Luận văn thạc sĩ kinh tế: Những giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 3 | Page: 111 | FileSize: 1.33 M | File type: PDF
of x

Luận văn thạc sĩ kinh tế: Những giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài Những giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trình bày những vấn đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, các loại hình và những cam kết của Việt Nam về lĩnh vực dịch vụ tài chính. Luận văn khảo sát thực trạng thị trường dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng, nghiên cứu kinh nghiệm tiên tiến của Thái Lan, Singapore trong việc phát triển thị trường dịch vụ tài chính, các định hướng và giải pháp phát triển hai loại hình dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng.. Cũng như các giáo án bài giảng khác được thành viên chia sẽ hoặc do tìm kiếm lại và chia sẽ lại cho các bạn với mục đích tham khảo , chúng tôi không thu tiền từ bạn đọc ,nếu phát hiện tài liệu phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho chúng tôi,Ngoài tài liệu này, bạn có thể download tiểu luận miễn phí phục vụ nghiên cứu Có tài liệu download thiếu font chữ không xem được, thì do máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn tải các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://tailieumienphi.vn/doc/luan-van-thac-si-kinh-te-nhung-giai-phap-phat-trien-thi-truong-dich-vu-tai-chinh-zzi7tq.html

Nội dung


  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG  VŨ THỊ XUÂN THƠ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Mã số: 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Quy HÀ NỘI - 2004
  2. MỤC LỤC Phần mở đầu Trang Chương 1 Tổng quan về dịch vụ tài chính 4 1.1. Những vấn đề cơ bản về dịch vụ tài chính và vai trò của 4 nó đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân. 1.1.1 Khái niệm dịch vụ tài chính 4 1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ tài chính 6 1.1.3 Các loại hình dịch vụ tài chính 7 1.1.4 Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển nền 10 kinh tế quốc dân 1.2 Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài 12 chính và những cam kết của Việt nam 1.2.1 Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài 12 chính 1.2.1.1 Những quy định của GATS đối với thị trường dịch vụ tài 12 chính 1.2.1.2 Những quy định trong Hiệp định khung về Hợp tác dịch vụ 16 của ASEAN đối với thị trường dịch vụ tài chính 1.2.1.3 Những quy định trong Hiệp định thương mại Việt nam - 16 Hoa Kỳ đối với thị trường dịch vụ tài chính 1.2.2 Những cam kết của Việt nam trong các Hiệp định về lĩnh vực 17 dịch vụ tài chính 1.2.2.1 Cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam trong Hiệp định 17 khung về Hợp tác dịch vụ của ASEAN 1.2.2.2 Cam kết về dịch vụ tài chính trong Hiệp định thương mại 22 Việt nam - Hoa Kỳ Chương 2. Thực trạng thị trường dịch vụ tàI chính việt nam trong những 28 năm gần đây 2.1 Khái quát chung về thị trường dịch vụ tài chính Việt nam 28 2.2 Thực trạng thị trường dịch vụ bảo hiểm 29 2.2.1 Những thành tựu đạt được 30
  3. 2.2.2 Một số vấn đề còn tồn tại 37 2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 41 2..2.4 Những bất cập của thị trường dịch vụ bảo hiểm so với yêu 43 cầu hội nhập quốc tế 2.3 Thực trạng thị trường dịch vụ ngân hàng 48 2.3.1 Những thành tựu đạt được 50 2.3.2 Một số vấn đề còn tồn tại 58 2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 62 2.3.4 Những bất cập của thị trường dịch vụ ngân hàng so với yêu 64 cầu hội nhập quốc tế Chương 3 CÁC GIảI PHÁP NHằM PHÁT TRIểN THị TRườNG DịCH 70 Vụ TÀI CHÍNH VIệT NAM đÁP ứNG YêU CầU HộI NHậP KINH Tế QUốC Tế 3.1 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển thị 70 trường dịch vụ tài chính 3.1.1 Thái Lan 70 3.1.2 Singapore 73 3.1.3 Các bài học kinh nghiệm rút ra 75 3.2 Định hướng, giải pháp phát triển thị trường dịch vụ bảo 79 hiểm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 3.2.1 Định hướng phát triển dịch vụ bảo hiểm 79 3.2.1.1 Các quan điểm về việc phát triển dịch vụ bảo hiểm 79 3.2.1.2 Các định hướng chủ yếu 81 3.2.2 Giải pháp phát triển thị trường dịch vụ bảo hiểm 83 3.3 Định hướng, giải pháp phát triển thị trường dịch vụ ngân 87 hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 3.3.1 Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng 87 3.3.1.1 Các quan điểm về việc phát triển dịch vụ ngân hàng 87 3.3.1.2 Các định hướng chủ yếu 90 3.3.2 Các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng 90 3.3.2.1 Nhãm gi¶i ph¸p ®èi víi Ng©n hµng Nhµ n-íc 90 3.3.2.2 Nhãm gi¶i ph¸p ®èi víi c¸c ng©n hµng th-¬ng m¹i 92 KÕt luËn
