, cầu lửa. Người châu Âu đ ã nhanh chống tiếp thu và sử dụng phát minh này của người Trung Hoa một cách hữu hiệu để làm súng trường , hỏa mai…Thứ vũ khí này đã góp phần phá vỡ nền tảng p honmg kiến ở châu Âu đẩy nhanh quan hệ TBCN (vì chỉ có dùng thuốc nổ mới có thể phá đ ược lâu đài của phong kiến. Thuốc súng còn đ óng vai trò quan trọng trong các cuộc phát kiến địa lí của châu Âu. *Không kể bốn phát minh quan trọng, đóng góp cho nền văn minh nhân loại đã nói ở trên, thời trung đại, trên cơ ở kế thừa những thành tựu rực rỡ của thời cổ đại, Trung Hoa đã có những cống hiến xuất sắc cho nền văn minh của nhân loại ở các lĩnh vực toán học, thiên văn học và y dược. * Toán học Từ thời hán truyền lại có quyển Cửu chương toán thuật trong đó nêu ra các phương pháp tính ruộng tích ruộng đất theo các hình thức khác nhau, tính khối lượng đất đắp thành đào hào, tính toán tiền khi mua bán gia súc, lương thực….Trong khi tính toán các vấn đề nói trên, sách này đ ã đ ề cập đến một số mặt của đại số học, như phương pháp giải phương trình b ậc một có chứa nhiều ẩn số … Đến thời Nam- Bắc triều, Tổ Xung Chi (429- 500) lại có một cống hiến lớn về toán học. Ông đ ã tìm được số Pi chính xác có 7 số lẻ nằm giữa hai số 3,1415926 và 3,1415927. Phát minh này của Tổ Xung Chi sớm hơn những nhà toán học các nước khác trên 1000 năm. Vì vậy, có học giả Nhật Bản đề nghị gọi số Pi là “số Tổ”. *Thiên văn học Trung Hoa vốn có nhiều hiểu biết từ rất sớm. Từ thời Tần Hán, người Trung Hoa đ ã phát minh ra nông lịch, tức là chia một năm thành 24 tiết để căn cứ vào đó nông dân biết các thời vụ sản xúât. Đồng thời phép làm lịch ngày càng tiến bộ , do vậy từ thời Tây Hán về sau, các triều đ ại đã nhiều lần điều chỉnh lịch, nên ngày một chính xác. Nhà Thiên văn học nổi tiếng thời Đông Hán là Truơng Hành (78- 139). Ông đã biết ánh sang của mặt trăng là nhận từ mặt trời. Ông cho rằng thiên thể hình cầu như vỏ trứng mà quả đất thì như lòng đỏ, một vòng của bầu trời là 365 ◦ ¼ một nửa ở trên quả đất, một nửa ở d ưới quả đất. Căn cứ theo suy nghĩ ấy của mình, ông làm một mô hình thiên thể gọi là “ hồn thiên nghi ”. Khi mô hình này chuyển động thì các vì sao trên đó cũng di chuyển giống như tình hình thực ngo ài b ầu trời. 13
  14. Trương Hành còn có nhiều hiểu biết về địa lí- địa chất học. Ông chế đ ược một dụng cụ đo động đ ất gọi là “ đ ịa động nghi”, có thể đo một cách chính xác phương hướng của động đất. *Y dược Từ thời Hán đã xuất hiện nhiều thầy thuốc giỏi và nhiều sách thuốc. Thương hàn luận nói về cách chữa bệnh thương hàn của Trương Trọng Cảnh cho đến nay vẫn là liệu tham khảo có giá trị trong ngành đông y của Trung Hoa. Thầy thuốc nổi tiếng nhất cuối thời Đông Hán là Hoa Đào ô ng là người đầu tiên ở Trung Hoa đã biết dung phẫu thuật để chữa bệnh. Ông còn chủ chương p hải luyện tập than thể cho huyết mạnh đ ược lưu thong và chính ông đã so ạn ra bài thể dục “ ngũ cầm hí” tức là động tác bắt trước năm lo ài động vật là Hổ, Hươu, Gấu, Vượn và Chim Đến thời Minh nhà Y học nổi tiếng là Lý Thời Trân. Tác phẩm Bản thảo cương mục của ông là một quyển sách thuốc rất có giá trị tác phẩm giới thiệu 1.558 vị thuốc do người đời trước tìm ra, và them vào 374 viên thu ốc mới. Tác giả đã phan loại một cách khoa học, đặt tên, giới thiệu tính chất, công dụng và vẽ hình các cây thuốc đó. Vì thế, sách này không chỉ là một tác phẩm d ược học có giá trị mà còn là một tác phẩm thực vật học quan trọng. Sự ra đời của quyển Bản thảo cương mục đ ã đẩy ngành y dược của Trung Hoa phát triển trên một bước rất lớn .1.2.6. Về