Xem mẫu

6 KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Quan điểm hệ thống động trong dạy học<br /> <br /> <br /> Ngữ văn ThS. NGUYỄN THỊ MỸ VÂN<br /> Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai<br /> <br /> <br /> Bài viết phân tích cơ sở và vai trò của việc vận dụng quan điểm hệ thống<br /> động - một quan điểm dạy học tích cực, gắn với giao tiếp - trong dạy học Ngữ<br /> văn. Từ đó, góp thêm một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc lĩnh hội, phân tích<br /> và đánh giá từ ngữ trong hoạt động giao tiếp nói riêng và trong dạy học Ngữ<br /> văn nói chung.<br /> Từ khóa: hệ thống động, dạy học, Ngữ văn<br /> <br /> <br /> <br /> 1. Đặt vấn đề trong hành chức sẽ trở về với duy, giao tiếp của con người.<br /> Yếu tố cốt lõi của các sự nghĩa trong hệ thống. Tuy Khi  phân tích nghĩa của<br /> kiện từ vựng chính là nghĩa - vậy, những biến đổi của nghĩa từ trong hành chức, chúng ta<br /> nghĩa trong hệ thống và nghĩa trong hành chức có thể tích lũy cần thiết phải “tạm thời cô lập<br /> trong hành chức. Chính vì lại dần dần, cố định hóa tạo hóa hai bình diện ngôn ngữ và<br /> vậy, trong nghiên cứu, giảng thành những nghĩa mới cho<br /> lời nói để xem xét nghĩa của từ<br /> dạy và học tập từ vựng nói đơn vị từ vựng.<br /> trong ngôn ngữ như một hệ<br /> riêng, Ngữ văn nói chung, bao 2. Nội dung thống tĩnh” [3, 182], còn khi đi<br /> giờ người ta cũng quan tâm Một điều đã được thừa vào ngôn bản, từ sẽ có những<br /> đến nghĩa của từ trong hành nhận trong nghiên cứu ngôn biến đổi về nghĩa mà phải đặt<br /> chức, đó chính là quan điểm ngữ học hiện đại là, mọi ngôn nó trong ngữ cảnh mới hiểu<br /> hệ thống động. Có thể tóm ngữ đều tồn tại ở hai trạng đúng nghĩa và chức năng của<br /> tắt như sau về quan điểm hệ thái: trạng thái tĩnh và trạng nó. Nghĩa là, việc nhận diện,<br /> thống động: thái động. Ở trạng thái tĩnh, tất xác định nghĩa không bắt đầu<br /> Đơn vị từ vựng có nghĩa cả các đơn vị ngôn ngữ xác lập từ trạng thái tĩnh mà phải xem<br /> trong hệ thống hoạt động hệ thống ngôn ngữ với nhiều xét trong quá trình, trong sự<br /> theo những qui tắc nhất định. cấp độ lớn nhỏ khác nhau xuất hiện, vận dụng, biến đổi<br /> Cũng theo những qui tắc nhất và luôn nằm trong các mối và phát triển trong hệ thống<br /> định, cái nghĩa trong hệ thống quan hệ tương tác, qui định động, trong hành chức của nó.<br /> đó sẽ chuyển hóa thành nghĩa lẫn nhau. Ở trạng thái động, Nói cụ thể hơn, “Khi từ đi vào<br /> trong hành chức. Nhưng, khi ngôn ngữ được sử dụng vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa<br /> hành chức kết thúc thì nghĩa các hoạt động nhận thức, tư của nó được hiện thực hoá,<br /> KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN 7<br /> ngữ nghĩa vốn có của chúng,<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SỐ 04 NĂM 2018<br /> mà chúng có những sắc thái<br /> bổ sung, khiến cho những từ<br /> này mang những sắc thái mới<br /> - chỉ trong những bối cảnh sử<br /> dụng cụ thể như thế này mới<br /> có được. Lúc này, các biểu vật<br /> “sấm”, “hàng cây”, “đứng tuổi”<br /> không phải chỉ đơn giản là<br /> sấm, là hàng cây... như được<br /> giải thích trong từ điển. Hoặc<br /> các từ “sóng”, “đè” trong khổ<br /> thơ sau cũng không chỉ đơn<br /> thuần mang nội dung ngữ<br /> cụ thể hoá và được xác định. đau có dịu đi dần dần” (bay, nghĩa vốn có của chúng:<br /> Lúc đó, các thành phần nghĩa phai, biến mất một cách dần<br /> Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn<br /> trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ dần),... thì một trong 18 nghĩa<br /> từ biển<br /> giảm dần tính trừu tượng và của từ “đi” mới được hiểu theo<br /> khái quát đến mức tổi thiểu hướng cụ thể hoá và xác định. Mẹ Âu Cơ hẳn không thể<br /> để đạt tới tính xác định, tính Chính vì không bị ràng buộc yên lòng<br /> cụ thể ở mức tối đa” [3, 182]. vào một hoặc một phạm vi Sóng lớp lớp đè lên thềm<br /> Ví dụ, từ “đi” trong tiếng Việt, sự vật nào đó nên các đơn vị lục địa<br /> với tư cách là đơn vị của ngôn từ ngữ mới có khả năng hoạt Trong hồn người có ngọn<br /> ngữ, và với tư cách là động động rộng rãi và có tính khái sóng nào không?