  4. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp hoàn thành bản Luận văn, tôi xin đặc biệt bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Quy - người đã chỉ bảo tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn. Tôi cũng xin cảm ơn các các cô chú, anh chị ở Bộ tài chính, Bộ thương mại, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương đã hỗ trợ tài liệu - một phần không thể thiếu để bản Luận văn được hoàn chỉnh. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã hỗ trợ, ủng hộ về tinh thần để tôi có thể hoàn thành Luận văn. Do hạn chế về năng lực và thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự góp ý chỉ bảo của thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp. Hà nội, ngày 20 tháng 6 năm 2004 Tác giả Vũ Thị Xuân Thơ
  5. BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT WTO Tổ chức Thương mại Thế giới GATS Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ BTA Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ AFAS Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN MFN Quy chế Đãi ngộ Tối huệ quốc NT Quy tắc Đãi ngộ quốc gia NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng Thương mại NHTMQD Ngân hàng Thương mại Quốc doanh NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam INCOMBANK Ngân hàng Công thương VBARD Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TCTD Tổ chức tín dụng GDP Tổng sản phẩm Quốc nội TCTC Tổ chức tài chính BHNT Bảo hiểm nhân thọ BH PHI NT Bảo hiểm phi nhân thọ ACB Ngân hàng thương mại cổ phần á châu EXIM Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu UOB Ngân hàng United Overseas Bank Singapore EAB Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
  6. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tên bảng Trang 2.1 Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh bảo hiểm 31 2.2 Danh sách các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường bảo 34 hiểm Việt Nam (tính đến ngày 30/11/2003) 2.3 Cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990 - 2003 48 2.4 Doanh số thanh toán thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 55 2.5 Tỷ trọng giữa cho vay so với vốn huy động giai đoạn 1994-2003 61 2.6 Tình hình huy động vốn của hệ thống ngân hàng 61 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ Tên biểu đồ Trang 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993 - 2003 31 2.2 Tỷ trọng doanh thu PBH/GDP giai đoạn 1993 - 2003 32 2.3 So sánh doanh thu PBH nhân thọ và phi NT 35 2.4 So sánh doanh thu PBH/GDP một số nước năm 2001 38 2.5 Tỷ trọng dư nợ tín dụng tính đến 31/12/2003 50 2.6 Thị phần thẻ ATM của ngân hàng Ngoại thương Việt nam 55 năm 2003 so với các ngân hàng khác 2.7 Thị phần thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng Ngoại thương 56 Việt nam năm 2003 so với các ngân hàng khác 2.8 Doanh số bảo lãnh vốn vay trong nước và nước ngoài của 4 57 NHTMNN giai đoạn 1998 - 2002
  7. -1- PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ phải thực hiện nhiều cam kết trong các Hiệp định như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) khi Việt Nam tham gia vào WTO. Một trong những nội dung quan trọng của các cam kết đó là tận dụng mọi ngoại lực, phát huy hết mọi nội lực để xây dựng một thị trường dịch vụ tài chính vững mạnh. Tuy nhiên tại Việt Nam, thị trường dịch vụ tài chính phát triển còn chậm. Cho đến nay, một số yếu tố của thị trường còn chưa đầy đủ, hàng hoá đơn điệu, các quy định pháp lý chưa đủ và đồng bộ, do vậy chưa huy động được tối đa nguồn lực trong xã hội cho đầu tư. Chính vì thế mà thị trường này chưa phát huy được đầy đủ vai trò của nó đối với nền kinh tế. Do đó, việc đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ tài chính trong những năm qua nhằm tìm ra các hạn chế, khó khăn cùng các nguyên nhân làm cho thị trường dịch vụ tài chính còn chậm phát triển, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức cần thiết. 2. Tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài, nhiều công trình khoa học tập trung nghiên cứu thị trường dịch vụ tài chính. Ví dụ: Đề tài khoa học cấp Bộ “Dịch vụ Bảo hiểm và ngân hàng của Việt nam. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đàm phán và thực hiện các cam kết với WTO” do TS. Nguyễn Thị Quy làm chủ nhiệm đề tài và một số các đề tài mà các sinh viên các trường Đại học khối kinh tế chọn viết Khóa luận tốt nghiệp.
