Luận văn: Thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 1 | Page: 83 | FileSize: 0.67 M | File type: PDF
of x

Luận văn: Thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nhằm phát triển Thủ đô Hà Nội theo hướng hiện đại, văn minh, giàu đẹp góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa thủ đô để Thủ đô Hà Nội xứng đáng là thủ đô của một nước 100 triệu dân, trong những năm qua thành phố Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, giáo dục…Hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc, các công trình phục vụ trong lĩnh vực văn hóa,.... Cũng như những thư viện tài liệu khác được thành viên giới thiệu hoặc do sưu tầm lại và giới thiệu lại cho các bạn với mục đích học tập , chúng tôi không thu tiền từ bạn đọc ,nếu phát hiện tài liệu phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho chúng tôi,Ngoài tài liệu này, bạn có thể tải đồ án thạc sĩ tiến sĩ phục vụ tham khảo Một số tài liệu download sai font không hiển thị đúng, có thể máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn tải các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://tailieumienphi.vn/doc/luan-van-thuc-trang-cong-tac-chuan-bi-quy-nha-oa-dat-o-tai-dinh-cu-tren-dia-ban--wsy2tq.html

Nội dung


  1. Luận văn Thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội 1
  2. LỜI MỞ ĐẦU N hằm phát triển Thủ đô Hà Nội theo hướng hiện đ ại, văn minh, giàu đẹp góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đ ại hóa thủ đô để Thủ đô H à Nội xứng đ áng là thủ đô của một nước 100 triệu dân, trong những năm qua thành phố H à Nội đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, giáo dục…Hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc, các công trình phục vụ trong lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, khoa học và kỹ thuật, các dự án xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các khu đô thị mới…đ ã và đ ang đ ược xây dựng và phát triển. Nhu cầu đất đai cho các dự án này ngày càng lớn đã tạo ra sức ép rất lớn cho công tác giải phóng mặt bằng. Công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện tốt thì tiến độ dự án mới nhanh . Nhưng trên thực tế vấn đ ề đền bù giải phóng mặt bằng không chỉ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng, mà còn tác động rất nhiều đến chất lượng và giá thành công trình. Tuy nhiên công tác giải phóng mặt bằng nhanh hay chậm lại phụ thuộc phần lớn vào chính sách bồi thường thiệt hại của Nhà nước đối với đối tượng trong diện bị giải toả. Các phương án bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là bồi thường bằng tiền, bồi thường bằng đất ở hay bố trí các hộ dân vào các khu tái định cư…Với truyền thống trồng lúa nước, tâm lý an cư lạc nghiệp , người dân luôn muốn được đền bù bằng nhà, đất hơn là đền bù bằng tiền vì có ổn định chỗ ở thì mới có thể yên tâm sản xuất, làm ăn. V ì vậy, bên cạnh việc đền bù bằng tiền, N hà nước đã chuẩn bị quỹ nhà, quỹ đất tái định cư nhằm bố trí các hộ dân bị giải toả vào các khu tái định cư tập trung đảm bảo cho các hộ dân có chỗ ở ổn định, đảm bảo tái định cư theo quy hoạch, đảm bảo các cơ hội duy trì thu nhập sau khi bị di chuyển chỗ ở, và ổn định cuộc sống của người dân. 2
  3. N hận thấy tầm quan trọng của quỹ nhà đ ất tái đ ịnh cư đối với tiến độ của công tác giải phóng mặt bằng, được tiếp xúc với những tài liệu liên quan đến vấn đề này em xin chọn đề tài : ”Thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho chuyên đề thực tập của mình với mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà, đất tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố H à Nội, đồng thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp thúc đẩy đầu tư, phát triển quỹ nhà ở, đất ở tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: -Phương pháp duy vật biện chứng: nghiên cứu tính tất yếu của quá trình đô thị hoá và giải phóng mặt bằng nhằm đáp ứng sự phát triển của các đô thị. - Phương pháp thống kê, thu thập , xử lý số liệu, so sánh: thu thập và xử lý số liệu cụ thể về kết quả của công tác giải phóng mặt bằng, công tác chuẩn bị quỹ nhà, quỹ đất tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội. So sánh các kết quả và đưa ra kết luận cụ thể giữa khả năng đáp ứng và nhu cầu. -Phương pháp d ự báo: dựa trên những số liệu cụ thể về nhu cầu và thực trạng chuẩn bị quỹ nh à, đất tái định cư trên đ ịa bàn thành phố H à Nội để đưa ra những dự báo cho những năm tiếp theo Chuyên đ ề bao gồm các phần chính sau đây: Chương I: Sự cần thiết và vai trò của việc chuẩn bị quỹ nhà ở, đ ất ở tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng. Chương II: Thực trạng công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng tại Hà Nội. Chương III: G iải pháp thúc đ ẩy phát triển công tác chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư p hục vụ giải phóng mặt bằng trên đ ịa bàn thành phố Hà Nội. 3