nghệ thuật. Hai lĩnh vực đạt nhiều thành tựu là kiến trúc và hội hoạ 1.2.6.1. Kiến trúc Những công trình kiến trúc của Trung Hoa cổ trung đại có những đặc điểm : Sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau và chủ yếu là vật liệu bằng gỗ - Kiến trúc bao giờ cũng có nhiều mái, thường theo lối mái cong. - Từng quần thể kiến trúc có hình thức độc đáo . - Hình tượng kiến trúc và trang trí kiến trúc đại để, rung động lòng người. - Phong cách dân tộc và phong cách đ ịa phương muôn màu muôn sắc. - Bố cục đạt tính nghiêm chỉnh và linh hoạt - Phong cách độc đáo và trình độ nghệ thuật cao - Kĩ thuật thi công và phương pháp thiết kế tiên tiến của thời cổ đại - Gắn liền với kiến trúc là điêu khắc. trên các công trình kiến trúc có nhiều tác phẩm điêu - khắc Nhìn chung thời Tần Hán, thời Ngụy Tấn, Nam – Bắc triều, thời Đường, Thời Tống và - thời Minh Thanh là những thời kì có nhiều công trinh kiến trúc tiêu biểu nhất * Những công trình kiến trúc tiêu biểu + Vạn lí trường thành: do 3 nước Tần, Yên, Triệu thời Chiến quốc xây dựng nhằm ngăn chặn thời hung Nô từ phương Bắc tràn xu ống. Khi Tần Thuỷ Ho àng thống nhất Trung Hoa đ ã cho nổ 3 đoạn thành lại dài hơn 5000 km, cao từ 6 - 12m rộng 5- 10m, cứ 360 m có một tháp canh. + Cố đô Bắc Kinh (Tử Cấm Thành ): Xây d ựng khoảng 1406 - 1420 ( đời vua Vĩnh Lạc) Cố Kinh từ đó trở thành nơi ở của 24 triều vua Minh Thanh. Hiện nay vẫn còn 100 toà cung điện, và 8600 gian. Trong qu ần thể kiến trúc này lớn nhất là điện Thái Hoà ( nơi tổ chức thi đình, yến tiệc, đón khách) và điện Trung Hoà (nơi vua và các quan chuẩn bị cho buổi thuyết triều). + Di Hoà Viên: một vườn hoa xây dựng cách thành phố Bắc Kinh 18km về phía tây bắc xây d ựng vào thời Minh Thanh. + Định Lăng: ngôi mô của vua Vạn Lịch đ ược xây dựng trong khu thập tam lăng, ở phía tây bắc thủ đô Bắc Kinh. Đặc điểm cách 14km/1km tường bao quanh. Khu thập tam lăng có nhiều kiến trúc như nhà thờ nhà đ ể bia. * Điêu khắc Nghệ thuật điêu khắc Trung Hoa gắn bó chặt chẽ với tập tục tôn giáo. Về chất liệu phần lớn các tác phẩm điêu khắc Trung Hoa tạc bằng đá hoa c ương. Nhiều bức bộ tượng nhỏ đ ược tìm thấy trong b ức tượng người chết đời Đường. Nhiều di tích điêu khắc phật giáo cổ đ ược giữ gìn trong các đ ền thờ trong hang đá. Tìm thấy các bức tượng Phật tạc trên đá tảng. Khác với phật của Ấn Độ siêu thoát khỏi trần tục, Phật của Trung Hoa người hơn trần thế hơn. 14
  15. Ở Trung Hoa cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới ), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay. 1 .2.6.2. Hội hoạ Hội hoạ Trung Hoa có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ. Các hang đá còn lưu lại những hình vẽ trên vách về chủ đề các lời răn của phật. Bức hoạ Trung Hoa đặc sắc với các gam màu vàng tranh Chương 2: Những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đến thế giới, chủ yếu ở Đông Bắc Á và Việt Nam. 2.1. Ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đối với thế giới Trong suốt 3500 phát triển, nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa đ ã có nhiều lần vượt lên trên nền văn hóa các nước khác. Chính người Trung Hoa đ ã cống hiến cho nhân loại cách sản xuất ra giấy, kĩ thuật in ấn, chế ra thuốc nổ và la bàn. Xuyên su ốt lịch sử phát triển văn hóa Trung Hoa là khát vọng trường kì hoàn thiện tư duy của nhân loại. Nhà nước xuất hiện sớm cùng với những thành tựu lớn lao của nền văn hóa, văn hóa Trung Hoa thời cổ trung đại đ ã làm cho Trung Hoa trở thành một trung tâm văn hóa quan trọng trên thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á (Việt Nam)Từ cuối thế kỉ XII đến thế kỉ XIII La b àn được truyền sang A Rập,từ đó sang Châu Âu và đ ã đóng góp rất nhiều cho nghành hàng hải thế giới. Sau thế kỉ VI kĩ thuật làm giấy của Trung Hoa được truyền sangTriều Tiên,Việt Nam và Nhật Bản. Đến thế kỉ VIII, phương pháp này qua Thổ Nhĩ Kì truyền vào A Rập, sau đó đ ược truyền sang châu Âu. Kĩ thuật in ấn của Trug Hoa cũng dần đ ược truyền sang các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản sau đó truyền sang A Rập và Châu Âu. Vào thế kỉ XIII thuôc súng và vã khí mang thuốc súng của Trung Hoa đ ã lần lượt đưa vào Ấn Độ, A Rập và vào cuối thế kỉ XIII, đầu thế kỉ XIV đ ược truỳên sang châu Âu. Ngoài b ốn phát minh trên một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác của Trung Hoa cũng có ảnh hưởng nhất định đối với văn minh nhân loại. Thuật luyện đơn (bào chế thuốc) của Trung Hoa sau khi truyền vào A Rập, đã góp phần thúc đẩy kĩ thuật chế biến thuốc của nước này phát triển, sau đó kĩ thuật chế biến thuốc của Châu Âu lại chịu ảnh hưởng của A Rập và nền khoa học hiện đại sau này chính là được phát triển trên cơ sở kĩ thuật chế biến thuốc ở Châu Âu thời Trung Cổ. Đồ sứ tinh sảo của Trung Hoa từ lâu đã nổi tiếng trên thế giới. Vào nửa cuối thế kỉ XV, kĩ thuật làm đ ồ sứ của Trung Hoa đã đ ược truyền sang Italia, mở ra một kỉ nguyên mớ cho lịch sử ché tạo đồ sứ của Châu Âu và còn ảnh hưởng cho tới ngày nay. Nền văn học rực rỡ và đồ sộ của Trung Hoa cũng ảnh hưởng rất lớn đến thế giới những tác phẩm văn học nổi tiếng ( Tam quóc diễn nghĩa, Tây du kí, Hồng lâu mộng, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị, Kim bình mai), đ ã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và được học giả nước ngoài đánh giá cao. Nền nghệ thuật phong phú và thần bí của Trung Hoa đã khiến bao nhiêu triết gia và nghệ thu ật gia của Châu Âu thán phục. ở Thế kỉ XVIII. Nhà Khải mông tư tương Pháp Voltaire đã gọi Trung Hoa của phương Đông là “cái nôi của nền nghệ thuật”. Triết học Trung Hoa cung có ảnh hưởng sâu sắc ở châu Âu vào thế kỉXVII – XVIII. Triết gia, Gottfdied Von Lebniz, người tiên phong của triết học cổ điển Đức là triết gia đầu tiên nhìn ra tầm quan trọng của văn hoá Trung Hoa đối với sự phát triển của châu Âu. Ở Đức, trào lưu lấy “tôn giáo triết học” thay thế tôn giáo thần học cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. 2.2. Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với Đông Bắc Á và Việt Nam 2.2.1.Ảnh hưởng của chữ viết 15
  16. 2.2.1.1. Đối với Việt Nam Có nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỉ thứ I TCN, ngay sau khi Trung Hoa chiếm xong Việt Nam. Trong suốt một nghìn năm, từ thế kỷ thứ I TCN đến năm 938, tiếng việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chữ Hán (hay còn gọi là chữ Nho). Trong suốt thời gian bắc thuộc với chính sách hán hóa của nhà hán, tiếng Hán đã đ ược giảng dạy ở Việt Nam và người Việt Nam đã chấp nhận ngôn ngữ mới đó song song với ngôn ngữ tiếng Việt. Việt Nam trước khi chữ Hán du nhập một số học giả cho rằng người Việt cho chữ viết kiểu nút gọi là “chữ khoa đậu”. Theo các nhà nghiên cứu thì không phải người Việt dùng kiểu thắt nút để trị quốc như các nhà sử học của Trung Hoa mà người Việt có văn tự riêng của mình; b ằng chứng là các văn tự được tìm thấy ở các văn bia miền núi phía bắc có chữ viết ngoằn ngoèo như lửa nên goi là chứ Hỏa tự. Tiến việt cổ đại cũng là một ngôn ngữ thuộc họ M ường- Khmer của Nam Á, khác hẳn với hệ ngôn ngữ của tiếng Hán. Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ I TCN, ngay sau khi Trung Hoa chiếm xong Việt Nam. Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng cũng đ ã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ Hán - Việt. Từ đó đã có nhiều từ Hán – Việt đi vào trong từ vựng của tiếng Việt. Sự p hát triển của tiếng hán của Việt Nam trong thời kỳ bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Hoa thời đó. Tuy nhiên, năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng củn Ngô Quyền, Việt Nam đ ã độc lập và không phụ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán. Sau ngày giành được độc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn ngữ đ ược sử dụng chính thức nhưng đ ã phát triển theo hướng khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Hoa. Tiếng Hán vẫn tiếp tục đ ược dùng và phát triển nhưng cách phát âm các chữ Hán lại theo cách phát âm của người Việt, hay âm Hán – Việt. Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết cho mình, đ ó là chữ Nôm không phải là bộ chữ hoàn thiện, cũng giống như người Quảng Đông vậy. Họ có thể viết chữ Hán Quảng Đông trong trò chuyện bình thường nhưng họ cũng phải sự dụng chữ Hán chuẩn trong văn thư để tỏ lòng trân trọng, dù đối tượng tiếp nhận văn thư là người Quảng Đông. 2.2.1.2. Đối với Triều Tiên Đối với văn hóa một dân tộc, chữ viết đóng vai tr ò vừa là một thành tố của văn hóa, vừa là nền tảng thúc đẩy văn hóa đó phát triển. Trong giai đo ạn đầu hình thành nền văn hóa, Triều Tiên chưa sáng tạo ra chữ viết riêng nên phải vay m ượn chữ của Trung Hoa. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ sử dụng chữ Hán một cách bê nguyên xi mà biến đổi thành các loại chữ p hù hợp với ngôn ngữ và văn hóa nước mình. Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá sớm từ thiên niên k ỷ thứ hai TCN (nhưng cũng có nhiều học giả cho rằng từ thiên niên kỉ thứ IV-V) xu ất hiện các văn bản viết tay của người Hán. Các bản viết tay được sử dụng chữ Hán. Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiền Triều Tiên trở nên phức tạp cho nên các học giả người Hán đã tìm cách cải b iến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên. Vào kho ảng thế kỷ XV, ở Triều Tiên xu ất hiện chữ kí âm, được gọi là Hangul hay Chosŏngŭl, chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức đ ược dùng thay thế cho chữ Hán. Cho tới ngày nay Chosŏngŭl lúc ban đầu gồm 28 kí tự, sau đó còn 24 kí tự giống như b ảy chữ cái Latinh, và được dùng đ ể kí âm tiếng Triều Tiên. Tuy Chosŏngŭl đ ã xuất hiện nhưng chữ Hán vẫn còn được giảng dạy trong trường học. Tóm lại, từ việc sử dụng chữ Hán, người Triều Tiên đã sáng tạo ra chữ viết cho riêng mình. “ngôn ngữ, văn tự là ngưng kết lao động sáng tạo của dân tộc trong thời gian dài”. Còn đối với người Triều Tiên thì đó là thành tựu quan trọng không gì sánh được trong lịch sử, văn hóa, một minh chứng xác thực nhất cho sự ảnh hưởng và tiếp biến văn hóa Trunng Hoa. 2.2.1.3. Đối với Nhật Bản Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên được gọi là Kanji và đ ược du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật Bản và Triều Tiên vào kho ảng thế kỷ IV, V. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật người Nhật dùng chữ Hán để viết tiềng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên của người Nhật sáng 16