  8. -2- Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động, những hạn chế của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong những năm gần đây, luận văn phân tích các nguyên nhân làm cho thị trường dịch vụ tài chính còn chậm phát triển nhằm đề xuất các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ tài chính và vai trò của nó đối với sự phát triển nền kinh tế quốc tế. - Đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ tài chính trong những năm gần đây: những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó. - Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam trong những năm gần đây và những nội dung yêu cầu nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn cũng sẽ nghiên cứu thị trường dịch vụ tài chính của một số nước trên thế giới. 5.2. Phạm vi nghiên cứu: Khái niệm dịch vụ tài chính là một khái niệm rộng, theo cách hiểu của GATS, dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)
  9. -3- nhưng Luận văn chỉ giới hạn trong việc đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng, kết hợp với các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế tài chính của Nhà nước để phân tích, đánh giá hoạt động thị trường dịch vụ tài chính Việt nam. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu. 7. Bố cục của Luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục Luận văn gồm 3 chương Chương 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Chương 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Danh mục tài liệu tham khảo
  10. -4- CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH .1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN. .1.1 Khái niệm dịch vụ tài chính Muốn hiểu được khái niệm dịch vụ tài chính, trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm dịch vụ. Về khái niệm dịch vụ, theo quan niệm phổ biến được dùng ở Việt nam thì đó là hoạt động kinh tế tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng tạo ra giá trị thặng dư do khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con người đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người và là một thành tố quan trọng đóng góp vào GDP. Dịch vụ là sản phẩm lao động có hàm lượng tri thức cao của con người, kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, tư vấn… Cùng với sự vận động, phát triển nhanh chóng của nền kinh tế với sự trợ giúp của khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng có những bước phát triển vượt bậc, do vậy đòi hỏi phải tiếp cận khái niệm dịch vụ bằng cách khác, thống nhất với các quốc gia và các tổ chức quốc tế mà chúng ta đang xúc tiến hội nhập, tập trung vào cách tiếp cận của WTO và Hiệp định thương mại Việt nam - Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế thì WTO không đưa ra một khái niệm cụ thể về dịch vụ, thay vào đó các khoản mục dịch vụ được phân tách theo nội dung và cách thức thực hiện chúng thông qua việc dẫn chiếu các ngành dịch vụ tới bảng phân loại hàng hóa trung tâm của Liên hiệp quốc. Bởi dịch vụ là khái niệm tương đối trừu tượng nên việc xác định các phương thức giao dịch phức tạp hơn nhiều so với thương mại hàng hoá, có thể là dịch vụ di chuyển qua biên giới tức là việc di chuyển độc lập với
  11. -5- người cung cấp và người tiêu dùng; khách hàng di chuyển qua biên giới để nhận dịch vụ được cung cấp; người sản xuất di chuyển qua biên giới để cung cấp dịch vụ qua việc thành lập cơ sở thương mại hoặc người cung cấp dịch vụ chỉ di chuyển tạm thời qua biên giới . Chính vì vậy, GATS quy định rằng thương mại dịch vụ được định nghĩa như là việc cung cấp dịch vụ thông qua các phương thức (MODE) sau: Phƣơng thức 1 (Cung cấp qua biên giới): dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên tới lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác. Phƣơng thức 2 (Tiêu dùng ở nƣớc ngoài): dịch vụ được cung cấp trên lãnh thổ của một thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ một thành viên nào khác. Phương thức này thường được đưa ra dưới dạng “sự di chuyển của người tiêu dùng” Phƣơng