Xem mẫu

ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ Ở
SÀI GÒN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ 1860 ĐẾN 2008

NGUYỄN ĐỨC HÒA(*)

TÓM TẮT

Đô thị hóa là nhân tố quan trọng của mọi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, thương
mại. Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh có những nét đặc trưng riêng gồm
nhiều yếu tố phức hợp về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.
Trong lịch sử, do vị trí địa kinh tế cực kì thuận lợi về giao thương, nên quá trình đô thị hóa ở Sài
Gòn diễn ra tương đối sớm và rất nhanh chóng. Ở Sài Gòn còn diễn ra quá trình đô thị hóa
cưỡng bức dưới tác động chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân
mới suốt hàng thế kỷ (1860-1975). Quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975,
đặc biệt từ thời điểm mở cửa gắn liền với sự tăng trưởng kinh tế mau chóng, đồng thời cũng kéo
theo những biến đổi lớn lao và phức tạp về văn hóa cư dân đô thị với cả hai mặt tích cực và tiêu
cực của nó.

ABSTRACT

Urbanization is an important factor of every nation in its economic, commercial development.
There are many features consisting of economic, political, social, and cultural factors in the
process of urbanization in Saigon-Ho Chi Minh City.
Through the history, thanks to the favourable geography position and good commercial
conditions, the urbanization of Sai Gon appeared and developed rapidly. In Sai Gon, there was
also a compulsory urbanization caused by wars conducted by French colonism and American
neo-colonism during two centuries (1860-1975). After 1975, the process of urbanization in Ho
Chi Minh City was really remarked since Viet Nam carried out open-door policy and renewal in
1986. The quick urbanization creates economic development, but it also recuperates complicated
both positive and negative changes in social and economic development of Ho Chi Minh City.
The article suggests some solutions to make this city modern, civilized, and developed in the
future.


1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đô thị hóa là quá trình tất yếu của các quốc gia gắn với quá trình phát triển kinh tế công thương
nghiệp. Nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa, quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh
có những nét đặc trưng gồm nhiều yếu tố phức hợp về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Trong
lịch sử, do vị trí địa kinh tế cực kì thuận lợi về giao thương, nên quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn
diễn ra tương đối sớm và rất nhanh chóng. Tuy nhiên, không chỉ có nguyên nhân kinh tế chi
phối, ở Sài Gòn còn diễn ra quá trình đô thị hóa cưỡng bức dưới tác động chiến tranh xâm lược
của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân suốt hàng thế kỉ. Quá trình đô thị hóa ở thành
phố Hồ Chí Minh sau giải phóng, đặc biệt từ thời điểm mở cửa gắn liền với sự tăng trưởng kinh
tế mau chóng, nhưng đồng thời cũng kéo theo những biến đổi lớn lao và phức tạp về văn hóa cư
dân đô thị với cả hai mặt tích cực và tiêu cực của nó.




(*)
TS, Khoa Sư phạm Khoa học Xã hội, Trường Đại học Sài Gòn
Bài viết đề cập đến vấn đề quá trình đô thị hoá Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn lịch
sử-văn hoá trong khoảng thời gian trên.

2. NỘI DUNG

2.1. Quá trình đô thị hoá và những ảnh hưởng của nó ở Sài Gòn thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1860
đến năm 1954)

Ngay từ 1859-1860, Pháp đã phát triển Sài Gòn, nhằm mục đích khai thác tài nguyên, vật lực, để
lấy chiến tranh nuôi dưỡng chiến tranh, đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh và toàn cõi Đông Dương.
Cuối năm 1859, lính thủy trên chiến hạm Catinat đã cùng công binh thuộc địa Pháp khai phá và
làm con đường từ bến sông Sài gòn đến Nhà thờ Đức Bà dành riêng cho người Pháp đi lại.
Khoảng 3000 giáo dân ở Đà Nẵng và phụ cận thành Gia Định đã đến đây lập phố xá, cửa hiệu
phục vụ cho sinh hoạt, ăn ở của lính thủy và viên chức người Pháp (5). Ngày 22 tháng 2 năm
1860, thực dân Pháp cho mở hải cảng Sài Gòn đón thương thuyền của Pháp và các nước Châu
Âu và để xuất cảng lúa gạo, nông sản Nam Kì (2). Pháp bắt đầu cho xây dựng khu hành chính
trung tâm, cùng hàng loạt các công trình giao thông, dinh thự, nhà thờ cùng các cơ sở hạ tầng,
làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của đô thị Sài Gòn.