  4. CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHUẨN BI QUỸ NHÀ Ở, ĐẤT Ở TÁI ĐỊNH CƯ PHỤC VỤ GPMB I. SƠ LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ GPMB 1 . GPMB là vấn đề tất yếu của quá trình phát triển Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, m ọi giai đoạn việc giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình là không thể tránh khỏi, nhịp độ phát triển càng lớn thì nhu cầu GPMB càng cao và trở thành một thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả ở trong các lĩnh vực x ã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia. Trong quá trình phát triển của đất nước, sự xuất hiện và hình thành các đô thị là một đ iều tất yếu, khách quan, đó là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Đ ô thị được xem là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao đọng phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên nghành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện. Đ ể hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị, điều này được xem là một phần của sự phát triển, thì luôn diễn ra quá trình phân bổ lại quỹ đ ất đai cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Khi các nghành sản xuất công nghiệp, giao thông, du lịch, d ịch vụ, thương mại… tăng dần tỷ trọng trong tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (GDP) thì việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất làm nhà ở sang đ ất chuyên dùng sử dụng vào các mục đ ích công nghiệp, giao thông, du lịch, thương mại…là đièu tất yếu và diễn ra ngày càng m ạnh mẽ. Một quốc gia cành phát triển, thì tỷ lệ đất chuyên dùng (đặc biệt là đất sử dụng vào các mục đích công nghiệp®, du lịch, dịch vụ) càng cao và tỷ lệ đất nông nghiệp càng thấp. Vấn đ ề đặt ra là nhà nước cần có quy 4
  5. ho ạch, kế hoạch để sử dụng đất một cách khoa học, p hù hợp nhằm đảm bảo cho đô thị phát triển bền vững, hài hoà, cân đối. H iện nay đất nước ta đang trong quá trình CNH -HĐH, quá trình đ ô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Nhu cầu đ ặc điểm để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật cũng như cỏ sở hạ tầng x ã hội, cãc khu vui chơi giải trí ….là rất lớn. Đ ể có đất đai phuc vụ nhu cầu này nhà nước cần phải tiến hành công tác quy ho ạch, kế hoạch sử dụng đất trong và ngoài thành phố. Trong công tác quy ho ạch, kế hoạch sử dụng đất có sự thay đổi mục đích sử dụng của một số loại đất, chủ yếu là từ đất nông nghiệp chuyển sang các mục đ ích sử dụng khác và có những diện tích đất đ ang được sử dụng trên đia bàn thành phố nhưng nằm trong quy hoạch và chưa phù hợp thì cũng phải thay đổi lại. Công tác thu hồi đát để xây dựng các dự án theo quy hoach này được gọi là Giải phóng mặt bằng. Công tác này có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ thi công các dự án thì lại là công tác khó khăn nhất vì nó ảnh hưởng tới lợi ích của nhiều người sử dụng đất và cả lợi ích của nhà nước. Giả phóng mặt bằng làm thay đổi, di dời to àn bộ cuộc sống của người dân từ công việc sản xuất, kinh doanh đ ến các sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy người dân chỉ sẵn sàng chuyển sang nơi ở mới hoặc nơi sản xuất mới khi mà họ thấy đ ược lợi ích của mình không bị thiệt hại nhiều. Điều này phụ thuộc vào chính sách đ ền bù thiêt hại của nhà nước đối với người dân trong diện giải phóng mặt bằng. Đ ây là công việc khó khăn nhất trong GPMB vì đ ể chấp nhận di chuyển đôi khi người d ân không chấp nhận các phương án bòi thường của nhà nước và đưa ra các đòi hỏi vượt quá phạm vi cho phép của nhà nước. Vì vậy đ ể có thể tiến hành GPMB nhanh chóng, đảm bảo tiến độ thực hiện cho dự án. Nhà nước cần đưa ra các chính sách, giả pháp quy định cụ thể vấn đề đền bù thiệt hại cho người dân. G PMB trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của phát triển, nếu không được xử lý tốt thì sẽ thành một lực cản thực tế đ ầu tiên mà các nhà phát triển phải vượt qua. Bài học từ các nước phát triển dạy rằng nếu xem nhẹ vấn đề này trong tính toán đ ầu tư p hát triển thì không chỉ làm tăng giá thành 5
