Góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Kiến nghị của người đồng tính, song tính và chuyển giới (”LGBT”)

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 0 | Lần xem: 0 | Page: 125 | FileSize: M | File type: PDF
of x

Góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Kiến nghị của người đồng tính, song tính và chuyển giới (”LGBT”). Nội dung tài liệu bao gồm những kiến nghị mang tính chất quan điểm về tinh thần chung của Hiến pháp, kiến nghị cụ thể về nội dung của Dự thảo, tại các điều 27 và điều 39, phụ lục 1048 ý kiến của cộng đồng (Trang 8) và danh sách 2510 chữ ký ủng hộ việc đảm bảo quyền của người LGBT (Trang 72) trong Dự thảo Hiến pháp với tư cách là con người và công dân của Việt Nam.. Giống những tài liệu khác được thành viên giới thiệu hoặc do tìm kiếm lại và giới thiệu lại cho các bạn với mục đích nghiên cứu , chúng tôi không thu phí từ bạn đọc ,nếu phát hiện nội dung phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho chúng tôi,Ngoài giáo án bài giảng này, bạn có thể tải đồ án thạc sĩ tiến sĩ phục vụ nghiên cứu Có tài liệu tải về sai font không hiển thị đúng, nguyên nhân máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn tải các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://tailieumienphi.vn/doc/gop-y-du-thao-sua-doi-hien-phap-kien-nghi-cua-nguoi-dong-tinha-song-tinh-va-chuy-7mdbuq.html

Nội dung


KIẾN NGHỊ CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH,
SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI (”LGBT”)

GÓP Ý DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

KIẾN NGHỊ CỦA NHÓM
NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI (“LGBT”)
Thực hiện Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc lấy ý kiến nhân
dân đóng góp cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi, Trung tâm ICS, đại diện tổ chức
xã hội bảo vệ quyền của nhóm người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là “LGBT”) tại
Việt Nam, đưa ra các một số kiến nghị để góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (viết tắt là “Dự thảo”), cũng như bảo đảm tính bao quát của Hiến
pháp để đảm bảo quyền của người LGBT với tư cách là những con người và công dân của Việt
Nam.
Kiến nghị này gồm 3 phần:
-

Phần 1: Kiến nghị mang tính chất quan điểm về tinh thần chung của Hiến pháp.

-

Phần 2: Kiến nghị cụ thể về nội dung của Dự thảo, tại các điều 27 và điều 39.

-

Phần 3: Phụ lục 1048 ý kiến của cộng đồng (Trang 8) và danh sách 2510 chữ ký ủng hộ
việc đảm bảo quyền của người LGBT (Trang 72) trong Dự thảo Hiến pháp với tư cách
là con người và công dân của Việt Nam.

Thông tin liên lạc: Trung tâm ICS; Địa chỉ: 21A2, Tòa nhà Copac Square, số 12 Tôn Đản,
phường 13, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh; Điện thoại: +84 8 3940 5140; Website:
www.ics.org.vn
Kiến nghị mang tính chất quan điểm về tinh thần chung của Hiến pháp.
Đầu tiên cho đến sau cùng, người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng là con người. Và
với tư cách là một con người, người LGBT cũng được hưởng tất cả những quyền mà mọi
người đều có.
Tuy vậy, cũng như những nhóm thiểu số khác, quyền của người LGBT thường có nhiều khả
năng không được nghĩ tới trong quá trình làm luật. Điều này dẫn tới những quy định thiếu bao
quát, không bảo đảm thực thi được quyền của người LGBT trong các quy định pháp luật.
Tổ chức Sức khỏe Thế giới (“WHO”) và các danh mục chẩn bệnh uy tín trên thế giới (ICD-10,
DSM-V) đều không còn xem đồng tính, song tính, chuyển giới là bệnh, rối loạn hay lệch lạc tâm
lý. Năm 2011, Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết yêu cầu Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp
Quốc báo cáo tình hình quyền LGBT trên khắp thế giới. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Ban Kimoon vào tháng 3/2012 đã kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới chấm dứt kỳ thị với những
người đồng tính, song tính và chuyển giới.
Vì vậy, với tư cách là một phần bình thường, tự nhiên và không thể tách rời của xã hội, những
quyền của người LGBT Việt Nam cũng phải được thể hiện hoặc bao quát vào trong bản dự
thảo Hiến pháp Việt Nam, vì một bản Hiến pháp mà tất cả mọi công dân đều cảm thấy bóng
hình và quyền của mình ở trong đó.
Người LGBT không cần, và cũng không có những quyền đặc biệt, đó chỉ là những quyền mà tất
cả mọi người đều có.