Sơ đồ quy hoạch đô thị Sài Gòn được Coffyn trung tá công binh Pháp vẽ trên cơ sở của Nghị
định do Charner phác họa ngày 11-2-1861. Phác đồ này gồm nhiều khu hành chính, thương mại,
nhà ở công chức Pháp, trại lính v.v. dành cho số dân là 500.000 người. Đề án của Coffyn được
đánh giá là hết sức viển vông và bị người Pháp bác bỏ vì họ cho rằng không bao giờ Sài Gòn có
đủ số dân đó (cả Nam Bộ lúc đó chỉ có gần 1 triệu dân). Coffyn đã đúng, nhưng có lẽ ông cũng
chưa hình dung hết quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn lại diễn ra quá nhanh chóng. Đến năm 1865
khi Sài Gòn và Chợ Lớn đã tiến sát vào nhau thì các làng quê nằm giữa hai thành phố này như
Phú Thạnh, Tân Hòa, Phước Hưng, Tân Kiểng, An Đông v.v. đã bị đô thị hóa hết. Dân số gia
tăng nhanh chóng năm 1880 tăng lên 10 vạn dân, 1929 tăng lên tới 30 vạn người.

Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn. Đầu thế
kỷ XX, Chợ Lớn sáp nhập vào thành phố Sài Gòn và trở thành đô thị lớn nhất xứ Đông Dương
thuộc Pháp. Điểm khởi đầu quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn là việc xây dựng phố Catinat và một
hệ thống nhà thờ Công giáo ở khu vực người Việt và người Hoa (10). Năm 1898 Pháp bắt đầu
xây dựng Dinh xã Tây, trị sở của chính quyền thực dân ở Sài Gòn, sau này được gọi là tòa nhà
Đô chính Sài Gòn (11). Đến năm 1905, phố xá và khu vực đô thị, các công thự, các trục đường
chính của đô thị Sài Gòn đã có phần bề thế hơn các thành phố khác ở Đông Nam Á như
Singapore, Băng Cốc v.v. Khu vực đô thị phát triển nhanh tập trung ở các khu vực nay thuộc
Quận 1 và một phần đất ở Quận 3 (8). Năm 1899 công ty Cahuzac ( thuộc tỉnh Bordeaux, Pháp)
cho lắp đặt nhà máy xay chạy bằng máy hơi nước đầu tiên ở Nam Kì tại Khánh Hội. Cũng vào
năm này, một công ty Pháp khác là Renard khánh thành nhà máy xay Chợ Lớn theo kỹ thuật
châu Âu. Năm 1863, thực dân Pháp thành lập xưởng đóng tàu Bason có khả năng sửa chữa tàu
viễn dương đi lại trên vùng biển Thái Bình Dương, đóng các tàu ven biển và tàu sông cùng xà
lan. Năm 1872, công ty tư nhân Larrieu và Roque tổ chức việc đường vận tải thủy từ Sài Gòn đi
Bà Rịa, Biên Hòa. Các công trình giao thông nối Sài Gòn với Lục tỉnh nhanh chóng được mở
mang. Năm 1883, đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho bắt đầu hoạt động. Năm 1882, đường tàu điện
Sài Gòn-Chợ Lớn được khánh thành (9). Từ năm 1925 cho đến năm 1935 là khoảng thời gian
Sài Gòn phát triển nhanh chóng, năm 1931 Sài Gòn có diện tích khoảng 51km 2 (diện tích này
cho đến 1968 vẫn không thay đổi bao nhiêu). Quá trình phát triển đô thị Sài Gòn đáp ứng nhu
cầu cuộc sống của công chức Pháp ở một xứ thuộc địa. Họ cảm thấy sống thoải mái trong một
không gian đô thị Sài Gòn, được tổ chức gần giống như ở các tỉnh lị miền Nam nước Pháp. Đó là
những thành phố với những đại lộ rợp bóng cây và những ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu
tân cổ điển, những khu cư xá thoáng mát, làm cho cuộc sống có vẻ thanh thản, dễ chịu.