<br /> từ, thì “ đi” có 18 nghĩa khác quát cao, và nhờ đó, khi hành<br /> nhau (theo Từ điển tiếng Việt. (Tổ quốc nhìn từ biển -<br /> chức - tức khi đi vào hoạt động<br /> H. 1997, Hoàng Phê chủ biên). Nguyễn Việt Chiến)<br /> trong văn bản, từ mới trở nên<br /> Các nghĩa của từ “đi” đó được Chính trong những<br /> cụ thể và xác định.<br /> xây dựng một cách khái quát, trường hợp như thế, người<br /> và khi tìm hiểu nghĩa của từ Xét ở khía cạnh khác, ta cần thiết hướng đến cái<br /> “đi” với tư cách là từ từ điển, “cũng trong hoạt động ngôn gọi là nghĩa ngữ cảnh. Và các<br /> người ta cũng hiểu một cách ngữ, cùng với sự giảm đi đến phép ẩn dụ, hoán dụ tu từ học<br /> khái quát như trong từ điển mức thấp nhất tính khái quát cũng được hình thành trên cơ<br /> đã giải thích. Chỉ khi nào đi thì từ lại có thể được gia tăng sở đó. Ví dụ: trong câu ca dao:<br /> vào từng phát ngôn cụ thể những sắc thái mới, nội dung “Cầu này cầu ái cầu ân/Một<br /> như: “Ngày mai tôi đi Hà Nội” mới do chính sự vật mà nó biểu trăm cô gái rửa chân cầu này”<br /> (tự di chuyển đến nơi khác, thị đem lại” [3, 183]. Chẳng thì số từ “một trăm” đã không<br /> không kể bằng cách gì), “Hôm hạn, có thể xét các từ  sấm, còn mang nghĩa là một con<br /> nay tôi đi trực” (di chuyển đến hàng cây, đứng tuổi trong hai số cụ thể, xác định, mà chỉ<br /> chỗ khác, nơi khác để làm một câu thơ: “Sấm cũng bớt bất được hiểu là “nhiều” và chỉ<br /> công việc, một nhiệm vụ nào ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi” được nhận thức với ý nghĩa<br /> đó), “Độ này chị ấy gầy rộc đi” (Hữu Thỉnh). Ở đây, các từ sấm, đó mà thôi. Tương tự như vậy,<br /> (biểu thị kết quả của một quá hàng cây, đứng tuổi không chỉ từ “thập” (với nghĩa là “mười”)<br /> trình giảm sút, suy giảm), “Cơn đơn thuần mang các nội dung trong cụm từ “lẩu thập cẩm”<br /> 8 KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN<br /> cũng không còn mang nghĩa đã được ý niệm hóa thành hành chức, tức nghĩa trong<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> là “mười” mà đã chuyển nghĩa người:  Nắng  cũng say, cũng văn bản, trong lời nói của các<br /> thành “nhiều”. uể oải, cũng có khi rạo rực mê đơn vị từ vựng. Đồng thời với<br /> Nghĩa là, khi xét nghĩa say,... Nắng cũng làm duyên và đó là việc cần thiết phải đặt<br /> của từ trong hành chức, và gợi cảm trong dáng vẻ “cong từ trong hoạt động ngôn ngữ<br /> tiếp nhận nghĩa của từ trong thân”, “cựa mình” yểu điệu và của chúng, tức trong hệ thống<br /> văn bản, nhất là văn bản nghệ mời gọi. Độc đáo và bất ngờ động, mới nhìn thấy hết sự<br /> thuật, nhiều khi chúng ta phải hơn, nhà thơ Vi Thùy Linh còn phong phú, đa dạng và sự tinh<br /> chú ý đến nghĩa ngữ cảnh, kết hợp  bầy với nắng: “Nhảy tế của ngôn ngữ dân tộc. Đây<br /> nghĩa lâm thời nhiều hơn là lò cò bầy nắng/Căng dây mưa cũng chính là con đường lí giải<br /> nghĩa từ điển của chúng. lảnh lót”. Nhà thơ đã quan sát cái hay, cái đẹp của từ trong<br /> bằng cả tâm hồn - nhìn sâu lời nói, trong văn bản văn học.<br /> Bên cạnh đó, trong ngôn<br /> trong thảm nắng vàng - để Vận dụng quan điểm hệ<br /> ngữ văn chương, rất nhiều khi<br /> mà lọc lấy và thấy từng phần thống động trong dạy học<br /> tác giả sử dụng các ẩn dụ ý<br /> tử nắng như bầy trẻ hiếu động, Ngữ văn ở các cấp học sẽ giúp<br /> niệm. Để xác định nghĩa phái hồn nhiên, ùa nhau xuống mặt<br /> sinh, nghĩa chuyển, nghĩa lâm người dạy và học phát hiện ra<br /> đất, đầy sức sống, niềm vui. nhiều điều mới mẻ cũng như<br /> thời của từ trong tác phẩm, Phải thật sự yêu thiên nhiên,<br /> cần dựa vào mối quan hệ với hiểu và cảm giá trị, ý nghĩa<br /> yêu lắm cuộc đời này và phải của từ trong hành chức một<br /> nghĩa gốc, để phát hiện ra nét có được những rung cảm rất<br /> nghĩa cốt lõi mà từ đã duy trì cách thuyết phục. Không chỉ<br /> tinh tế cùng với khả năng ý<br /> vậy, trong dạy học tiếng Việt<br /> khi đã phát triển nghĩa. Ví dụ, niệm hóa cực kì phong phú,<br /> nói riêng, việc vận dụng quan<br /> từ “nắng” nhiều khi được nhà nhà thơ mới có thể có một kết<br /> điểm hệ thống động chính là<br /> thơ ý niệm hóa như những hợp đẹp và lạ như vậy về nắng.<br /> hướng đến việc dạy học tiếng<br /> vật thể, có hình hài như lúm<br /> Từ những phân tích trên Việt theo quan điểm giao<br /> đồng tiền, sợi chỉ thêu, tấm<br /> đây, có thể thêm một lần tiếp./.