Ebook Kiến trúc Đình - Chùa Nam bộ: Phần 2

Đăng ngày | Thể loại: | Lần tải: 3 | Lần xem: 12 | Page: 123 | FileSize: 9.13 M | File type: PDF
of x

Ebook Kiến trúc Đình - Chùa Nam bộ: Phần 2. Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 cuốn sách giới thiệu tới người đọc các đặc điểm văn hóa - Lịch sử và phản ánh văn hóa truyền thống qua kiến trúc Đình, Chùa Nam bộ; vấn đề định hướng bảo tồn và phát huy đặc điểm văn hóa - Lịch sử của kiến trúc Đình, Chùa Nam bộ trong phát triển. Mời các bạn cùng tham khảo.. Giống những giáo án bài giảng khác được bạn đọc giới thiệu hoặc do tìm kiếm lại và giới thiệu lại cho các bạn với mục đích nâng cao trí thức , chúng tôi không thu phí từ bạn đọc ,nếu phát hiện tài liệu phi phạm bản quyền hoặc vi phạm pháp luật xin thông báo cho chúng tôi,Ngoài giáo án bài giảng này, bạn có thể tải đề thi, giáo trình phục vụ tham khảo Có tài liệu tải về thiếu font chữ không hiển thị đúng, nguyên nhân máy tính bạn không hỗ trợ font củ, bạn download các font .vntime củ về cài sẽ xem được.

https://tailieumienphi.vn/doc/ebook-kien-truc-dinh-chua-nam-bo-phan-2-0crauq.html

Nội dung


Chương 3

ĐẶC ĐIỂM VÀN HÓA - LỊCH s ử VÀ PHẢN ÁNH VÃN HÓA
TRUYỀN THỐNG QUA KIÊN TRÚC ĐÌNH, CHÙA NAM BỘ

3.1. ĐẶC ĐIỂM VÀN HÓA - LỊCH s ử BlỂU HIỆN QUA HÌNH THỨC KIẾN
TRÚC ĐÌNH, CHÙA NAM BỘ
3.1.1. Đạc điểm văn hóa biểu hiện qua quy hoạch dinh, chùa Nam Bộ
3.1.1.1. Đặc điểm văn hóa biểu hiện qua vị trí đình, chùa trong tổng th ể làng x ã
N am Bộ
Đối với kiến trúc đình, chùa cổ, xuất phát từ cội nguồn văn hóa Việt Nam - Văn hóa
nhận thức, vị trí đình chùa được chọn lựa dựa trên nhận thức về “âm dương, ngũ hành”
(Đã trình bày trong 2.1.1.3, chương 2), tuy bị xem là nhận thức cổ xưa và mang màu sắc
huyền bí, nhưng chính nó đã qui định được một số mối tương quan cẩn có trong tổng thể
làng xã. Sự hài hòa giữa kiến trúc và môi trường địa lý xung quanh trong mối tương
quan “âm dương ngũ hành”, vô hình chung là một sự sắp xếp tương đối hợp lý và hài
hòa giữa kiến trúc công trình với tổng thể môi trường xung quanh công trình kiến trúc
ấy. Như vậy, trong giới hạn tất yếu của lịch sử, bằng lối tư duy tổng hợp - chủ quan tương đối của “văn hóa trọng tình” truyền thống Việt Nam (Đã trình bày trong 2.1.1.3,
chương 2), với quan niệm “thiên địa vạn vật đổng nhất thể” (^ iẾ íS i^ p T 1—Hễ), người
xưa đã có một tẩm nhìn bao quát trong mối tương quan giữa kiến trúc, con người và bao
cảnh, tạo sự phù hợp tương đối đối với nhu cầu sử đụng của con người, tạo sự hài hòa
cần có trong kiến trúc xây dựng, nhất là các công trình quan trọng của thôn làng trước
đây như đình, chùa. Đây Ịà đặc tính chung của đình, chùa Việt Nam. Theo truyền ihống
trên, qua thực tế tồn tại của kiến trúc dinh, chùa tại Nam Bộ, cho thấy:
-

Đình vóri chức năng thuần tín ngưỡng hay kết hợp pháp quyền và thần quyền, đều

ảnh hường trực tiếp đến cư dân, do đó, vị trí ngôi đình Nam Bộ thường được chọn lựa tại
các vị trí thuận tiện nhất cho việc đi lại của dân chúng trong làng (Xem hình 3.1). Trước
đây (từ 1945 trờ về trước), nhất là giai đoạn Pháp thuộc, tại Nam Bộ, có thể xem đình
làng là trung tâm hành chính và văn hóa của một “tổ chức ờ”, đó là làng xã. Nhưng do
điều kiện lự nhiên, kinh tế và xã hội... kiến trúc đình, chùa Nam Bộ có khác so với vùng
đất Tổ. Lưu dãn Việt đã dựng nên các ngôi dinh kém bề thế hơn, trong phạm vi đất
81

tương đối hẹp và thường gắn với “bến đò” hay “bến đình” để dân chúng đễ tiếp cận bằng
phương tiện giao thông thủy khá phổ biến như ghe tam bàn, đò dọc, đò ngang v.v... Đình
Bình Đông (TP.HCM) là một minh chứng rõ nhất.