2.2. Đô thị hoá ở Sài Gòn-Gia Định và những ảnh hưởng của nó trong thời gian Mỹ tiến hành
chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1975)

Sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, Sài Gòn trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, Sài Gòn
vào năm 1954 đã là một đô thị lớn với số dân 1,5 triệu người, nhưng diện tích hầu như không có
biến đổi gì. Quân Mỹ tràn vào Sài Gòn càng đông thì các cao ốc cho thuê mọc lên càng nhiều.
Chỉ riêng đường Trần Hưng Đạo đã có khoảng mười cao ốc từ 5 đến 10 tầng mọc lên bên cạnh
những nhà trệt hay hai ba tầng đã được xây dựng từ trước (17). Bất chấp mĩ quan đô thị, các cư
xá quanh các căn cứ quân sự thường được che chắn bằng hàng rào kẽm gai, tấm lưới chống đạn
B.40 và thùng phuy chứa đầy cát và xi măng để làm ụ chiến đấu khi cần.

Từ năm 1965 các đô thị miền Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, cơ sở hạ tầng mở rộng để
phục vụ cho đội quân viễn chinh Mỹ (6). Công việc chỉnh trang đô thị được đẩy mạnh, sân bay
được mở rộng và xây dựng mới, khách sạn cao tầng, các building, đại lộ mở rộng cùng với đủ
loại dịch vụ phục vụ cho đội quân xâm lược đông đảo. Khu công nghiệp duy nhất ở miền Nam
được xây dựng ở Biên Hòa và một số xí nghiệp ở Sài Gòn-Chợ Lớn.

Quá trình đô thị hoá dưới thời Mỹ thuộc đã gây nên nhiều hậu quả về văn hoá xã hội. Ngày càng
có nhiều người giàu lên nhanh chóng, nhờ vào các hoạt động dịch vụ cho bộ máy chiến tranh
xâm lược. Số những người tị nạn chạy trốn khỏi các vùng bị pháo binh và máy bay Mỹ bắn phá
và phun rải chất độc hóa học dạt vào Sài Gòn ngày càng gia tăng. Tỉ lệ dân số đô thị miền Nam
năm 1960 từ 10% so với tổng số dân tăng lên 30% năm 1965 (7). Những người dân nghèo thành
thị phải sống chen chúc nhau trong những căn hộ chật hẹp, với hệ thống xử lí chất thải đô thị và
nhà ở của người lao động rất lạc hậu như chung cư Ấn Quang gồm 850 căn hộ trên khu vực đất
rộng 2,39ha hay chung cư Bàn Cờ với 1.260 hộ/3,62ha (18). Như vậy, đô thị thời này phát triển
theo qui luật của một xã hội tiêu thụ hiện đại vừa mang tính lệ thuộc về kinh tế với nước ngoài,
lại vừa có sự chi phối của các hoạt động quân sự do Mỹ điều khiển.

Ngoài khối lượng lớn bom đạn dội xuống miền Nam (vượt xa Chiến tranh thế giới lần thứ hai),
Mỹ và quân đội Sài Gòn còn dùng chất độc làm trụi lá cây để đẩy nông dân vào các trại tập
trung. Một bộ phận quan trọng của nông dân bị đẩy ra khỏi ruộng đất canh tác, vốn là nguồn
sống cơ bản của một xã hội nông nghiệp. Ước tính dè dặt nhất cho rằng trong các năm 1965-
1968, có ít nhất 3 triệu nông dân bị đẩy khỏi làng quê, bị ép buộc vào sống trong các trại tập
trung, hoặc họ trở thành dân tị nạn vào sống lang thang trong các đô thị lớn, chủ yếu là Sài Gòn.
Hầu hết 3 triệu người tị nạn (chỉ tính từ 1965-1969) là nông dân mà nhà cửa ruộng vườn của họ
đã bị bom đạn và chất độc hoá học huỷ hoại sạch để cắt nguồn tiếp tế cho “Việt cộng”. Người
nông dân bị đẩy vào những trại tị nạn ở đô thị với kẽm gai rào quanh, thực chất là một trại tập
trung và là dạng nhà tù trá hình. Mỗi người tị nạn là nạn nhân của sự ngược đãi và tài sản của họ
đều bị huỷ diệt, mối liên hệ giữa họ và tổ tiên (mồ mả cha ông) bị xâm phạm. Một học giả Mỹ
nhận xét những người tỵ nạn ở Sài Gòn đều chết dần chết mòn về thể chất, suy sụp về tinh thần
trong đời sống các trại tập trung, đó là lỗi do chính người Mỹ gây ra (20).