<br /> thảm, giọt mật vàng, hay được<br /> khẳng định rằng, chỉ xem xét<br /> hình dung như hạt (nắng),<br /> nghĩa của từ theo quan điểm<br /> sóng (nắng), thậm chí như TÀI LIỆU THAM KHẢO:<br /> hệ thống động mới thấy được<br /> dòng nước lũ (“Nắng dâng 1. Nguyễn Phan Cảnh (2006),<br /> những tầng nghĩa mới, bao Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học.<br /> làm lụt cả trưa hè” - Nguyễn<br /> gồm cả sắc thái mới của nó 2. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở<br /> Bính), như thiếu nữ đương ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Đại học và<br /> trong ngôn bản. Từ đó, người Trung học chuyên nghiệp.<br /> xuân... cho nên có thể khiêng 3. Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức<br /> học sẽ bị thuyết phục bởi sự Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,  Cơ sở<br /> (nắng), gom (nắng), rải (nắng), ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo<br /> giàu đẹp của tiếng Việt, để yêu dục, H., 1997, trang 182-187.<br /> rây rắc (nắng) và nắng cũng<br /> hơn tiếng mẹ đẻ, đồng thời 4. Nguyễn Đức Dân  (1996),<br /> có thể trở mình, nhảy nhót, Logic và tiếng Việt, Nxb Giáo Dục.<br /> khơi gợi ở người học ý thức 5. Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng<br /> ngân vang, rung,  chuốt nhọn<br /> và thói quen rèn giũa năng lực Việt - Văn Việt - Người Việt, Nxb Trẻ<br /> mũi gai hoặc có thể lảo đảo và thành phố Hồ Chí Minh.<br /> dùng từ trong giao tiếp cũng 6. Chu Văn Sơn (2007), Thơ,<br /> cựa mình...Chẳng hạn, nhà thơ điệu hồn và cấu trúc, Nxb Giáo dục.<br /> như trong tạo lập văn bản.<br /> nữ Phan Huyền Thư đã viết: 7. Bùi Minh Toán (1999), Từ<br /> <br /> “Nắng lảo đảo/mái hiên say 3. Kết luận trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt,<br /> Nxb giáo dục.<br /> <br /> Khi dạy và học Ngữ văn, 8. Nguyễn Đức Tồn (2010), Đặc<br /> nghiêng ngả”, còn Lê Đạt thì: trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ<br /> “Hè thon cong thân nắng phải dựa vào nghĩa trong hệ và tư duy, Nxb Từ điển bách khoa.<br /> <br /> cựa mình”. Nghĩa là, nắng thống mà lí giải nghĩa trong<br /> KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN 9<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SỐ 04 NĂM 2018<br /> Kiểm tra đánh giá quá trình theo hướng<br /> <br /> phát triển năng lực học sinh<br /> trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông<br /> <br /> ThS. NGUYỄN THỊ ÁNH NGỌC<br /> Trường CĐSP Gia Lai<br /> <br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Kiểm tra đánh giá là hai<br /> công việc được tiến hành<br /> theo trình tự nhất định hoặc<br /> đan xen lẫn nhau nhằm khảo<br /> sát, xem xét về cả định lượng<br /> và định tính kết quả học tập,<br /> đánh giá mức độ chiếm lĩnh<br /> nội dung học vấn của học sinh.<br /> Kiểm tra đánh giá có ý nghĩa<br /> to lớn đối với học sinh, giáo<br /> viên và các nhà quản lí giáo<br /> dục. Vì vậy, kiểm tra đánh giá<br /> kiến thức, kỹ năng vận dụng là đổi mới kiểm tra đánh giá chỉ là chuyển từ chủ yếu đánh<br /> một khâu quan trọng không phát huy hiệu quả cuối cùng giá kết quả học tập cuối môn<br /> thể tách rời trong hoạt động khi thông qua đổi mới phương học, khóa học (đánh giá tổng<br /> dạy học ở nhà trường, là một pháp dạy học. Vì vậy, nghiên kết) nhằm mục đích xếp hạng,<br /> bộ phận hợp thành không thể cứu về thực trạng và đề xuất phân loại sang sử dụng các<br /> những giải pháp trong kiểm loại hình thức đánh giá thường<br /> thiếu trong quá trình giáo dục.<br /> tra đánh giá học sinh hiện nay xuyên, đánh giá định kì theo<br /> Đổi mới phương pháp dạy ở trường phổ thông là một từng chủ đề, từng chương<br /> học và đổi mới kiểm tra đánh trong những biện pháp góp nhằm mục đích phản hồi, điều<br /> giá là hai mặt thống nhất hữu phần vào việc đổi mới phương chỉnh quá trình dạy học (đánh<br /> cơ của quá trình dạy học, trong pháp dạy học, từ đó góp phần giá quá trình). Trong kiểm tra<br /> đó đổi mới kiểm tra đánh giá nâng cao hiệu quả dạy học ở đánh giá học sinh phải chú ý<br /> chính là động lực để thúc đẩy trường phổ thông hiện nay. đến cả quá trình học tập. Đánh<br /> đổi mới phương pháp dạy học. Một trong những hướng giá theo hướng phát