  17. tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man – yogana. Hệ thống chữ viết này khá phức tạp. Man – yogana được đơn giản hóa thành Hiragana và Katahana. Cả hai loại chữ này trải qua nhiều chỉnh lí và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay của Nhật. Tiếng Nhật hiện đại đ ược viết bằng bốn loại kí tự chữ hán (Kanji) chữ mềm (Hiragana) chữ cứng (Katakara) chữ Latinh (hay Rômaji). Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm hán cổ, đ ược gọi là On – yomi và cách đọc theo âm tiếng Nhật đ ược gọi là Kun – yomi. Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn sáng tạo ra một số chữ ( khoảng vài trăm chữ ) và mỗi chữ này chỉ có một cách đọc theo âm tiếng Nhật; các chữ này được gọi là Kôkuji. Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo Dục Nhật đ ã đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ b ản trong trường học và được Quốc Hội thông qua năm 1947. Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm 1945 chữ thường dùng, kho ảng 300 chữ thông dụng khác, dùng đ ể viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán d ùng đ ẻ viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên 400 chữ các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường d ùng và Bảng chữ Hán dùng để viết tên người. 2.2.2. Ảnh hưởng của Văn học 2.2.2.1. Đối với Triều Tiên Cũng như chữ viết văn học Triền Tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn học Trung Hoa song không vì thế mà nó b ị xem là “ một phụ lục của văn hoc Trung Hoa ”. Ngược lại người Triều Tiên đã tạo ra một nền văn học phong phú, đa dạng mang phong cách rất riêng và “đáng đ ể các đất nước trong vùng Đông Á n ể trọng”. + Tiếp biến về mặt hình thức Về chữ viết: trong nền văn học Triều Tiên, dòng văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ đạo xuyên suốt thời kì cổ trung đại. Đặc biệt từ giai đoạn vương triều Tân La các học giả Triều Tiên xưa ca ngợi chữ Hán là “ chân thư”, là thứ chữ cao quý chữ viết đặc thù của các nho sĩ tầng lớp trên trong xã hội. Văn học chữ Hán chiếm khối lượng lớn và đồ sộ trong toàn b ộ nền văn hoc Triều Tiên. Tuy nhiên từ sự tiếp biến về mặt chữ viết các tầng lớp dưới trong xã hội đã sử dụng chữ IDU và chữ Hangul để sáng tác tạo nên một dòng văn học riêng biệt. Về mặt thể loại: Triều Tiên một mặt sử dụng các thể loại sáng tác trong văn hoc Trung Hoa, mạt khác tạo ra những thể loại mới phù hợp với phong cách của mình trong văn xuôi Triều Tiên sử dụng các thể loại của Trung Hoa: Sử kí, truyền kì, văn biền ngẫu, tiển thuyết một cách nhu ần nhuyễn, điêu luyện. Thế kỷ XIV, xuất hiện trong văn học Triều Tiên các tác phẩm theo lối truyền kì tiêu biểu như “ Kim ngao tân thoại” (của Kim Thời Tập). Nhưng tiếp sau đó thế kỷ XV – XVII khi các tiểu thuyết Minh – Thanh ra đời ngay lập tức nó cũng được vận dụng để sáng tác ở Triều Tiên. Trong thơ ca: hầu hết các thể thơ Trung Hoa đ ều được sử dụng để sáng tác ở Triều Tiên. Tuy nhiên, những thể loại văn hoc Trung Hoa không đủ để truyền tải những cảm xúc tinh tế nên người Triều Tiên đã sáng tạo ra nhiều thể loại mới. Đặc biệt tới thời kì vương triều Cao ly, vương triều Lý các thi sĩ Triều Tiên đã sáng tao ra thể thơ S ijo và Kasa. Tóm lại, để đánh giá vấn đề này, xin d ẫn lời nhận xét của giáo sư ngữ văn Kimyulkyu (d ại học tổng hợp Hàn Quốc): “Người Triều Tiên đã sử dụng chữ Trung Hoa và các kĩ thuâth thơ Trung Hoa điêu luyện hơn bất cứ dân tộc không phải Trung Hoa nào khác, và đã phát triển đ ược một truyền thống đặc văn chương, do đó tạo nên một sự hình thành lịch sử thơ ca Hàn – Trung lâu đời”. + Tiếp biến về mặt nội dung Cũng như văn học Trung Hoa, văn học Triều Tiên phản ánh hai đề tài thơ chủ đạo là lịch sử và cảnh thiên nhiên. Đặc điểm độc đáo nhất trong văn học Triều Tiên là không d ừng lại ở khuôn mẫu hình tượng văn học Trung Hoa, người Triều Tiên dám mạnh dạn nói lên ước vọng, khát khao đến trần tục của con người mà văn hoc đại lục không bao giờ dám đề cập. 17