thức 3 (Hiện diện thƣơng mại): dịch vụ được cung cấp bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác. Hiện diện thương mại không chỉ bao gồm sự hiện diện của pháp nhân mà còn có những tổ chức có tính pháp lý. Hiện diện thương mại có thể là thành lập các chi nhánh hay đại lý để cung cấp các dịch vụ như ngân hàng, tư vấn pháp lý hay truyền thông. Phƣơng thức 4: (Hiện diện thể nhân): dịch vụ được cung cấp bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện của thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác. Khái niệm dịch vụ tài chính Trong nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính được chuyển từ người cung cấp tài chính đến người cầu tài chính bằng con đường trực tiếp, hoặc con đường gián tiếp qua các trung gian tài chính hoặc trung gian môi giới. Các trung gian này thực thi các dịch vụ tài chính. Theo cách hiểu này, các hoạt động giao dịch tài chính được thực hiện qua các trung gian (bao gồm
  12. -6- cả trung gian tài chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ có tính chất tài chính. Và nơi diễn ra những hoạt động có tính chất tài chính đó được gọi là thị trường dịch vụ tài chính. Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Một dịch vụ tài chính là bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). 21 1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính có những đặc điểm chung là: - Tính vô hình: là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. Chính đặc điểm này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng. Từ đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong kinh doanh phải dựa vào lòng tin, các nhà cung cấp dịch vụ thường chú ý đến việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao hình ảnh uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính đó. - Tính không thể tách biệt hay không thể chia cắt: quá trình cung cấp dịch vụ tài chính và quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và có sự tham gia của khách hàng. Mặt khác quá trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những quy trình nhất định. Sản phẩm dịch vụ tài chính không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà sản phẩm được cung cấp trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu. Đặc tính này sẽ chi phối khi xác định giá (lãi, phí) của dịch vụ tài chính - kế toán cung cấp cho người sử dụng dịch vụ tồn tại và phát triển, tổ chức cung ứng dịch vụ cũng tồn tại và phát triển bền vững.
  13. -7- - Tính không ổn định và khó xác định: Một sản phẩm dịch vụ tài chính dù lớn hay bé (xét về quy mô) đều không đồng nhất thời gian thực hiện, cách thức thực hiện, điều kiện thực hiện, vì vậy rất khó xác định. Một sản phẩm dịch vụ tài chính được cấu thành bởi nhiều yếu tố như công nghệ, trình độ cán bộ, khách hàng.. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ, nhưng lại thường xuyên biến động. Vì vậy nó không ổn định, khó xác định chính xác. 1.1.3 Các loại hình dịch vụ tài chính Theo nghĩa rộng, dịch vụ tài chính gồm tất cả các dịch vụ có tính chất tài chính. Như vậy, dịch vụ tài chính bao gồm các phân ngành dịch vụ như: phân ngành dịch vụ tài chính (gồm các dịch vụ bảo hiểm; kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính; dịch vụ chứng khoán và một số dịch vụ hỗ trợ khác); phân ngành dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên theo tiêu chí về tổ chức quản lý, phạm vi của dịch vụ tài chính còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ bao gồm các các dịch vụ thuộc phân ngành dịch vụ tài chính, đó là dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng; dịch vụ kế toán, kiểm toán; dịch vụ tư vấn tài chính (chủ yếu là tư vấn thuế); dịch vụ chứng khoán. Những ngành dịch vụ này hiện nay do nhiều ngành khác nhau quản lí. Ví dụ tại Việt Nam, ngành dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ kế toán - kiểm toán do Bộ tài chính quản lí, dịch vụ ngân hàng do ngân hàng nhà nước quản lý. Trong quá trình nhà nước sử dụng công cụ tài chính tiền tệ để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, các ngành dịch vụ này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động bổ trợ lẫn nhau, vì vậy nếu chỉ nhìn nhận dịch vụ tài chính theo nghĩa hẹp như nêu trên là không đầy đủ. Tuy nhiên việc đánh giá dịch vụ tài chính theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các phân ngành dịch vụ tài chính đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành. Mặt khác, hiện nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau về việc sắp xếp dịch vụ chứng khoán thuộc phân ngành dịch vụ nào (tài chính hay ngân hàng) hay là một phân