1

TÓM TẮT CÁC KHUYẾN NGHỊ QUAN TRỌNG
Điều

Quy định trong Dự thảo

Khuyến nghị của nhóm

Điều 27
(sửa đổi,
bổ sung
Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.
2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên
mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình
tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện,
phát huy vai trò của mình trong xã hội.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử
về giới.

1. Công dân không phân biệt giới, giới
tính đều bình đẳng và có quyền ngang
nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình.
2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
bình đẳng giữa công dân không phân biệt
giới, giới tính trên mọi lĩnh vực. Nhà
nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để
phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò
của mình trong xã hội.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối
xử về giới, giới tính, xu hướng tính dục
và bản dạng giới.

Điều 39
(sửa đổi,
bổ sung
Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ,
một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng,
tôn trọng lẫn nhau.

1. Công dân có quyền kết hôn và ly hôn.
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến
bộ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa hai
người."

Chưa có

Ngoài ra cần quy định thêm các quyền tự do với cơ thể của mình để giúp người chuyển
giới, người liên giới tính không bị phân biệt đối xử vì thể hiện giới.
“Mọi người có quyền tự do với cơ thể của mình, được lựa chọn thay đổi giới tính,
tên gọi và nhân thân phù hợp với tình trạng cơ thể.”

2

PHÂN TÍCH CÁC KHUYẾN NGHỊ
Quy định về quyền bình đẳng giới
Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)
1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa, xã hội và gia đình.
2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực.
Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.
Phân tích tác động

Khuyến nghị

Câu chuyện

Việc quy định "nam, nữ" vô
tình đã bỏ sót những người
liên giới tính (sinh ra với cơ
thể không xác định rõ giới
tính) và cũng có thể hạn chế
quyền của những người
chuyển giới (đặc biệt là nam
sang nữ) vì họ đã sống như
một người nữ nhưng lại bị
phân biệt đối xử rất nặng
nề.

Điều 27.1 và 27.2: Sửa "[c]ông dân nam, nữ"
thành "[c]ông dân không phân biệt giới, giới
tính."

Cô giáo Quỳnh Trâm bị
xét thu hồi giấy tờ mới,
trả về giấy tờ nam giới
dù cơ thể đã là nữ giới.

"Công dân không phân biệt giới, giới tính
đều bình đẳng và có quyền ngang nhau...
Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
bình đẳng giữa công dân không phân biệt
giới, giới tính trên mọi lĩnh vực..."
Điều 27.3: Thêm "giới tính, xu hướng tính dục
và bản dạng giới"
"Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử
về giới, giới tính, xu hướng tính dục và bản
dạng giới."

Rất nhiều người
chuyển giới cũng bị gạt
khỏi cuộc sống, bị kỳ
thị, phân biệt đối xử vì
không được thừa nhận
giới tính.
Đồng tính nữ bị gia
đình cho cưỡng ép
quan hệ với đàn ông.