  6. mà cồn để lại nhiều hậu quả nặng nề không thể xử lý được bằng tiền. Có thể khẳng định rằng đền bù và giải phóng mặt bằng là vấn đề của phát triển, là nội dung không thể né tránh của phát triển, và chính nó là một yếu tố quyết định của tiến bộ xã hội và sự thành công của phát triển, bất kỳ một giải pháp nào mà thiếu đồng bộ, không chặt chẽ đều để lại hậu quả tiêu cực. 2. Công tác đ ền bù Giải phóng mặt bằng 2.1. Thực chất của đền bù giải phóng mặt bằng. Luật đất đai năm 2003 quy định: “ Đ ất đai thuộc sở hữu to àn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. V ì vậy nhà nước nắm trong tay quyền chiếm hữu, quyền đ ịnh đo ạt và quyền sử dụng đất đối với toàn bộ đất đai trên phạm vi lãnh thổ đất nước. Nắm trong tay quyền định đoạt, nhà nước có quyền quyết đ ịnh số phận pháp lý của đất đai đồng thời có quyền lợi dụng tính năng của đất để phục vụ cho lợi ích kinh tế và đời sống của con người. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đ ất thông qua hình thức giao đất (có thu tiền hoặc không thu tiền SDĐ c), cho thuê đất, công nhận quyền sdđ đối với người đang sử dụng đ ất ổn định. Người sdđ có quyền lợi dụng tính năng của đất phục vụ lợi ích cho mình, đồng thời phải sử dụng đất theo đúng mục đích và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, trong đó người sử dụng đất có nghĩa vụ “ Giao lại đất trong khi nhà nứoc có quyết địnhthu hồi hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất”. K hi nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội, mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì vô tình nhà nước đã vi phạm vào quyền sử dụng đất của người sử dụng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người sdđ nên phải đền bù cho họ khi tiến hành thu hồi đất. Đ ền bù GPMB được hiểu là việc chi trả lại đầy đủ tương xứng những thiệt hại về đất đai, nhà ở, vật kiến trúc, công trình hạ tầng kỹ thuật, cây cối, hoa màu và các chi phí khác để ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị thu hồi đất đai, tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất 6
  7. để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Chính sách đền bù giải phóng mặt bằng bao gồm những quy định về việc đ ền bù thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất thu hồi, các biện pháp hỗ trợ để ổn đ ịnh sản xuất và đ ời sống cho người có đất bị thu hồi. Trong đ iều kiện hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hoá đổi mới về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Bên cạnh đó, m ục tiêu củng cố quốc phòng, an ninh để bảo vệ đ ất nước trước những âm mưu m ới của kẻ thù cũng đặt ra những yêu cầu mới. Nhu cầu đất đai để xây dựng các công trình về y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao , các công trình du lịch, dịch vụ, thương mại, phát triển đô thị…công trình an ninh quốc phòng là rất lớn. Nếu nhà nước không có những chính sách và những quy định phù hợp thì dễ dẫn đ ến tình trạng là sau mỗi lần nhà nước thu hồi đ ất để sử dụng vào múc đích quuốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, sẽ có nhiều hộ gia đ ình, cá nhân lâm vào tình trạng không có chỗ ở, không có việc làm, công việc sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, đ ời sống của họ sẽ lâm vào khó khăn.Thực tế cho thấy, công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất là vấn đ ề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế –xã hội nhân văn của nhiều người, của cả cộng đồng dân cư. Giải quyết không tốt, không thoả đáng quyền lợi của ngừơi có đất bị thu hồi và người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để dẫn đ ến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đô ng người, làm cho tình hình trở nên phức tạp, từ đó gây nên sự mất ổn định về kinh tế chính trị xã hội nói chung.Từ đó, quá trình thực hiện đền bù GPMB để thực hiện các dự án xây dựng luôn phải giải quyết, dung hoà mâu thuẫn về lợi ích của hai nhóm đối tượng là người đ ược giao đ ất và người bị thu hồi đ ất. N gười được giao đất (Trong đó có cả các cơ quan nhà nướcT) luôn tìm cách giảm chi phí bồi thường GPMB nhằm hạ giá thành xây dựng, tiết kiệm chi phí sản xuất. Trong khi đó người bị thu hồi đất luôn đòi hỏi phải được trả một khoản bồi thường “ càng nhiều càng tốt” mà trước hết phải là thoả đ áng; mặt 7
  8. khác trong nội bộ những người được đền b ù có người chấp hành tốt chíng sách đất đai của nhà nước, có người chấp hành chưa tốt, do đó đòi hỏi xử lý sao công bằn cũng là một viếc hết sức khó khăn. N ghiên cứu tìm hiểu tận gốc rễ của vấn đề đền bù thiệt hại, GPMB đề ra m ột chính sách hợp lý, đ ủ chi tiết và dự kiến trước mọi tình huống để giả quyết hài hoà, thoả đáng quyền lợi của người đ ược giao đất và người bị thu hồi đất là rất cần thiết, góp phần tạo động lực phát triển. K ể từ thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế ở miền Bắc cho đến trước khi có luật đất đai năm 1993, để phục vụ cho việc lấy đ ất xây dựng các công trình của nhà nước, các chính sách về đền bù thiệt hại đã được ban hành, cụ thể là: Nghị định số 151 /TTg ngày 14/01/1959 của hội đ ồng chính phủ quy định tạm thời về trưng dụng đất; Thông tư số 1792/Ttg ngày 11 /01/1970 của phủ thủ tướng quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đ ai, cây cối, các hoa màu cho nhâ dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố. Do ở thời kỳ này đất đ ai chưa được thừa nhận là có giá cho nên các chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trị bồi thường, phương án thực hiện. Đ ến khi nhà nước xác lập quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối về đất đai tại hiến pháp 1980, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết địnhvề đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác hơn là chính sáhc G PMB hiện nay. H iến pháp năm 1992 ra đ ời đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường, GPMB qua những điều khoản quy định cụ thể sau: Đ iều 17: “ Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân”. Đ iều 18: “ nhà nước giao đ ất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn địnhlâu dài… Tổ chức, cá nhân…được chuyển quyền sử dụng đất được nhà nước giao theo quyết định của pháp luật”. 8