Khu dán oí(Thđn, idm ).

V bỉ Đ H
Ị ỈN .
VỊ txl C H U A .

Sơ đ ồ

tương quan vị trí đình chùa tro n g khu dân CIÍ.

(C H d l n th e o i d đ ồ c d a A. T H O M A 3 . L a c o n q u íle d e r iD d o d u n e , P b iíi,1 9 3 4 , tr .3 5 )

Hình 3.1. Sơ dồ tương quan vị tri đình, chùa trong khu dán cư

Hình 3.2. Kiến trúc Đình
trong làng khu phố. [Nguồn: TGJ
82

Hinh 3.3. Bến đò đình Bình Đông.
[Nguón: 04]

Khác với đình, chùa là nơi tĩnh tu, tao nhã, do đó vị trí chùa rất ít ở trung tâm khu
dân cư. Đa số vị trí chùa trước kia (từ 1945 trờ về trưỏc) được chọn ờ ngoại vi so với nơi
tụ cư (Xem hình 3.4). Phối hợp cùng “non thanh, thủy tú” và thuật phong thủy (Xem phụ
lục 4), lưu dàn Việt đã tạo nên các “danh lam thắng cảnh” (45 ỂỄÍSIiS;) từng vùng. Tuy
nhiên, chùa còn mang tính cộng đồng, có nhũng mối liên hệ cộng đồng, nén cũng không
quá xa nơi cộng đổng cư trú. Trong sách “Tam tổ thực lục”, phẩn “Thiển đạo yếu học”,
sư Pháp Loa đã viết: "Khi đ ã liễu ngộ chính tông rồi thì chọn cảnh chùa mà trụ trì,... Lại
cũng nên biết cảnh không gần nhân gian mù cũng không xa nhăn gian, vì gần thì ỒI1 ảo,
mà xa thì không ai giúp đỡ cho... ấy là cứu cánh” [51]. Nhưng do Nam Bộ rất ít địa hình
“non thanh thủy tú” với cảnh trí hữu tình ở “làn cận nhân gian”, vì vậy kiến trúc đinh,
chùa Nam Bộ thường được xây dựng tại các “gò nồng”, nơi tương đối cao lân cận khu
vực dân cư (Xem hình 3.2). Kiến trúc chùa Giác Lâm trên gò cẩm Sơn, chùa Phụng Sơn
trên gò Cao-Miên... tại TP.HCM (xưa kia) là những ví dụ.

Hình 3.4 Kiến trúc Chùa
trong "rừng” cây xanh. [Nguồn: không rõ]

Hình 3.6. Thiên tình chùa Giác Lâm
fNguồn: TG]

Hình 3.5. Cây xanh “khiêm tấn”
tại mộ tháp HT Thích Trí Thù. [Nguồn: 67]