  18. Hay tiến xa hơn nữ, văn học Triều Tiên phản ánh đậm nét nhân tình thế thái, phản ảnh tình yêu mang tính d ục vọng mãnh liệt. Từ sự tiếp nhận văn học Trung Hoa, Triều Tiên đ ã tiếp biến sáng tạo để hình thành nền văn học độc đáo của dân tộc mình. Ở đó, những cung bậc tình cảm đ ược trân trọng, mạnh dạn đề cập chứ không bị gò bó kì thị như ở Trung Hoa. Do vậy, văn học ở Triều Tiên không chỉ đọc, ngâm mà đ ược nâng lên thành những bài hát chữ tình sâu đậm. 2.2.2.2. Đối với Việt Nam Hai d ạng ảnh hưởng trực tiếp là ảnh hưởng gián tiếp của văn học Trung Hoa với thơ ca d ân gian người Việt + Ảnh hưởng trực tiếp Thơ ca dân gian người Việt (còn gọi là ca dao) được sáng tác từ rất sớm, song việc ghi chép lại mới chỉ đ ược tiến hành từ cuối thế kỉ XVIII trở lại đây. Căn cứ vào những tài liệu đ ã đ ược sưu tầm, hiện có khoảng 13.000 b ài ca dao. Ca dao người Việt có khi chịu ảnh hưởng của văn học Trung Hoa một cách trực tiếp. Ví dụ dưới đây là lời của một chàng trai ở Nam Bộ: Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền Ai hỏi đón chi đó giống in tiếng con bạn hiền Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân Hai dòng đ ầu của bà ca dao là hai câu thơ trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế (đời Đường). Có thể nói đây là trường hợp vận dụng văn học chữ Hán không thật nhuần nhuyễn, bởi vì xét cho kĩ nội dung giữa hai d òng đầu với hai dòng sau không có mối liên hệ hữu cơ. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng trong các cuộc hát đối đáp ngày trước , nhiều câu mở đầu chỉ có tính chất bắt vần đưa đ ẩy để cho cuộc hát không bị gián đoạn. + Ảnh hưởng gián tiếp Ca dao người Việt còn chịu ảnh hưởng của văn học Trung Hoa một cach gián tiếp. Qúa trình này diễn ra như sau: Lúc đầu nhứng điển tích, tên đ ất, tên người của tác phẩm văn học Trung Hoa đi vào những tác phẩm lớn của văn học viết của người Việt, sau đó các tác giả thơ ca d ân gian người Việt đã tiếp thu những điển tích này. Ví d ụ, Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm cua Thanh Tâm Tài Nhân (đời Thanh _Trung Hoa). Tác phẩm này đ ã vào Việt Nam khoảng những năm 60, 70 của thế kỉ XVIII. Dựa theo nó, Nguyễn Du đã viết truyện Kiều với 3254 câu thơ lục bát. Ca dao người Việt đã tiếp thu văn học Trung Hoa qua Truyện Kiều. Đây là bài ca d ao, lời chàng trai dặn dò người yêu hãy gìn giữ mối tình chung thủy. 2.2.2.3. Đối với Nhật Bản Văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Trung Hoa. Đặc biệt là từ khi chữ Hán có mặt tại Nhật Bản. Ảnh hưởng của văn hoạc Trung Hoa tới Nhật Banr “phần lớn thông qua các học tăng và phái bộ ngoại giao”nhất là sau khi thâu nhận “tư tưởng kinh điển nho giáo, việc tiếp thu thi ca Trung Hoa đóng vai trò quan trọng đối với văn học Nhật Bản”. Từ khi chữ Hán xâm nhập vào xã hội Nhật Bản, đ ã đ ánh dấu một bước chuyển mới trong nền văn học Nhât Bản. Một nền văn học viết ra đời và ngày càng phát triển. Về thơ ca viết bằng chữ Hán gồm các tuyển tập như Kaifusô ra đời năm 751, với 126 b ài thơ chữ Hán làm theo thể Đường luật. Khoảng thời gian từ thế kỉ VII- VIII, nền văn học Hán khá phát triểnở Nhật Bản. ở đ ời Đường nền văn học Trung Hoa phát triển khá rực rỡ. lúc bấy giờ giao lưu Trung Hoa đ ã đ ạt đến đỉnh cao. Nhiều nhà thơ Nhật Bản đ ã góp mặt trong nền văn minh Trung Hoa Xét về quan điểm, văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền văn minh Trung Hoa. Đặc biệt là quan điểm văn học phải gắn liền với đạo đức. Xét về nội dung và hình thức. Nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản sử dụng nhiều đề tài, điển tích Trung Hoa, thấm nhuần tư tưởng triết lí nho giáo…Ví dụ b ài thơ “Hà Dương Hoa”của Thiên Hoàng Saga (Tha Nga), vào thế kỉ thứ IX. Từ thế kỉ trở đi, nền văn học chữ Hán ở Nhật Bản từng bước cách tân hoá và phải rẽ b ước đ i theo con đường của riêng mình. 18