  9. Đ iều 23: “… trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản cho cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.” Đ iều 58: “ Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được NN giao sử dụngthì theo quyết định tại Đ17 và Đ18” Đồng thời luật đất đai năm 1993 đã quy định nhànước thực hiện giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức, NN còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất. Trong trường hợp thật cần thiết, nhà nước thu hồi đất đ ang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào m ục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại. Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ đ ể thực hiện thu hồi đất. Luật quy định cụ thể các trường hợp bồi thườngvà tái định cư đảm bảo chỗ ở ổn định cho người dân sau khi bị thu hồi đất. H iến pháp năm 1992, luật đất đ ai 1993đã đ ặt cơ sở pháp lý cho việc đền bù thiệt hại GPMB và cụ thể tại nghị đ ịnh 90/cp ngày 17/08/1994 của chính phủ quy định về việc đền bù .thiệt hại về đấ khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Quy định khi nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất đ ược đền bù thiệt hại bằng đất hoặc được đền bù thiệt hại bằng tiền. Tuy nhiên sau 3 năm triển khai, khả năng thực hiện của nghị định này là rất hạn chế do: sau khi ban hành luật đất đ ai, về cơ bản đất đ ai đã có chúử dụng, đền bù thiệt hại bầng đất không thể thực thi; đền bù b ằng tiền thì căn cứ vào giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của chính phủ, nhưng giá đất do nhà nước ban hành quá thấp so với giá chuyển quyền sử dụng đ ất đai tại hầu hết các địa phương. 9
  10. N hân thấy những bất cập trên, chính phủ đã ra NĐ số 22/1998/NĐ -CP ngày 24/4/1998 thay thế nghị định số 90 /1994/NĐ-CP; về cơ bản có kế thừa một số quy định của nghị đ ịnh số 90 và có một số quy định như tiền đền bù thiệt hại về đ ất vẫn theo quy đ ịnh của chính phủ, nhưng đ ược nhân với hệ số k, để đảm bảo giá đ ất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lời và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại đ ịa phương; Quy định rõ hơn về vấn đề tái định cư; chính sách hỗ trợ có lợi nhiều hơn cho người bị thu hồi đất. Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện, nghị định 22/CP cũng đ ã có những hạn chế sau: Mặc dù giá dất tính đền bù được nhân theo hệ số K nhưng vẫn còn quá thấp so với thời giá thị trường, chưa có sự thống nhất về cách xác đ ịnh giáất giữa các địa phương, chưa làm rõ trách nhiệm của UBND các cấp, các nghành, chủ dự án trong công tác GPMB, chưa quy đ ịnh việc bồi thường, hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng… Vì vậy luật đất đai năm 2003 ra đời, chính sách về đèn bù thiệt hại GPMB & tái định cư đã được quy đinh rõ trong nghị định 197 /2004/NĐ- CP ngày 03/12/2004. Nghị định 197 ra đời thay thế cho nghị định 22? CP quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, m ục đích phát triển kinh tế. 2.2. Phạm vi áp dụng và đ ối tượng được đền bù trong chính sách: Phạmvi áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất được quy định tại NĐ197 /2004/NĐ -CP : Đ ược bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhaf nước thu hồi đ ất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc phòng, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế. Khái niệm này bao gồm cả đất sử dụng cho các dự án sản xuất kinh doanh, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu vui chơi giải trí, khu du lịch, khu đô thị mới, khu dân cư tập trung và các dự án đầu tưho ặc phát triểnkhác đã đ ược cơ quan nhà nứoccó thẩm quyền quyết định và đất sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích và công cộng khác khong nhằm mục đích kinh doanh của đ ịa phương do UBND tỉnh, thành phố trrực thuộc Trung ương quyết định. 10