Trong các khu tập trung dân, do chính sách đô thị hoá cưỡng bức, nên mật độ dân cư tăng nhanh.
Những “khu tị nạn” với diện tích thường từ 2-4 km2 mà phải chứa từ 1,5 vạn đến 3 vạn người.
Tình trạng ăn ở chen chúc tồi tệ và thiếu vệ sinh một cách kinh khủng như ăn đói, thiếu nước
uống và tắm rửa, thiếu thuốc men khi đau ốm, đã làm cho người dân bị cưỡng ép vào đây đi đến
chỗ chết dần, chết mòn. Trong các thành thị và các khu dồn dân, bệnh lao, bệnh phong và các
bệnh hoa liễu đã trở thành phổ biến. Ở Sài Gòn có 15.000 người mắc bệnh phong đi lang thang
trên đường phố. Như AFP đã đưa tin vào ngày 25/3/1971, 2/3 số người bị bệnh ở Huế là mắc
bệnh lao (21). Năm 1971, Jean Mayer cố vấn đặc biệt của Nixon về dinh dưỡng đã cảnh báo
rằng: chính sự thiếu ăn tại nhiều vùng ở miền Nam Việt Nam và những chứng bệnh nguy hiểm
như phù thũng, thiếu máu và lao sẽ gia tăng, nếu như chương trình huỷ diệt thực phẩm bằng chất
độc hoá học vẫn tiếp tục (22).

Năm 1960, 20% dân miền Nam sống trong các vùng đô thị. Tỉ lệ đó lên 26 phần trăm năm 1964,
36% năm 1968, năm 1971 còn tăng cao hơn nữa, một tốc độ tăng gấp năm lần so với tất cả các
nước kém phát triển trong cùng thập kỷ. Dân cư tăng rất nhanh ở ngoại thành Sài Gòn, nhưng ở
nội thành tỉ lệ tăng không lớn so với các đô thị khác như Cần Thơ, Đà Nẵng, Biên Hoà, Huế
v.v... Đến năm 1971 số dân ở Sài Gòn chiếm 43 % toàn bộ số dân đô thị Miền Nam, nhưng nếu
không tính vùng ngoại ô, thì tỉ lệ đó là 1/5. Nhìn chung, sự phát triển dân số đô thị Sài Gòn chủ
yếu là nguyên nhân chiến tranh, còn lí do kinh tế thì rất phụ. Vào năm 1971, 3/4 những người
dân đô thị ở Sài Gòn không phải sinh ra ở đây (3).

Làn sóng khổng lồ nông dân chạy về làm cho dân số Sài Gòn tăng gấp 3 lần, đến năm 1969 là
12.740 người trên một dặm vuông, là một trong những mật độ cao nhất thế giới (4, 32). Dân tị
nạn tăng vọt ở các trại tập trung và đô thị đã gây ra những đổ vỡ nền tảng đạo đức và băng hoại
đời sống xã hội miền Nam Việt Nam, dù vào đầu năm 1969 con số người tị nạn tụt xuống còn
50% so với trước đây. Ngày15/9/1971 tổng giám đốc y tế Sài Gòn thú nhận bệnh hoa liễu đang
tràn lan khắp thành thị và vùng nông thôn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát (23). Hiện tượng
thường thấy là trẻ con đánh giày, con gái bán “bar” hoặc một số làm điếm, nhiều bé gái mới 13,
14 tuổi đã sa vào mãi dâm, cũng đã mắc bệnh này. Quá trình”đô thị hoá cưỡng bức” đã phá hoại
những yếu tố văn hoá truyền thống thôn quê và đẻ ra bao tệ nạn xã hội.

Về phương diện kinh tế, đời sống các đô thị miền Nam Việt Nam hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc
kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ. Khi người dân quê chạy về đô thị, thì các yếu tố truyền
thống gắn với đời sống làng xã cũng mất theo. Nền văn hoá cổ truyền của người Việt Nam bị
huỷ diệt ngay tại các đô thị (1) và thay thế vào đó một trật tự xã hội hoàn toàn sống phụ thuộc
vào người Mỹ.

Các chương trình khai quang của Mỹ từ 1961 đến 1972, đặc biệt là chương trình phá hoại hoa
màu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng
nông thôn miền Nam Việt Nam nơi có tới 80% dân số là nông dân. Nó đã tạo nên quá trình đô
thị hóa cưỡng bức, làm xáo trộn và gây ra những tác hại toàn diện đối với môi trường và kinh tế
xã hội miền Nam Việt Nam.