triển<br /> Đổi mới phương pháp dạy học đổi mới kiểm tra đánh giá kết năng lực không chỉ giới hạn<br /> phải dựa trên kết quả đổi mới quả học tập của học sinh theo vào khả năng tái hiện tri thức<br /> kiểm tra đánh giá và ngược lại hướng phát triển năng lực đó mà chú trọng cả khả năng vận<br /> 10 KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN<br /> dụng tri thức trong việc giải tác tư duy (phân tích, so sánh, trình đó sẽ nhắm đến mục<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> quyết các nhiệm vụ phức hợp. tổng hợp...) và chất lượng của tư tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng<br /> 2. Giải quyết vấn đề duy (nhanh, sâu, độc lập, sáng hứng thú học đường, tạo sự<br /> tạo...)”. [3; 105]. tự giác trong học tập và quan<br /> 2.1. Mối quan hệ giữa trọng hơn là gieo vào lòng học<br /> kiểm tra, đánh giá với phát Mỗi cá nhân để thành<br /> công trong học tập, thành đạt sinh sự tự tin, niềm tin người<br /> triển năng lực học sinh trong khác làm được mình cũng làm<br /> dạy học Lịch sử ở trường THPT trong cuộc sống phải sở hữu<br /> nhiều loại năng lực khác nhau. được. Điều này vô cùng quan<br /> Năng lực và kiến thức, kĩ Trong quá trình kiểm tra, đánh trọng để tạo ra mã số thành<br /> năng, thái độ có mối quan hệ giá kết quả học tập của học công của mỗi học sinh trong<br /> với nhau. Một năng lực là tổ tương lai.<br /> sinh, giáo viên sử dụng nhiều<br /> hợp đo lường được các kiến loại hình, công cụ khác nhau 2.2. Kiểm tra đánh giá<br /> thức, kĩ năng và thái độ mà để kiểm tra, đánh giá được quá trình theo hướng phát<br /> một người cần vận dụng để các loại năng lực khác nhau triển năng lực học sinh<br /> thực hiện một nhiệm vụ trong của người học, qua đó có tác Đánh giá quá trình “là loại<br /> một bối cảnh thực và có nhiều dụng kịp thời phản hồi, điều đánh giá được thực hiện thường<br /> biến động. Để thực hiện một chỉnh hoạt động dạy học và xuyên, liên tục trong suốt quá<br /> nhiệm vụ, một công việc có giáo dục. trình dạy học, bao gồm kiểm tra<br /> thể đòi hỏi nhiều năng lực<br /> Đào tạo theo hướng phát miệng, kiểm tra viết dưới 1 tiết,<br /> khác nhau. Vì năng lực được<br /> triển năng lực người học đã kiểm tra thực hành dưới 1 tiết,<br /> thể hiện thông qua việc thực quan sát hoạt động học tập của<br /> và đang trở thành một xu<br /> hiện nhiệm vụ nên người học học sinh thông qua các bài học<br /> thế tất yếu và phổ quát trong<br /> cần chuyển hóa những kiến kiến thức mới, bài thực hành,<br /> nền giáo dục trên thế giới.<br /> thức, kĩ năng, thái độ có được bài ôn tập, sơ kết, tổng kết, qua<br /> Xu hướng chung của chương<br /> vào giải quyết những tình tự học ở nhà” [1; 69].<br /> trình hiện đại là chuyển từ “tập<br /> huống mới và xảy ra trong môi<br /> trung vào kiến thức” sang tập Mục đích chính của kiểm<br /> trường mới.<br /> trung vào năng lực. Chiến lược tra đánh giá quá trình nhằm<br /> Trong quá trình dạy học, đổi mới căn bản toàn diện hệ sử dụng kiểm tra đánh giá<br /> để nắm được những thông tin thống giáo dục phổ thông như là một phương pháp dạy<br /> về kiến thức, kĩ năng và thái độ hiện nay của Bộ Giáo dục và học tích cực, qua đó, giáo viên<br /> của người học đạt được sau Đào tạo chọn đổi mới kiểm biết rõ hơn về những gì học<br /> một quá trình học tập, giáo tra đánh giá là khâu đột phá sinh đang học và học như thế<br /> viên phải tiến hành kiểm tra, nhằm thúc đẩy các quá trình nào. Đồng thời, là cơ sở để<br /> đánh giá để thu thập được khác như đổi mới phương giáo viên điều chỉnh việc dạy<br /> thông tin về kết quả học tập pháp dạy học, đổi mới cách học của mình. Đánh giá quá<br /> của học sinh. Vì vậy, kiểm tra thức tổ chức hoạt động dạy trình cung cấp những thông<br /> đánh giá và việc phát triển học, đổi mới quản lí...Nếu thực tin phản hồi về hoạt động học<br /> năng lực học sinh có mối quan hiện được việc kiểm tra đánh tập của người học và không<br /> hệ mật thiết, tác động qua lại giá theo hướng vì sự tiến bộ nhất thiết được sử dụng cho<br /> lẫn nhau. Kiểm tra đánh giá của người học, như là quá mục đích xếp hạng, phân loại.