Bình luận của ICS: Đối với người chuyển giới, dù đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa, thì
thực tế là vai trò giới của họ trong xã hội đã được nhìn nhận khác đi. Nếu pháp luật muốn đề cao
bình đẳng giới, thì không chỉ tập trung vào hai khái niệm "nam, nữ" vốn dựa trên giới tính sinh học;
mà phải mở rộng ra cả vai trò giới, thể hiện giới, bản dạng giới để mọi công dân đều được bảo vệ
khỏi phân biệt đối xử về giới. Với quy định hiện tại thì dễ hiểu rằng chỉ những công dân "nam, nữ"
xét theo giới tính sinh học mới được bảo vệ. Nếu một người phụ nữ bị bạo hành vì họ là phụ nữ, đó
đương nhiên là hành vi bất bình đẳng giới. Nhưng nếu một người phụ nữ chuyển giới bị bạo hành vì
họ là người chuyển giới, đó cũng phải bị xem là hành vi bất bình đẳng giới.
Công ước Xoá bỏ Tất cả Các hình thức Phân biệt Đối xử với Phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam có
tham gia, trong Khuyến nghị Chung Số 28 vào năm 2010 cũng đã giải thích "phân biệt đối xử với
phụ nữ dựa trên giới và giới tính được gắn một cách không tách rời với các yếu tố khác ảnh hưởng
tới phụ nữ như sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, niềm tin, sức khoẻ, tầng lớp, địa vị, xu hướng tính dục và
bản dạng giới." Với khuyến nghị này, CEDAW đã mở rộng phạm vi "phụ nữ" ra cả những người
đòng tính nữ, song tính nữ, chuyển giới nam sang nữ và cả chuyển giới từ nữ sang nam. Thực tế
thì chính những nhóm này rất dễ bị phân biệt đối xử về giới bởi xu hướng tính dục và bản dạng giới
của họ, nên cần thiết luật phải được quy định hoặc giải thích rộng hơn về khái niệm “giới” để bảo vệ
quyền cho họ.

3

Quy định về quyền kết hôn, ly hôn
Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)
1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một
chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.
Phân tích tác động

Khuyến nghị

Câu chuyện

Việc dùng các từ ngữ phân
biệt về giới tính như “nam,
nữ” hay " vợ, chồng" sẽ là
cánh cửa đóng cho hôn nhân
cùng giới, không đảm bảo
được quyền mưu cầu hạnh
phúc chính đáng của người
đồng tính. Muốn vậy thì phải
trung tính hoá các từ ngữ
phân biệt giới tính này.

Điều 39.1: Bỏ "một vợ, một chồng, vợ
chồng bình đẳng" và thêm vào "giữa
hai người" để đảm bảo giữ nguyên tắc
đơn hôn.

Nhiều cặp đồng tính sống
chung với nhau nhưng pháp
luật chỉ xem họ như những
người xa lạ, không được thừa
kế (theo pháp luật), không thể
đại diện cho nhau (tài sản
hoặc nhân thân, đau ốm)…

"Công dân có quyền kết hôn và ly
hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự
nguyện, tiến bộ, bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau giữa hai người."

Việc tổ chức lễ cưới của các
cặp cùng giới đôi khi cũng bị
xem là vi phạm pháp luật.

Bình luận của ICS: Luật Hôn nhân và Gia đình đang được sửa đổi. Một trong những vấn đề được
thảo luận và cân nhắc là có nên thừa nhận hợp pháp mối quan hệ chung sống giữa hai người cùng
giới. Đứng từ góc độ quyền con người thì rõ ràng người đồng tính có quyền mưu cầu hạnh phúc, từ
đó mà họ cũng có quyền tạo lập mối quan hệ với nhau. Cụ thể hoá của việc tạo lập mối quan hệ đó
chính là kết hôn, hoặc các chế định tương tự.
Trên thế giới ngày càng nhiều quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới (11 quốc gia và 44 vùng
lãnh thổ). Các nghiên cứu khoa học cũng đã tìm hiểu tác động của hôn nhân cùng giới lên xã hội,
văn hóa, gia đình và cho thấy hôn nhân cùng giới không phá hoại các giá trị xã hội, văn hóa, gia
đình như nhiều người lo sợ.
Đứng trước xu thế tiến bộ của pháp luật thế giới, và để Hiến pháp đáp ứng được nhu cầu của xã
hội trong tương lai, Dự thảo nên trung tính hoá các từ ngữ phân biệt về giới tính. Ở pháp luật nhiều
quốc gia (cả các quốc gia chưa và đã hợp pháp hoá hôn nhân cùng giới) thường dùng từ "phối
ngẫu" hay "bên" (spouse/party) để tránh phân biệt giới tính như "vợ/chồng" (husband/wife). Nguyên
tắc “một vợ, một chồng” có thể được thay là “đơn hôn” hoặc “giữa hai người.”

4

1102145

Tài liệu liên quan


Xem thêm