  11. N hà nước thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái đ ịnh cư và GPMB: - Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiênj b ồi thường, hỗ trợ, tái đinh cư được tính vào vốn đ ầu tư cua dự án. - Tổ chức, cá nhân được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đ ất, cho thuê đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy đ ịnh của NĐ197/CP và được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. - Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người VN định cư ở nước ngoài đầu tư vào VN thì không phải trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nếu đẫ chi trả thì được trừ số tiền đã trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp. Phạm vi bồi thường hỗ trợ cho người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất là: Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất nhà nước thu hồi; bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền vói đất và các chi phí đầu tư vào đất bị nhà nước thu hồi; Hỗ trợ di chuyển; hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghềvà hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất; hỗ trợ để ổn định sản xuất và đ ời sống tại khu tái định cư. Khi người sử dung đất bị nhà nước thu hồi đ ất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nha ở; bồi thừong bằng giao đất ở mới; bồi thường bằng tiền tiền để tự lo chỗ ở mới.. Đối tượng được bồi thường bằng đất được quy định cụ thể tại NĐ 197/2004/NĐ -CP người bị nhà nước thu hồi đất, nêuc ó một trong những đ iều kiện ssau thì được bồi thừong. Chứng tỏ có: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có quyết định giao đất của cơ q uan nhà nước có thẩm quyền, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định đ ược xác nhận là không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ theo quy định của nhà nước… V ề hạn mức bồi thường đất ở: D iện tích đất ở bồi thường cho mỗi hộ gia đình theo hạn mức đátt ở do UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quyết đ ịnh, nhưng không vượt qua diện tích đất bị thu hồi. Trong trường 11
  12. hơp đất ở bị thu hồi đ ất ở có thể đ ược đền bù thêm một phần diện tích đất ở tuỳ theo quyết định của đ ịa phương, p hần còn lại thì được đền bù b ằng tiền. NĐ 197 /2004/NĐ -CP cũng quy đinh nguyên tắc bồi thường tài sản gồm bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất; bồi thường cho người thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, bồi thường về di chuyển mồ mả; bồi thươngđối vơiứ công trình văn hoá, di tích lịch sử., nhà thờ, đình chùa, am , miếu; bồi thườngđối ới cây trồng vật nuôi; bồi thường cho người lao đ ộng do ngừng việc. Tài sản trên đất hợp pháp và có khái niệm hợp pháp hoá được bồi thường 100% giá trị tài sản; tài sản trên đất bất hợp pháp sẽ được hỗ trợ 80 %mức bồi thường hoặc không được hỗ trợ bồi thường tuỳ theo mức độ bất hợp pháp của tài sản. Về mức tiền bồi thườngnhà và các công trình xây dựng trên đất bằng giá trị hiẹn tại cộng với một khoản tiền bằng tỷ lệ tối đ a không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại. Ngoài bồi thường về đất và bồi thường về tài sản, NĐ 197/2004/NĐ-CP cũng quy định các chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn đ ịnh cuộc sốngvà ổ n đinh ssản xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu nhà nước; hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của dxã, phường, thị trấn và hỗ trợ khác để đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất. II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG NHÀ Ở TÁI ĐỊNH CƯ TRONG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG. 1. Khái niệm tái định cư: V iệc thực hiện các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, các khu công nghiệp , khu chế xuất, khu đô thị mới đò i hỏi phải thu hồi đất đai đã làm cho người dân tại vùng quy hoạch dự ánphát triển buộc phải di chuyểnchỗ ở. Đ iều này đã làm ảnh hưởng sâu sắc, làm đảo lộn cuộc sống của người dân. Vì vậy 12
  13. nhà nướcphải giải quyết các vấn đề bồi thường thiệt hại, di chuyển và tái địh cư cho những người bị ảnh hưởng. Tái định cư được hiểu là quá trình từ bồi thường cho các tài sản bị thiệt hại, di dân đến nơi ở mới cùng các biện pháp hỗ trợ việc tái tạo lạicác tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ phải di chuyểnvà cuối cùng là toàn bộ các chương trình biện phápnhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu nhập của họ và ổ n định đời sống người dân. Tái đ ịnh cư, như vậy, gồm hai quá trình riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau: Di dân và xây dựng lại cuọoc sống của người dân bị di dời. Tính phức tạp của tái định cư và sự phong phú, đa dạng của dự án khiến cho mục tiêu thực hiện tốt công tác này như m ột nhiệm vụ đầy khó khăn và ngày càng trở thành nhân tố trọng yếu trong thực hiện các dự án phát triển. 