  14. -8- ngành dịch vụ riêng. Do đó, Luận văn chỉ dành tập trung đề cập đến hai loại hình dịch vụ chủ yếu: đó là dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng. Theo WTO - phụ lục G quy định các loại hình dịch vụ bảo hiểm và bảo hiểm ngân hàng như sau: Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm: Bảo hiểm trực tiếp nhân thọ; Bảo hiểm phi nhân thọ; Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm; Bảo hiểm qua trung gian như môi giới và đại lý. Dịch vụ Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm): Chấp nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản quỹ có thể thanh toán khác của công chúng; Mọi loại hình cho vay, kể cả tín dụng người tiêu dùng, tín dụng cầm đồ, cầm cố, dịch vụ về hoá đơn và tài trợ của các giao dịch thương mại; Thuê mua tài chính. Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền; Bảo lãnh và cam kết. Thương vụ tiến hành tự chịu chi phí hoặc nhân danh khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức hoặc các giao dịch khác về: công cụ thị trường tiền tệ (kể cả séc, hoá đơn, giấy chứng nhận tiền gửi); ngoại hối; các công cụ dẫn xuất nhưng không hạn chế bởi các giao dịch kỳ hạn hoặc quyền giao dịch; tỷ giá hối đoái và các công cụ về lãi suất, kể cả các công cụ như là giao dịch swap, thoả
  15. -9- thuận tỷ giá kỳ hạn; chứng từ có thể chuyển nhượng; các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý. Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả việc bảo hiểm phát hành và với hoạt động đại lý (dù theo cách công hoặc tư nhân) và cung cấp dịch vụ liên quan tới những vấn đề trên. Môi giới tiền tệ. Quản lý tài sản có, như là tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư gián tiếp, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quĩ hưu trí, hùn vốn, góp vốn và dịch vụ tín thác. Dịch vụ thanh toán hoặc thanh toán bù trừ về tài sản tài chính, kể cả chứng khoán, các công cụ dẫn xuất và các công cụ có thể chuyển nhượng khác; Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan do các người cung cấp dịch vụ tài chính thực hiện; Các dịch vụ về tư vấn, trung gian và bổ trợ về tài chính về mọi mặt hoạt động đã nêu trên, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn về đầu tư và đầu tư gián tiếp, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lược dịch vụ. Tuy nhiên, theo phụ lục của Hiệp định GATS về dịch vụ tài chính, một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một người cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên cung cấp. Dịch vụ tài chính không bao gồm “dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn của cơ quan chính phủ”. “Dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn của cơ quan chính phủ” trong dịch vụ tài chính được hiểu như sau: a. Các hoạt động được tiến hành bởi Ngân hàng Trung ương, tổ chức tiền tệ hoặc bởi bất kỳ một pháp nhân công cộng nào thực hành chính sách tài chính và chính sách tỷ giá hối đoái;