<br /> “có tác dụng lớn trong việc phát trình thúc đẩy phát triển học “Mối quan tâm của đánh giá<br /> triển toàn diện học sinh như: các tập bền vững, giúp phát triển quá trình là hiệu quả của hoạt<br /> năng lực nhận thức (nhớ, hình năng lực người học thì lúc đó động giảng dạy trong việc phát<br /> dung, tưởng tượng và tư duy), quá trình dạy học sẽ trở nên triển khả năng của người học,<br /> trong đó đặc biệt là các thao tích cực hơn rất nhiều. Quá chứ không phải là việc chứng<br /> KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN 11<br /> minh học sinh đã đạt được mức trên lớp hoặc có thể vận dụng bộ, mảng kiến thức, kỹ năng<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SỐ 04 NĂM 2018<br /> độ thành tích nào đó” [8; 28]. các kĩ thuật kiểm tra đánh giá nào còn yếu để điều chỉnh quá<br /> Trong đánh giá quá trình, việc khác như: trình dạy và học. Và khi nói đến<br /> thu thập thông tin hoặc dữ - Quan sát: Quan sát thái đánh giá là vì sự tiến bộ của<br /> liệu về hoạt động học tập của độ, hành vi, mức độ hoàn học sinh thì đánh giá phải làm<br /> người học trong lớp được sử thành các công việc được giao. sao để học sinh không sợ hãi,<br /> dụng để cải thiện hoạt động không bị thương tổn để thúc<br /> dạy và hoạt động học. Đánh - Kết hợp quan sát các<br /> đẩy học sinh nỗ lực. Đánh giá<br /> giá quá trình không nhằm hoạt động học tập trong tiết<br /> vì sự tiến bộ của học sinh còn<br /> mục đích đưa ra kết luận về học: Trả lời câu hỏi, hoàn thành<br /> có nghĩa là sự đánh giá phải<br /> kết quả giáo dục cuối cùng của bài tập, hoạt động nhóm, giải<br /> diễn ra trong suốt quá trình<br /> từng học sinh mà tập trung quyết vấn đề...<br /> dạy - học, giúp học sinh so<br /> vào việc tìm ra những nhân tố - Các câu hỏi kiểm tra sánh phát hiện mình thay đổi<br /> tác động đến kết quả giáo dục nhanh vào đầu giờ, cuối giờ thế nào trên con đường đạt<br /> của học sinh để có những giải và giữa giờ: Trả lời nhanh các mục tiêu học tập của cá nhân<br /> pháp kịp thời, đúng lúc, giúp câu hỏi, phiếu trắc nghiệm đã đặt ra. Thứ hai, cần nhận<br /> cải thiện, nâng cao chất lượng hoặc điền nhanh thông tin vào thức rằng đánh giá là một quá<br /> dạy học. Đánh giá quá trình phiếu thăm dò. trình học tập, đánh giá diễn<br /> còn giúp chẩn đoán hoặc đo Khi đánh giá quá trình, ra trong suốt quá trình dạy và<br /> kiến thức và kĩ năng hiện tại cần tuân theo một số yêu cầu: học. Không chỉ giáo viên biết<br /> của học sinh nhằm xác định cách thức, các kỹ thuật đánh<br /> một chương trình học tương + Định hướng cho học<br /> sinh về năng lực mà giáo viên giá học sinh mà quan trọng<br /> lai cho phù hợp. không kém là học sinh phải<br /> mong muốn học sinh sẽ hình<br /> Đánh giá quá trình cung thành được. học được cách đánh giá của<br /> cấp thông tin phản hồi cho giáo viên, phải biết đánh giá<br /> người học về mức độ nắm + Phương pháp đánh giá<br /> lẫn nhau và biết tự đánh giá<br /> vững thông tin của họ, đồng và hình thức đánh giá phải<br /> kết quả học tập rèn luyện của<br /> thời giúp giáo viên thiết kế phù hợp với nội dung học<br /> chính mình. Có như vậy, học<br /> phương pháp giảng dạy phù tập, mục tiêu của quá trình<br /> sinh mới tự phản hồi với bản<br /> hợp hơn. Việc đánh giá trở dạy học, năng lực và mức độ<br /> thân xem kết quả học tập,<br /> nên ý nghĩa hơn khi người học cần đạt được, phương pháp<br /> rèn luyện của mình đạt mức<br /> cùng tham gia đánh giá chính dạy học.<br /> nào/đến đâu so với yêu cầu,<br /> bản thân mình. “Khi người học + Kết quả đánh giá được tốt hay chưa tốt như thế nào.<br /> đảm nhận vai trò tích cực trong thông báo kịp thời, chính xác, Với cách hiểu đánh giá ấy mới<br /> việc xây dựng tiêu chí chấm đúng đối tượng. giúp hình thành năng lực của<br /> điểm, tự đánh giá, đề ra mục Tác giả Nguyễn Công học sinh, cái mà chúng ta đang<br /> tiêu, điều đó cũng có nghĩa là Khanh đưa ra triết lí “kiểm rất mong muốn. Thứ ba, đánh<br /> người học sẵn sàng chấp nhận tra đánh giá vì sự tiến bộ của giá phải lượng giá chính xác,<br /> cách thức đã được xây dựng để người học”. Theo tác giả, kiểm khách quan kết quả học tập,<br /> đánh giá khả năng học tập của tra đánh giá vì sự tiến bộ của chỉ ra được học sinh đạt được<br /> họ” [8; 29]. người học nghĩa là cung cấp ở mức độ nào so với mục tiêu,<br /> Có nhiều hình thức kiểm những thông tin phản hồi chuẩn đã đề ra. Sau khi học<br /> tra đánh giá