2. Công tác tái định cư: 2.1.Vai trò của công tác tái đ ịnh cư: Trong những năm gần đây, việc triển khai các dự án xây dựng lớn ở nước ta diễn ra ngày càng mạnh mẽ và gặp không ít những khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là việc đền bù giả phóng mặt bằng, nhất là ở những nơi phải di dời nhiều dân cư. Tiến độ thi công kéo dài gây lãng phí lớn, không ít đơn từ kiện cáo kéo dài ….gây khó khăn cho ban quản lý dự án và gây bất an cho người dân. Trong đó công tác tái đ ịnh cư cho người có đ ất bị thu hồi là vấn đề mà người dân quan tâm nhiều nhất. Vì không ít người khi bị di chuyển chỗ ở đã ảnh hưởng đáng kể tới đời sống và thu nhập của họ , làm cho cuộc sống người dân càng khó khăn thêm. Nguyên nhân chủ yếu là: Đối với đặc thù là một nước nông nghiệp vì vậy diện tích đất thu hồi phục vụ cho mục đích xây d ựng chủ yếu lấy từ đ ất nông nghiệp vì vậy diện tích đất thu hồi phục vụ cho mục đích xây dựng chủ yếu lấy từ đất nông nghiệp, đ ất làm nhà ở tại khu vực nông thôn và ven đô thị, và một phần đất đô thị nằm trong quy ho ạch. Nếu nhà nước không có chính sách và uy định phù hợp thì dễ dẫn đ ến 13
  14. tình trạng là sau mỗi lần nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phồng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, m ục đích kinh tế, sẽ có thêm nhièu hộ gia đình, cá nhân lâm vào tình trạng không còn ruộng đất -tư liệu sản xuất chính -đ ể nuôi sống gia đình và b ản thân gia đình họ. Trong khi đó nghành nghề trong nông thôn chưa phát triển, trình đ ộ, khả năng của người nông dân kông thể đáp ứng đ ược với yêu cầu cao của nền sản xuất tiên tién trong đô thị, công nghiệp, du lịch, tình trạngmột số hộ dân không có nhà ở trong một thời gian dài, sự chênh lệch giá cả giữa nơi ở cũ và nơi ở mới; cơ sở hạ tầng kém hơn, sự phân tán về mặt xã hội… vì vậy nhà nước không thể để tình trạng thực hiện dự án mang lại lợi ích ccho một số người thì lại buộc một số cá nhân khác lâm vào tình trạng khó khăn, nghèo túng.Trong khi mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của Đảng và nhà nước ta là dân giầu nước mạnh, x ã hội công bằng văn minh. Trong chiến lược phát triển đất nướccó chiến lược phát triển nhà ở, nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có chỗ ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn qua m ỗi thời kỳ phát triển của dất nước. Để thực hiện được điều này nhà nước cần phải có các chính sách và biện pháp thoả đáng giúp cho người bị ảnh hưởng bởi dự án lập lại cuộc sống của mình như khi không có dự án, ổ n định đời sóng và thu nhập. Đ ất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta không chỉ có những đô thị đ ẹp, hiện đ ại, những khu sản xuất khổng lồ, những công trìng công cộng khang trang mà còn kèm theo đó là chỗ ở của người dân cần phải đ ược nâng cấp, tiện nghi hơn, rộng rãi hơn… chính vì vậy phải tính toán một cách to àn diện, không thể có hiện tượng một công trình mới ra đời là kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn chỗ ở cũ. Nếu không nhìn nhận rõ bản chất của công tcs tái định cư, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự án đầu tư xây d ựng, mỗi dự án kéo theomột gia đình không có chỗ ở thì đã hàng ngàn gia đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ, như vậy là sự p hát triển thiên lệch, mục tiêu lớn của quốc gia không đạt được, 14
  15. vấn đề thiếu chỗ ở không chỉ dừng vấn đề ở mà còn kéo theo hàng loạt tệ nạn, tiêu cực xã hội phát sinh, sẽ ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước. Trong thực hiện tái định cư, ngo ài việc đền bù thiệt hai về đất, nhà và tài sản, cây trồng, vật nuôi có trên đất, còn có những thiệt hại vô hình (có thậtc) nhưng rất khó lường hoá chính xác được. Ví dụ như: do mất vị tríkinh doanh, m ất đất canh tác, hộ gia đ ình, cá nhân sau khi tái định cư p hải tìm kiếm những công việc mới; tạm nhừng chờ việc để thực hiện đền bù, di chuyển, xây dựng lại chỗ ở mới; các ảnh hưởng do thay đổi điều kiện vì khí hậu đến sức khoẻ, tập quán sinh hoạt…Tuỳ thuộc đặc điểm và mức độ tác động của dự án đầu tư đến người bị ảnh hưởng, những thiệt hại vô hình này cần phải được xem xét, giả quyết thông qua các chính sáchhỗ trợ thích hợp. Các hỗ trợ, trợ cấp cần thiết còn có tác dụng đ iều chỉnh những khác biệt, chênh lệch về lợi ích giữa những người bị ảnh hưởng nhằm đảm bảo tính công bằng khi thực hiện chính sách tái đ ịnh cư. 2.2. Mục tiêu chuẩn bị quỹ nhà, quỹ đất tái định cư: Mọi mục tiêu của quốc gia cũng là để người dân có ăn, có m ặc, có chỗ ở ổ n định và được học hành nâng cao dân trí đ ể xây dựng đất nước. Chính vì vậy trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sẽ có nhiều khu đô thị, nhiều điểm dân cư, nhiều khu sản xuất, văn hoá mọc lên thì việc di chuyển, giả toả dân cư là không thể tránh khỏi. Đ ể ổn định đời sống và bù đ ắp một phần thiệt hại mà những người dân b ị thu hòi đã phải chịu, Nhà nước phải luôn có chính sách tái định cưphù hợp, nhằm đảm bảo cho người dân phải di chuyển có được chhỗ ở ổn định, có điều kiện sống và tiện nghi bằng ho ặc cao hơn nơi ở cũ, nhưng chắc chắn phải tố hơn nơi ở cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dâ sóng ổn định và phát triển. Các phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư hiện nay là bồi thường bằng đất, b ằng tiền hoặc bố trí các hộ dân vào các khu tái định cư tạp trung thì phương án bố trí các hộ dân vào các khu tái định cư tập trung đ ược xem là phương án khả thi hơn cả. 15