  16. - 10 - b. Các hoạt động tạo thành một bộ phận của hệ thống luật pháp về an ninh xã hội hay các chương trình hưu trí công; c. Các hoạt động khác do một pháp nhân công cộng tiến hành do Chính phủ chịu chi phí, đảm bảo hoặc sử dụng nguồn tài chính của Chính phủ. Nhưng nếu một thành viên cho phép bất kỳ một hoạt động nào được nêu tại điểm b hoặc c được người cung cấp dịch vụ tài chính của mình tiến hành và cạnh tranh với một pháp nhân công cộng hoặc một người cung cấp dịch vụ tài chính thì thuật ngữ “dịch vụ” vẫn được hiểu là bao gồm những hoạt động đó. Pháp nhân “công cộng” trong khuôn khổ WTO được hiểu là: Chính phủ, Ngân hàng Trung ương hoặc một tổ chức tài chính của một Thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của Chính phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên cơ sở những điều kiện thương mại; hoặc Một pháp nhân tư nhân, thực hiện các chức năng mà thông thường vẫn do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức năng này. .1.4 Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân Dịch vụ nói chung và các dịch vụ hạ tầng nói riêng là tiền đề không thể thiếu cho phát triển kinh tế, trong đó dịch vụ tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến các vấn đề đặt ra đối với tất cả các nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động, từ khâu chuẩn bị đầu tư cho đến quá trình tổ chức hoạt động và kết thúc dự án đầu tư (vấn đề vốn, ổn địch sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý..). Vì vậy, phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của dịch vụ tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan
  17. - 11 - trọng đối với phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế vì cũng như các dịch vụ hạ tầng khác, ở đây dịch vụ tài chính được xem như đầu vào của tất cả các ngành sản xuất. Có thể khẳng định, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chỉ có thể nâng lên khi các ngành sản xuất trong nền kinh tế có thể tiếp cận được các đầu vào có chất lượng cao và chi phí thấp. Dịch vụ tài chính có những vai trò sau:  Quản lý rủi ro Bằng việc định giá các rủi ro trong việc cung cấp dịch vụ tài chính, các tổ chức tài chính đã tạo ra cơ chế tập hợp, giảm thiểu và chuyển giao rủi ro. Chẳng hạn với việc tạo ra các công cụ tài chính hấp dẫn như gửi tiền không kỳ hạn, các hợp đồng lựa chọn (options), hợp đồng tương lai (future), các tổ chức trung gian tài chính có thể giúp cho các tổ chức, cá nhân quản lý rủi ro có hiệu quả, qua đó thúc đẩy mối quan hệ tương tác giữa người tiết kiệm và người đầu tư. Đối với loại rủi ro gây tổn thất trực tiếp cho tài sản và con người, thường sử dụng dịch vụ bảo hiểm. Bằng những dịch vụ bảo hiểm khác nhau cung cấp cho các tổ chức và cá nhân, các công ty bảo hiểm đã tạo ra cho những chủ thể này phương sách hữu hiệu để quản lý rủi ro. Như vậy, phát triển dịch vụ tài chính không những trực tiếp giảm thiểu rủi ro mà gián tiếp cung cấp các công cụ để tập hợp, trao đổi và phòng tránh rủi ro cho từng chủ thể trong nền kinh tế.  Thẩm định và phân bổ hiệu quả vốn đầu tƣ Để thẩm định các công ty hoặc các dự án là công việc khó khăn và tốn kém đối với những người đầu tư do không có phương tiện thu thập, xử lý thông tin về doanh nghiệp, thị trường và các điều kiện kinh tế. Trong bối cảnh đó, các trung gian tài chính khi cung cấp dịch vụ tài chính đã có khả năng tốt hơn trong việc thu nhập, thẩm định thông tin, đánh giá và phân bổ vốn. Như vậy, những chủ thể đầu tư khác có thể dựa vào kết quả đánh
  18. - 12 - giá của các trung gian tài chính để đầu tư tiết kiệm, phân bổ vốn một cách có hiệu quả hơn, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.  Giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế Trong việc cung cấp dịch vụ tài chính, các tổ chức trung gian tài chính thường bắt buộc khách hàng phải thực hiện sao cho có lợi nhất cho các cổ đông, các chủ nợ. Nói cách khác, các trung gian tài chính giúp những người tiết kiệm giám sát những người đi vay bằng việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của các tổ chức này. Việc giám sát tốt hoạt động của những người đi vay sẽ tạo điều kiện phân bổ vốn hiệu quả. Vì những người có tiết kiệm sẽ tin tưởng và tăng cường đầu tư, qua đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.  