  19. 2.2.3. Ảnh hưởng của Nghệ thuật 2.2.3.1. Đối với Triều Tiên * Hội hoạ Hội hoạ Triều Tiên chịu ảnh hưởng của hội hoạ Trung Hoa từ rất sớm.Từ thế kỉ thứ IV đ ã xu ất hiện các bức bích hoạ theo phong cảnh Trung Hoa trên các vách lăng mộ ở phía Bắc bắc đ ảo. Đến thế kỉ thứ VII, hội hoạ Trung Hoa lại càng tác động mạnh mẽ vào Triều Tiên làm xuất hiện dòng tranh phong cảnh. Cũng thời gian đó phong cách tranh Phật giáo cũng được thâm nhập. Vẫn sử dụng những kĩ thuật và lí thuyết hội hoạ Trung Hoa, song nội dung biểu hiện các bức tranh ở Triều Tiên mang tính “tả thực cao”, nhất là tranh ở cuối thời Choson. Các bức tranh Phật ở đây mang vẻ duyên dáng thanh tú chứ không mang vẻ huyền bí kinh sợ như ở Trung Hoa. * Điêu khắc Cũng như hội họa, điêu khắc Triều Tiên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ các kĩ thuật điêu khắc của Trung Hoa. Song trên nề tảng lí thuyết đó điêu khắc Triều Tiên tạo dựng của riêng mình. Nghệ thuật điêu khắc Triều Tiên gắn liền với hinh ảnh Đức Phật Về phong cách, từ thế kỉ VIII trở đi tượng Phật Trung Hoa có xu hướng béo, mập thậm chí má chảy xệ xuống. do vậy chúng đ ã làm mất đi vòng hào quang tinh thần vốn có. Trái lại tượng Phật Triều Tiên lại có vẻ đẹp tinh thần cao quý với khuôn mặt thanh nhã, mũi d ài thẳng, nhiều đường nét chạy dài. * kiến trúc Kiến trúc Triều Tiên gồm hai loại chủ đạo là kiến trúc cung đ ình đền chùa và kiến trúc nhà ở thường dân. Cả hai lo ại đều xây dựng trên cơ sở lí thuyết về thuật phong thủy (xuất phát từ triết học Trung Hoa) cho đến kĩ thuật, cấu trúc. Dù vậy, kiến trúc Triều Tiên vẫn mang dáng vẻ riêng. Các công trình không b ề thế, nguy nga như ở Trung Hoa, mà hòa vào cảnh tự nhiên, tạo nên vẻ đẹp thầm kín, cổ truyền. 2.2.3.2. Đối với Nhật Bản Từ rất sớm, Nhật Bản sáng tạo cho mình nhiều loại hình nghệ thuật khá đặc sắc. Trong khi đó, Trung Hoa là một đất nước có nền nghệ thuật phát triển lâu đời và đ ạt nhiều thành tựu rực rỡ đ ã cung cấp cho kho tàng văn hóa nhân lo ại nhiều mẫu hình đ ặc sắc và độc đáo. Điều này, cho phép Nhật Bản tiếp thu những yếu tố từ nghệ thuật Trung Hoa làm cơ sở thúc đẩy nghệ thuật Nhật Bản phát triển. Nghệ thuật Nhật bản có nhiều điểm giống với nghệ thuật Trung Hoa. Điều nay thể hiện rất rõ ở đ ường nét kiến trúc đến điêu khắc, chạm trổ…nhưng có sự kết hợp tài tình với yếu tố b ản địa. Nghệ thuật Nhật Bản luôn chú ý đến vẻ đẹp tinh tê, phù hợp với vẻ đẹp tâm linh của người Nhật 2.2.4. Ảnh hưởng của Khoa học – Kĩ thuật 2.2.4.1. Đối với Triều Tiên: * Kĩ thuật làm giấy và kĩ thuật in: Đến thế kỉ IV nghề làm giấy truyền sang Triều Tiên. Kĩ thuật in đ ược xác định ra đời ở Trung Hoa nhưng chưa rõ từ bao giờ và truyền sang Triều tiên từ khi nào. Song theo nghiên cứu, ở triều Tiên phát hiện bản in kinh Đà La Ni, in từ năm 706 -751. đây được coi là ấn phẩm cổ nhất trên thế giới được phát hiện đến nay. Điều này chứng tỏ kĩ thuật làm giấy và kĩ thuật in từ trung Hoa vào Triều Tiên từ rất sớm qua con đ ường du nhập của Phật giáo. Kĩ thuật làm giấy và in tại Triều Tiên tiếp nhận đã phát triển hơn cả nơi xu ất phát cuả nó. Triều Tiên đã phát triển kĩ thuật lên cao hơn và hoàn thiện kĩ thuật làm giấy. bên cạnh loại giấy đ ược sản xuất theo cách Trung Hoa, Triều Tiên còn sang tạo ra lo ại giấy Hanji làm từ vỏ cấy d âu. Do đó, nó được người nước ngo ài ưa chuộng và được xuất khẩu sang Trung Hoa, Nhật Bản. 19