  16. Phương án bồi thường bằng đất là phương án khó thực hiện hơn cả vì đa số các địa phương đất công ích còn lại không đáng kể nên không đáp ứng được yêu cầu đ ền b ù bằng đất. Mặt khác, với một số lượng lớn các hộ phải di dờiđể giải phóng mặt bằng, các hộ có diện tích đất thu hồi lớn (đất do cha ông để lại ở khu vực nông thôn®) thì việc đền bù cho họ một diện tích đ ất với giá trị tương đương là rất khó. Trong các phương án bồi thường thiệt hại GPMB hiện nay hầu hết việc bbồi thường cho dân đều được trả bằng tiền, trong số tiền bồi thường đó có người dân có đủ đ iều kiện để tạo lập nơi ở mới có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, song cũng có những người dân do nhu cầu cuộc sóng còn khó khăn, nhiều nhu cầu chi tiêu quan trọng hơn vì vậy họ đ ã không đ ủ tiền để tạo dựng nơi ở mới, phải sống tạm bợ với nhu cầu sống rất thấp, có thể làm cho người dân gặp khó khăn, nghèo túng hơn sau khi phải di chuyển. Như vậy mục tiêu lớn của quốc gia về nhà ở cho người dân phần nào hông thực hiện được. Do vậy, phương án bồi thường cách bố trí các hộ dân trong diện giả toả vào các khu tái định cư được xem là phương án khả thi hết sức cần thiết. Thực hiện phương án này không những tiết kiệm đất đai trong điều kiện quỹ đất công ích không còn nhiều mà nhà nước còn có thể gúp người dân ổn định đời sống tại nơi có các điều kiện về nơi ăn chốn ở bằng hợc tốt hơn trước bằng việc xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các khu tái định cư tập trung. Mục tiêu của việc chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư là: - Đảm bảo nhu cầu và tiến đ ộ cho việc giả phóng mặt bằng thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội. Giúp cho người dân có chỗ ở ổn đ ịnh, không còn tình trạng người dân phải thuê nhà ở tạm trong thời gian thực hiện dự án, phân bổ lại dân cư trong vùng thực hiện dự án theo quy hoạch, nhằm ổn định trật tự, an ninh xã hội… - Đ i đôi với việc xây dựng, chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư là việc xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng của khu tái định cư, tạo điều kiện thiết lập lại 16
  17. cuộc sống ban đầu cho người phải di chuyển như là xây dựng: Trường học, bệnh viện, chợ, hệthống thoát nước, các khu thương mại, dịch vụ. Phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh, d ịch vụ, giúp người dân có việc làm, duy trì thu nhập sau khi bị thu hồi đất. 2.3. Cơ sở pháp lý xây dựng các chính sách tái đầu tư: Q uá trình cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị là nguyên nhân thúc đ ẩy quá trình dịch chuyển dân số, sắp xếp lại không gian đô thị. Quá trình x ắp xếp ho ặc chuyển dịch dân cư gọi chung là tái định cư. Đ ể có thể làm cho tái định cư được tiến hành thuận lợi và bồi thường, hỗ trợ cho người dân phải di chuyển những gì họ đáng được hưởng, nhà nước còn phải có chính sách quốc gia tái định cư phù hợp. Khung chính sách tái định cư bao gồm tất cả những biện pháp được thực hiện bởi phần dự án để giảm nhẹ bất cứ hay ttất cả ảnh hưởng xã hội xấu của dự án đối với người bị di dời, b ao gồm bồi thườngcho tái sản thu nhập và những đ iều khoản về dền bù khác, hỗ trợ khôi phục thu nhập và chỗ ở khi cần thiết. Đ ể xây dựng nên một chính sách tái định cư đ úng đ ắn, phù hợp, nhà nước cần xây trên cơ sở và có sự tham khảo nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật đất đai, luật môi trường, pháp luật về quy hoạch xây dựng, luật đầu tư xây dựng, bộ luật dân sự và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Cơ sở để xây dựng lên chính sách quốc gia về tái định cư đã được hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định như sau: “ Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quôc hữu hoá. Trong rrường hợp thật cần thiết vì lý do qưuốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhan hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức mua, trưng dụng theo luật định.” (Điều 23) Còn ở bộ luật dân sự tại Điều 175 bảo vệ quyền sở hữu đã xác định: 1-Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. 17