quá trình. Giáo giúp học sinh biết mình tiến sinh kết thúc một giai đoạn<br /> viên có thể thực hiện qua hình bộ đến đâu, những mảng kiến học thì tổ chức đánh giá, để<br /> thức kiểm tra vấn đáp nhanh thức, kỹ năng nào có sự tiến giáo viên biết được những<br /> 12 KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN<br /> kiến thức mình dạy, học sinh trước bạn bè, giáo viên có thể khả năng thành thạo của học<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> đã làm chủ được kiến thức, kỹ cho học sinh thảo luận theo sinh như sẵn sàng chấp nhận<br /> năng ở phần nào và phần nào nhóm và đại diện cho nhóm ý kiến của người khác, đưa ra<br /> còn hổng... sẽ phát biểu ý kiến chung của ý kiến mới, khả năng tìm kiếm<br /> 2.3. Biện pháp kiểm nhóm. Điều quan trọng là phải thông tin.<br /> kích thích được tất cả học sinh<br /> tra đánh giá quá trình theo Trong dạy học, giáo viên<br /> suy nghĩ và tham gia vào bài<br /> hướng phát triển năng lực cần theo dõi tất cả các học<br /> học, điều này sẽ khiến cho<br /> học sinh sinh trong lớp. Tuy nhiên, đối<br /> quan sát có hiệu quả.<br /> 2.3.1. Kiểm tra đánh giá với những học sinh có những<br /> Ví dụ khi dạy bài 17: Nước nét đặc biệt về cách học hay<br /> qua quan sát học sinh học tập<br /> Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ kết quả học tập thì cần có sự<br /> Giáo viên quan sát từng sau ngày 2-9-1945 đến trước quan tâm hơn và tìm ra những<br /> cá nhân học sinh và quan sát ngày 19-12-1946 (Sgk Lịch sử nguyên nhân của những mặt<br /> cá nhân học sinh cùng với các 12, chương trình Chuẩn), giáo hạn chế để giúp các em khắc<br /> học sinh khác một cách có hệ viên cho học sinh thảo luận phục.<br /> thống và có mục đích sẽ giúp nhóm khi dạy đến mục II- Bước<br /> cho giáo viên theo dõi và giúp 2.3.2. Sử dụng câu hỏi, bài<br /> đầu xây dựng chính quyền cách<br /> đỡ học sinh có hiệu quả. Trong tập để kiểm tra đánh giá học<br /> mạng, giải quyết nạn đói, nạn<br /> quá trình giảng dạy, giáo viên sinh trong quá trình học tập<br /> dốt và khó khăn về tài chính.<br /> liên tục quan sát học sinh và Giáo viên có thể chia lớp thành Đặt câu hỏi cho học sinh<br /> những gì diễn ra trong lớp học 4 nhóm, mỗi nhóm thảo luận trong quá trình dạy học nhằm<br /> như quan sát biểu hiện của nét về một nội dung: mục đích lôi cuốn học sinh vào<br /> mặt để phán đoán trạng thái bài học, giúp học sinh tư duy<br /> Nhóm 1: Những biện<br /> của học sinh khi tiếp thu bài và diễn đạt bằng lời những<br /> pháp để xây dựng củng cố<br /> học (thích thú, ngạc nhiên, thờ suy nghĩ của mình một cách<br /> chính quyền cách mạng<br /> ơ, buồn, chán, lơ đãng...); các khoa học, đồng thời giúp học<br /> Nhóm 2: Những biện sinh tự đánh giá được mức độ<br /> biểu hiện qua cử chỉ động tác<br /> pháp giải quyết nạn đói lĩnh hội tri thức. Các câu trả lời<br /> để biết được sự thuần thục của<br /> kĩ năng, biểu hiện của giọng Nhóm 3: Những biện của học sinh sẽ cho giáo viên<br /> nói (nhanh, chậm, lưu loát, pháp giải quyết nạn dốt những thông tin cần thiết về<br /> ngập ngừng, mạch lạc....) để Nhóm 4: Những biện từng học sinh và tập thể lớp để<br /> đoán mức độ tự tin khi nắm pháp giải quyết khó khăn về điều chỉnh giảng dạy và giúp<br /> kiến thức. tài chính học sinh khắc phục những<br /> thiếu sót.<br /> Giáo viên cần kích thích Học sinh làm việc nhóm<br /> sự tham gia tích cực của học trên cơ sở dựa vào sách giáo Trong dạy học Lịch sử ở<br /> sinhvào bài học để học sinh khoa hoàn thành những công trường phổ thông, có rất nhiều<br /> có cơ hội thể hiện mình. việc của nhóm mình. Trong loại câu hỏi, bài tập để kiểm tra<br /> Trong thực tế, những học quá trình các em thảo luận đánh giá học sinh:<br /> sinh thường xuyên phát biểu, nhóm, giáo viên quan sát quá - Các câu hỏi, bài tập tái<br /> trả lời các câu hỏi của giáo viên trình làm việc của học sinh, có hiện được sử dụng trong dạy<br /> sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng những điều chỉnh, uốn nắn học Lịch sử gợi lại những kiến<br /> đánh giá được sự tiến bộ trong phù hợp. Qua quá trình quan thức đã học để tiếp thu kiến<br /> học tập. Tuy nhiên, có những sát học sinh làm việc, giáo viên thức mới hoặc làm cơ sở cho<br /> học sinh ít khi tham gia phát đánh giá được đặc điểm nhận việc khái quát hoá, hệ thống<br /> biểu, vì các em ngại mắc lỗi thức, mức độ lĩnh hội tri thức, hoá kiến thức.