  20. Với kĩ thuật in, từ kĩ thuật in ván gỗ, người Trung Hoa đ ã sang tạo ra cachs in chữ rời bằng đất sét nung, nhưng khi in ra chữ hay mòn khó khô mực, chữ không sắc nêt. Trên cơ sở đó năm 1234, người Triều Tiên đ ã phát minh ra kiểu mẫu chữ kim loại di động chứ rời đầu tiên trên thế giới, và phổ biến trên khắp thế giới. * Lịch pháp Lịch Trung Hoa truyền sang Triều Tiên vào khoảng thế kỉ I. từ việc xem xét bầu trời và khí hậu bán đảo, Triều Tiên đã chỉnh sửa một số điểm trong lịch pháp cảu Trung Hoa thành lịch Triều Tiên. 2.2.5. Ảnh hưởng của Tư tưởng - Triết học 2.2.5.1. Đối với Việt Nam a. Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hóa truyền thống’ Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đ ại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ b ản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Hoa, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp b iến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều d ài lịch sử dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa d ạng, nhưng thống nhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam. * Ảnh hưởng của Nho giáo đến sự phát triển của xã hội cổ đại Việt Nam có những tích cực và tiêu cực + Tích cực : Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đ ã góp phần xây d ựng các nhà nước p hong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia. Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Khổng Tử là người “học nhi b ất yếm, hối nhân bất nguyện”. Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học - Nho giáo làm nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật và đ ặc biệt là giáo dục. Nội dung giáo dục của Nho giáo là dạy đức và dạy tài vẫn còn có ý nghĩa. Nho giáo coi trọng đức là coi trọng cách làm người, coi trọng con người là yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp phần nâng cao văn hóa con người đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với phương châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có thể tìm ra một nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí xã hội của bản thân là đ ộng lực hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là đ ặc điểm của Nho giáo. Hiếu học đ ã trở thành truyền thống văn hóa Á Đông trong đó có Việt Nam. Nho giáo hướng quản đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn tri trật tư… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thô, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè”. Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa người với người. Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây d ựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đ ầu. Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân. Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng đ ối với Nguyễn Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, và đội quân chính nghĩa phải nhằm tiêu diệt những quân tàn b ạo. + Tiêu cực : - Không như Nho giáo Trung Hoa, tuy không coi trọng thương nghiệp nhưng cũng không p hản đối. Nho giáo Việt Nam quá coi trọng nông nghiệp mà bài xích thương nghiệp, quá chú trọng đến tự sản, tự tiêu mà quên đi sự trao đổi mua bán, kềm hãm tính năng động, sáng tạo dẫn 20
721981

Tài liệu liên quan


Xem thêm