Hình 3.7. Cây xanh chùa hiện đụi.
[Nguồn: Võ Văn Tường]
83

Đặc tính này càng về sau (nhất là từ 1945 cho tới nay), đã đần bị đảo ngược. Xuất
phát từ đặc điểm vùng văn hoá Nam Bộ, càng về sau tính chất động, dương tính, duy lý
trong tư duy người dân nơi dây càng rõ nét, đặc biệt tính cộng đổng và tính tự trị vốn có
của vùng nông thôn Việt Nam trước đây ngày càng lỏng lẻo hơn. Trên danh nghĩa, đình
và chùa là những kiến trúc cộng đồng, mọi người trong cộng đồng dàn cư đều có quyền
“bình đẳng” lui tới chiêm bái hay vãng cảnh, nhưng thực tế chúng không là tài sản
chung của cộng đổng dân cư thôn làng mà chịu sự chi phối hoàn toàn bởi cá nhân hay
nhóm nhỏ những “đại thí chủ” đã hiến cúng để trùng tu haỵ kiến tạo (theo quan niệm
“mạnh vì gạo, bạo vì tiền”). Do vậy, càng về sau (từ 1945 đến nay) vị trí đình chùa
thường dược chọn rất chủ quan theo ý muốn cá nhân hơn là lợi ích cộng đổng cư dân. Hệ
quả là, dinh Thần không được xây mới (Xem chương I), vị trí đình Thần vẫn tồn tại tại vị
trí cũ với chức năng thuần tín ngưỡng mang dấu ấn văn hóa một thời. Điều đó đổng
nghĩa với việc “lùi xa” so với trung iâm điểm dân cư mới trong quá trình phát triển đô
thị. Hạn hữu, trong điểu kiện khá tế nhị (kinh tế eo hẹp, quy hoạch mới...), sự hoán đổi
vị trí ngôi đình xa khu trung tâm hơn cũng là một thực tế (Ví dụ: Đình Vĩnh Bình - Tiền
Giang, đình Long Thạnh - Thủ Đức...). Trái lại, vị trí chùa Phât ngày càng xây mới
nhiều hơn (nhất là giai đoạn 1954-1975) và di cùng quá trình phát triển đô thị. Điều đó
đồng nghĩa với việc “tiến gần” đến trung tâm điểm dân cư mới, nhất là tại các đô thị lớn.
Chùa giờ đây không chỉ giữ chức năng tu học thuẩn túy mà đôi chỗ còn kết hợp thêm cả
chức năng kinh tế, văn hóa, xã hội khác v.v..., nhất là trờ thành trung tâm tổ chức, lãnh
dạo Phật giáo theo nhu cẩu đương đại.
3.1.1.2.
Đặc điểm văn hóa biểu hiện qua quy hoạch tổng m ặ t bằng kiến trúc đình
và chùa N am Bộ
Cũng xuất phát từ cội nguồn văn hoá Việt Nam - văn hoá ứng xử với môi trường tự
nhiên, chính khí hậu nhiệt đới và môi trưòng sông nước đã chi phối văn hoá vật chất của
người Việt Nam, trong đó có kiến trúc. Trong tổng mặt bằng kiến trúc đình, chùa, từ
nhiểu đời nay, luôn gắn liển mật thiết vói hai yếu tô' mặt nước và cây xanh tạo thành
những “danh lam thắng cảnh” hay “bến nước sân đình” (Xem hình 3.3). Đặc điểm mang
tính lịch sử này vẫn còn tồn tại cho đến giữa thế kỷ XX.
Riêng tại Nam Bộ, từ giữa thế kỷ XX trờ về trước, tổng mặt bằng kiến trúc đình, chùa
thưcmg là sự mở rộng của ngôi nhà vườn dân gian Nam Bộ (Xem hình 3.8), sau đó bố trí
thêm một số kiến trúc phụ khác theo nhu cầu sinh hoạt đặc thù của từng loại hình đình
hay chùa (Xem hình 3.9), cụ thể như sau:
Đối với chùa, khối công trình chính thường theo hướng Nam (hướng gió tốt mà
người bình dân đương thời hay sử dụng) hoặc hướng ra mặt sông tiếp cận, vườn cây ãn
trái được bố trí ờ hướng Tây hoặc hướng Bắc so với khối công trình chính (hướng có
nắng nóng và gió lạnh), sân cảnh ở hướng Đông thường k ít hợp với ao sen và lối vào.
Cách bố trí này hoàn toàn theo quan niệm xây nhà truyền thống dân gian Nam Bộ. c ổ n g
84

vào thường bố trí một bcn so với khối chính, lệch về phía Đông hoặc đôi khi quay hẳn về
hướng Đông (Hướng “sinh” theo quan niệm dân gian). Ngoài ra, các cỏng trình phụ
khác... được bố trí lân cận khối công trình chính, linh hoạt theo hình dạng khu đất. Chùa
còn có “tháp lâm i n t t ” (“vuờn” mộ tháp), thường được bô' trí tại vị trí Đông Bắc so với
khối nhà chính (cuối hướng gió), đây cũng là một chọn lụa khá tinh tế trong tổng thể
kiến trúc chùa. Qua bố cục tổng mặt bằng cơ bản trên đây cho thấy người dân Nam Bộ
rất khéo léo trong việc chọn vị trí bố trí các bộ phận kiến trúc chùa nhằm phù hợp với
đặc điểm truyền thống và điều kiện dịa lý địa phương.

ị 2.5

2.5

2.5 ị 1.2 Ị 2.2 I 2.2 Ị

Hình 3.8. Nhà ba gian, chữ“Đinh".
INguồn: không rõ]

Hình 3.9. Mặt báng đình Trường Thọ 5 gian. ¡Nguồn: Nguyễn Hữu Thế]

Đối với đình, tổng mặt bằng cơ bản gần giống chùa, tuy nhiên vườn đình và sân
cảnh thường hẹp và ít phong phú hơn sân vườn chùa.
Càng về sau (giữa thế kỷ XX đến nay) khi mà kiến trúc đình, chùa bắt đầu bị “bao
vây” giữa lòng đô thị hoặc chủ động “tiến vào” đỏ thị nơi đất hẹp người đổng. Trong
hoàn cảnh đất đai “eo hẹp” ấy, tổng mặt bằng kiến trúc đình, chùa nêu trên đã bị phá vỡ.
Tuy nhiên, sự kế thừa lịch sử đòi hỏi phải có một giải pháp chiết trung, tránh sự thiếu
vắng “thắng cảnh” trong “danh lam” hoặc thiếu cả “bến nước” lẫn “sân đình” trong kiến
trúc đình, chùa đương đại. Đây là yếu tố tất yếu cùa một kiến trúc đình, chùa trong vùng
đô thị nhiệt đới Nam Bộ.
Thực tế một số đình, chùa tại TP.HỒ Chí Minh, trong không gian khá hẹp cùa khu đất
xây dựng, các kiến trúc sư đã khéo léo bố trí một không gian cây xanh “khiêm tốn” tạo
85

1073266

Tài liệu liên quan


Xem thêm