<br /> KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN 13<br /> - Các câu hỏi, bài tập phân học sinh trả lời câu hỏi, giáo nhà cho học sinh như sau: Lập<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SỐ 04 NĂM 2018<br /> tích trong dạy học Lịch sử viên đánh giá được mức độ niên biểu các sự kiện phản ánh<br /> nhằm chia tách sự kiện, hiện nắm kiến thức của học sinh, chủ trương và biện pháp đấu<br /> tượng lịch sử thành các khía từ đó điều chỉnh quá trình dạy tranh của Đảng, chính phủ và<br /> cạnh nhỏ, vấn đề nhỏ với các của mình cho phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh để chống<br /> dấu hiệu và thuộc tính chung Kiểm tra đánh giá việc thù trong giặc ngoài ở hai thời<br /> của chúng và các mối quan hệ thực hiện các bài tập về nhà. kì (2 - 9 - 1945 đến trước 6-3-<br /> của chúng theo một hướng 1946 và từ 6-3-1946 đến trước<br /> nhất định. Thông qua việc giao bài<br /> 19-12-1946 theo các nội dung:<br /> tập về nhà và kiểm tra việc<br /> - Câu hỏi, bài tập khái học sinh thực hiện bài tập - Chủ trương đó là gì?<br /> quát là các câu hỏi, bài tập rút như thế nào, giáo viên sẽ có - Việc thực hiện chủ trương<br /> ra những nét chung của các được nhiều thông tin về kết đó ra sao?<br /> sự kiện, rút ra đặc điểm và các quả cũng như thái độ học tập<br /> kết luận, nhận xét về quá trình - Vì sao Đảng và Chủ tịch<br /> của học sinh. Khi giáo bài tập<br /> lịch sử. Hồ Chí Minh lại chọn chủ trương<br /> về nhà, giáo viên cần thiết kế<br /> đó?<br /> - Câu hỏi, bài tập so sánh, và suy nghĩ cẩn thận, không<br /> đối chiếu là loại câu hỏi, bài nên giao bài tập một cách vội Kiểm tra đánh giá theo<br /> tập so sánh để rút ra cái chung vã, có sự giải thích đối với các hướng phát triển năng lực<br /> và cái riêng, giống và khác bài tập, cần lường trước những của học sinh cần tăng cường<br /> nhau, tiêu biểu và đặc thù các khó khăn của học sinh đối với các bài tập bằng câu hỏi rèn<br /> sự kiện, thời kỳ lịch sử. các bài tập được giao. luyện kỹ năng thực hành bộ<br /> môn như: Lập niên biểu, vẽ sơ<br /> Tùy theo từng đối tượng Bài tập về nhà phải chú ý<br /> đồ, đồ thị, bản đồ diễn biến<br /> học sinh, nội dung bài học mà rèn luyện khả năng vận dụng<br /> các phong trào cách mạng.<br /> giáo viên lựa chọn loại câu hỏi, kiến thức, thể hiện vai trò tự<br /> Ngoài ra, nên tạo điều kiện<br /> bài tập phù hợp để kiểm tra lực của học sinh. Vì thế bài tập<br /> cho học sinh làm việc với SGK<br /> đánh giá được mức độ tiếp không nên quá đơn giản, chỉ<br /> (nghiên cứu trước) bằng các<br /> nhận kiến thức của học sinh sao chép lại tài liệu mà nó đi<br /> câu hỏi, bài tập yêu cầu tóm<br /> từ đó có cách điều chỉnh cho vào chiều sâu kiến thức, đòi<br /> tắt nội dung, lập dàn ý các bài<br /> thích hợp. hỏi học sinh phải suy nghĩ, vận<br /> dụng, liên hệ giữa các đơn vị trong SGK sẽ học. Tập vẽ sơ<br /> Ví dụ, khi dạy bài 17: Nước đồ, biểu đồ nghiên cứu và tìm<br /> Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ kiến thức. Bài tập có thể được<br /> ra dưới dạng một câu hỏi tổng hiểu các câu hỏi trong SGK.<br /> sau ngày 2-9-1945 đến trước Việc yêu cầu học sinh làm việc<br /> ngày 19-12-1946 (Sgk Lịch hợp. Giáo viên cần đầu tư công<br /> sức để thiết kế các bài tập thật với SGK cần phải tạo hứng thú<br /> sử 12, chương trình Chuẩn), để các em tìm các tư liệu bổ<br /> ở mục I- Tình hình nước ta sau hấp dẫn. Những loại bài tập<br /> này cần mang tính tổng hợp sung (sưu tầm tranh ảnh, các<br /> cách mạng tháng Tám năm mẫu chuyện, số liệu...) hay tìm<br /> 1945, trong quá trình trình bày cao, nội dung được biến đổi<br /> để tạo trở ngại nhất định trong thêm các sử liệu địa phương<br /> về tình hình nước ta sau cách<br /> việc tìm kiếm câu trả lời có liên quan.