Huy động vốn để tài trợ cho nền kinh tế Sự phát triển của dịch vụ tài chính sẽ mang lại hiệu ứng quan trọng nhất là huy động các nguồn lực trong xã hội cho việc tài trợ các dự án, cung cấp vốn cho thị trường tài chính. Việc huy động vốn trên phạm vi rộng lớn của các tổ chức trung gian tài chính được thực hiện thông qua sự huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại, việc thu phí qua phát hành các hợp đồng bảo hiểm và thông qua việc huy động vốn của thị trường chứng khoán.  Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mậu dịch Các dịch vụ tài chính hiện đại hơn như séc, thẻ tín dụng và các cơ chế thanh toán đã tạo ra sự đơn giản hoá cho các hoạt động trao đổi mậu dịch, làm cho trao đổi mậu dịch trở nên dễ dàng hơn và nhờ đó sẽ kích thích sự phát triển của cả nền kinh tế. .2 NHỮNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH NÓI CHUNG VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM
  19. - 13 - .2.1 Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài chính 1.2.1.1 Những quy định của GATS đối với thị trường dịch vụ tài chính Các nước xin gia nhập WTO trong lĩnh vực thương mại dịch vụ đều phải đưa ra các cam kết của mình về các vấn đề liên quan đến tự do hoá thương mại dịch vụ theo hướng giảm nhẹ dần, tiến tới xoá bỏ các hạn chế và phân biệt đối xử, nhằm đảm bảo cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ trong nước cũng như ngoài nước những cơ hội và điều kiện như nhau để tiếp cận thị trường. Trong Thoả thuận về Các cam kết trong Dịch vụ Tài chính được quy định tại Phần III của GATS việc tiếp cận thị trường đối với 2 khu vực dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm có thể được thực hiện theo 4 phương thức như đã trình bày ở trên: phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thể nhân hoặc hiện diện thương mại. Những quy định của GATS có ảnh hưởng đến dịch vụ tài chính bao gồm hai nhóm chủ yếu: • Nhóm thứ nhất là các quy định ràng buộc chung theo Hiệp định bao gồm các quy tắc chung áp dụng cho mọi loại dịch vụ và những quy tắc bổ sung cụ thể áp dụng cho riêng lĩnh vực dịch vụ tài chính. Các quy tắc chung sẽ áp dụng một cách tự động không phụ thuộc vào cam kết. Các quy tắc này được coi như những nguyên tắc của GATS bao gồm: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc tiếp cận thị trường, minh bạch hoá chính sách, mở cửa thị trường. Nguyên tắc đối xử quốc gia Điều XVII của GATS quy định “đối với những lĩnh vực dịch vụ được ghi trong danh mục cam kết, khi áp dụng bất kỳ biện pháp nào tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ và
  20. - 14 - người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác, sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của chính mình”. Do đó, các thành viên phải đưa ra danh mục các lĩnh vực có thể áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với những điều kiện hay hạn chế, nếu có. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia chỉ áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ có trong danh mục cam kết. Các thành viên cũng có thể liệt kê các giới hạn hoặc những trường hợp chưa thể thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được theo từng phương thức cung cấp dịch vụ. Nguyên tắc tối huệ quốc Nguyên tắc này đòi hỏi một nước thành viên phải ngay lập tức và vô điều kiện dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác. Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách liên quan đến dịch vụ tài chính Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu tất cả các quy định, văn bản pháp lí liên quan, các điều ước quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ tài chính phải được công bố, ấn hành công khai; các biện pháp được nước thành viên sử dụng có liên quan đến dịch vụ tài chính phải được thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ của WTO và thông báo ngay khi ban hành những văn bản mới. Nguyên tắc tiếp cận thị trƣờng Nguyên tắc tiếp cận thị trường đòi hỏi các nước thành viên cam kết dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ theo những điều kiện, điều khoản và hạn chế đã được thoả thuận và quy định tại Danh mục cam kết cụ thể, tức là các nước thành viên tuỳ theo khả năng của mình, thông qua
922461

Tài liệu liên quan


Xem thêm