  18. 2-Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, nhăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. 3-Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợ ích quốc gia, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.” Dựa trên những cơ sở pháp lý trên, nhà nước đã có những quy định cụ thể về tái đ ịnh cư . Theo luật đất đai 2003: “ U ỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở choi người bị thu hồi đ ất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất đ ược bồi thường bằng tiền vá được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước với đối với khu vực đô thị; Bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hơp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó.” (Khoản3. Điều 42K ) V iệc xây dựng và phát triển chính sách về tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người bị ánh hưởng bởi các dự án phát triển tại nước ta là một quá trình lâu dài, phụ thuộc vào nhận thức, khuôn khổ pháp lý và thực tiễn kinh tế xã hội và văn hoá. Chính sách này ngày càng được quan tâm và hoàn thiện để đ âps ứng được các mục tiêu đề ra trong công tác GPMB để thực hiện dự án trong từng giai đoạn để phát triển đất nước và đã được đề cập cụ thể trong Nghị định số 90/NĐ-CP/1994. Sau 3 năm thực hiện Nghị định này đã bộc lộ những bất cập và vấn đề tái đ ịnh cư m ới chỉ đề cậo sơ q ua. Nghị định số 22/1998/NĐ -CP, thể hiện chính sách đền bù và tái định cư của nhà nước khi thu hồi đ ất. Tuy nhiên nghị đ ịnh này chỉ mới chỉ yếu tập trung giải 18
  19. quyết đ ền bù thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào m ục đ ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Trong khi đó, vấn đề tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng là một vấn đ ề rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ GPMB, làm chậm tiến độ thực hiện dự áncũng như ảnh hưởng dến cuộc sống của những người bị thu hồi đất sau khi phải di chuyển chỗ ở lại chưa được đề cập chi tiết va đúng mức. V à Nghị định 197/2004/NĐ -CP ra đời thay thế cho Nghị định số 22/1998/NĐ -CP quy định cụ thể về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của nhà nước và là văn bản giá trị nhất của nhà nước quy định về vấn đề này trong thời điểm hiện tại. 3. Những quy định chung về tái định cư: 3.1. Đối tượng và phạm vi tái định cư: *Đối tượng được hưởng chính sách tái định cư là người có đất bị thu hồi hoặc thiệt hại về đất đai, tài sản do việc thực hiện các dự án gây nên: + Hộ bị ảnh hưởng, bị giải toả tạo mặt bằng đ ể xây dựng công trình công cộng phục vu các lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, các mục đ ích phát triển kinh tế. +Hộ bị ảnh hưởng, b ị giả toả nhằm thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầncho các khu tái định cư, hoặc bị ảnh hưởng khi di chuyển các công trình kinh tế, hạ tầng kỹ thuật để giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình giao thông, công trình lớn mang tính quốc gia. *Phạm vi tái định cư: - Người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở, d i chuyển cơ sở sản xuất kinh doanh và các cơ sở tài sản khác gắn liền với đất bị thu hồi đến nơi ở mới mà không nhận bồi thường bằng tiền thì được bố trí tái định cư. - Các hộ trong diện giải toả được hưởng bồi thường theo các quy địh của nhà nước. H ình thức đền bù thông qua bố trí tái định cư sẽ được các hộ đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền . các hộ đã d ăng ký kiểm kê 19
  20. cam kết vào tái định cư thì buộc phải vào các khu tái định cư, không được chuyển sang phương án đền bù khác. 3.2. Lập và thực hiện dự án tái định cư: Căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội của địa phương; căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đ ã được cấp có thẩm quyền xét duyệt, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án tái định cư để đảm bảo phục vụ tái định cư cho người bị thu hồi đất phải chuyển chỗ ở. V iệc lập dự án và xây dựng khu TĐ C thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng. 3.3. Bố trí tái đ ịnh cư: Cơ quan (tổ chức t) được UBND cấp tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho từng hộ gia đ ình bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái đ ịnh cư và niêm yết công khai phương án này tại trụ sở của đ ơn vị, tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đ ất bị thu hồi và tại nơi tái định cư trong thời gian 20 ngày trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư; nội dung thông báo gồm: - Đ ịa điểm, q uy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đ ất, giá bán nhà chung cư. - D ự kiến bố trí các hộ vào tái đ ịnh cư. Ưu tiên TĐ C tại chỗ cho người bị thu hồi đất tại nơi có dự án tái định cư, ưu tiên vị trí thuận lợi cho các hộ sớm thực hiện GPMB, hộ có vị trí thuận lợi ở nơi ở cũ, hộ gia đình chính sách. Tạo điều kiện cho các hộ vào khu tái định cư được xem cụ thể khu tái định cư và thảo luận công khai về dự kiến bố trí tái định cư . Đối với dự án đ ầu tư do chính phủ, Quốc hội quyết đ ịnh mà phải chuyển dời cả một cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn b ộ đời sống, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá của cộng đồng thì tuỳ từng tình hình cụ thể, thủ tướng chính phủ quyết đ ịnh hoặc trình chính phủ xem xét quyết định 20
709662

Tài liệu liên quan


Xem thêm