<br /> mạng tháng Tám 1945, giáo<br /> viên đặt câu hỏi: Vì sao sau Khi học xong bài bài 17: 2.3.3. Làm bài kiểm tra<br /> Cách mạng tháng Tám 1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng ngắn<br /> nước ta có 90% dân số bị mù hòa từ sau ngày 2-9-1945 Các bài kiểm tra ngắn như<br /> chữ?. Trả lời câu hỏi này đòi hỏi đến trước ngày 19-12-1946 kiểm tra 15 phút thường cung<br /> học sinh phải liên hệ với kiến (Sgk Lịch sử 12, chương trình cấp những căn cứ tốt để giáo<br /> thức đã học trước đó. Qua việc Chuẩn), giáo viên ra bài tập về viên theo dõi và đánh giá sự<br /> 14 KHOA HOÏC XAÕ HOÄI - NHAÂN VAÊN<br /> tiến bộ của học sinh, giúp giáo hoàn thành tại lớp, tự đánh Chú trọng kiểm tra, đánh<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> viên đánh giá học sinh đầy đủ giá bài tập mà mình đã hoàn giá quá trình là một nội dung<br /> hơn, kịp thời khuyến khích họ thành sau khi thông qua thảo trong đổi mới kiểm tra, đánh<br /> nỗ lực học tập. Các bài kiểm tra luận trong nhóm. Cách đánh giá theo hướng phát triển<br /> ngắn thường soạn nhanh và ít giá này không chỉ hình thành năng lực của học sinh trong<br /> tốn thời gian, đồng thời giúp cho học sinh năng lực tự đánh dạy học Lịch sử hiện nay.<br /> giáo viên phân tích những giá mà còn giúp cho giáo viên Thông qua kiểm tra, đánh giá<br /> điểm mạnh, điểm yếu của học đánh giá được sự tiến bộ của quá trình giáo viên có thể biết<br /> sinh, giúp học sinh tự đánh giá học sinh nhanh chóng và có được mức độ học sinh lĩnh<br /> để bản thân thấy được sự cần hiệu quả. hội kiến thức đạt được so với<br /> thiết cố gắng trong học tập. mục tiêu mình đặt ra trong<br /> Trên đây là đề xuất một<br /> Các bài kiểm tra ngắn giúp giảng dạy, tạo điều kiện cho<br /> số biện pháp kiểm tra đánh giáo viên nắm vững hơn tình<br /> giáo viên thu được các phản<br /> giá quá trình học tập của học hình học tập của học sinh,<br /> hồi nhanh chóng từ học sinh,<br /> sinh theo hướng phát triển từ đó điều chỉnh lại cách dạy<br /> từ đó cải tiến kịp thời việc<br /> năng lực. Ngoài ra, tùy điều của mình để hoàn thiện hơn.<br /> giảng dạy.<br /> kiện giáo viên có thể sử dụng Với ý nghĩa đó, kiểm tra, đánh<br /> Khi học xong tiết 1, bài 17: nhiều biện pháp và công cụ giá quá trình được xem như<br /> Nước Việt Nam Dân chủ Cộng<br /> kiểm tra khác ví dụ như kiểm là một phương pháp dạy học<br /> hòa từ sau ngày 2-9-1945<br /> tra các hoạt động thực hành tích cực./.<br /> đến trước ngày 19-12-1946<br /> của học sinh trong quá trình<br /> (Sgk Lịch sử 12, chương trình<br /> học tập, lập hồ sơ học tập của TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> Chuẩn), giáo viên cho học sinh<br /> học sinh...để rèn luyện và phát [1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo<br /> làm bài kiểm tra 15 phút với (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và<br /> triển các năng lực tương ứng. kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo<br /> câu hỏi như sau: Em có nhận định hướng phát triển năng lực học<br /> xét gì về chủ trương của Đảng 3. Kết luận sinh môn lịch sử cấp THPT, Vụ Giáo dục<br /> trung học - Chương trình phát triển<br /> trong việc giải quyết những khó Giáo dục phổ thông giáo dục trung học, Hà Nội.<br /> [2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo<br /> khăn của tình hình nước ta sau nước ta đang thực hiện bước (2014), Chương trình tổng thể giáo dục<br /> cách mạng tháng Tám 1945?. chuyển từ chương trình giáo phổ thông, Hà Nội.<br /> [3]. Nguyễn Thị Côi (2011),<br /> Với câu hỏi này, học sinh trình dục tiếp cận nội dung sang Các con đường, biện pháp nâng cao<br /> bày ý kiến của mình thông qua tiếp cận năng lực của người<br /> hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ<br /> thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.<br /> những kiến thức đã được học. học. Để đảm bảo được điều [4]. Trần Trung Dũng (2014),<br /> Trả lời câu hỏi, năng lực đánh “Tổ chức hoạt động dạy học ở trường<br /> đó, chúng ta đang từng bước trung học phổ thông theo định<br /> giá sự kiện lịch sử của học sinh chuyển từ phương pháp dạy<br /> hướng phát triển năng lực học sinh”,<br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục,(số<br /> sẽ được rèn luyện. học theo lối “truyền thụ kiến 106), tr 7-9.<br /> [5]. Trần Văn Hiếu (2013), Giáo<br /> 2.3.4. Tổ chức cho học sinh thức một chiều” sang dạy cách trình đánh giá trong giáo dục, NXB<br /> Đại học Huế.<br /> tự đánh giá và đánh giá theo học, cách vận dụng kiến thức, [6]. Đặng Văn Hồ (2011), Tập<br /> nhóm rèn luyện kĩ năng, hình thành bài giảng chuyên đề Kiểm tra - đánh<br />