2.3. Khái quát về đô thị hoá và ảnh hưởng của nó ở Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 đến
năm 2008

Sau năm 1975, dân số Sài Gòn đã lên tới 3,5 triệu người, và hiện nay đạt đến con số hơn 8 triệu
người, đặt ra nhiều vấn đề khó khăn phức tạp cho việc phát triển của thành phố. Trong những
năm 1975-1985 quá trình đô thị hóa diễn ra chậm chạp, chưa có có quy hoạch tổng thể và còn
thiếu những công trình xây cất lớn (ngoài một số đề án hợp tác còn dang dở với Liên Xô).

Chính sách kinh tế mở cửa và đổi mới của đất nước sau năm 1986 đã tạo ra sự kích thích và điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh
được coi là khu vực phát triển năng động nhất cả nước và quá trình đô thị hoá ở đây diễn ra hết
sức nhanh chóng, đó là vấn đề đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhiều nhà khoa học
trong và ngoài nước.
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và tốc độ đô thị hoá mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh
trong những năm gần đây đã đưa đến nhiều biến chuyển lớn về mặt kinh tế-xã hội, làm thay đổi
bộ mặt thành phố và nâng cao mức sống về mọi mặt của bộ phận lớn dân cư. Bên cạnh những
mặt tích cực, quá trình đô thị hoá cũng nảy sinh nhiều vấn đề nan giải, nhất là vấn đề lao động và
việc làm. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại những khu vực mới được đô thị
hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh không những quyết định sự phát triển kinh tế mà còn góp phần
không nhỏ vào việc làm lành mạnh hoá cuộc sống đô thị. Đô thị hoá đi đôi với tăng trưởng kinh
tế là một quá trình đem đến nhiều kết quả tích cực, hợp quy luật. Việc thu hút đầu tư, mở rộng và
phát triển các ngành sản xuất cùng với sự xuất hiện của hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế
xuất trên địa bàn thành phố đã đem lại nhiều công ăn việc làm, thu hút thêm nhiều lao động và
góp phần làm giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên chiều hướng thất nghiệp đang gia tăng diễn ra
tại Thành phố Hồ Chí Minh lại là một thực tế đáng báo động. Theo số liệu của Cục thống kê
thành phố cho thấy năm 1991 số lượng người chưa có việc làm là 502.319 người và đến năm
1993 là 524.997 người (19).

Bên cạnh vấn đề cấp bách là giải quyết việc làm của người dân, thì Thành phố Hồ Chí Minh còn
phải đối diện với vấn đề về ô nhiễm môi trường. Do sự tăng dân số cơ học nhanh và có nhiều
khu công nghiệp nằm trong thành phố nên tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước sông,
nước ngầm đặc biệt nghiêm trọng. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có hàng trăm kênh
rạch. Mỗi ngày, hệ thống kênh rạch và sông Sài Gòn phải hứng chịu trên 1 triệu m 3 nước thải
sinh hoạt, gần 400.000 m3 nước thải công nghiệp, 4.000-5.000 tấn rác thải sinh hoạt và 7 tấn rác
thải y tế chưa qua xử lý (14). Theo báo cáo kết quả quan trắc, chất lượng nước ngầm tại Thành
phố Hồ Chí Minh đang có chiều hướng ô nhiễm hữu cơ gia tăng, cả về số lượng lẫn mức độ ảnh
hưởng. Đặc biệt trong tháng 9 năm 2007, có đến 8/22 lỗ khoan trong thành phố không có nước,
điều này cho thấy lượng nước ngầm bị triệt để khai thác ngày càng tăng khiến cho mực nước
ngầm bị hạ thấp nghiêm trọng (15). Bầu không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang bị
ô nhiễm đến mức báo động đỏ. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến thời điểm năm 2003
có khoảng 800 nhà máy, xí nghiệp lớn và hơn 30.000 cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ nằm
xen lẫn trong các khu dân cư gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hàng năm,
các nhà máy xí nghiệp này thải vào không khí 578 tấn bụi, 78 tấn SO2, 84 tấn CO2. Ngoài ô
nhiễm do bụi, không khí tại thành phố còn chứa nhiều hơi khí độc phổ biến nhất là anhydrit
sulfurơ (SO2), khí oxyt carbon (CO2 ), carbua hydro, v.v và một số hơi kim loại độc hại như chì,
cadmi, antimoan, v.v. Số lượng xe cơ giới cao của thành phố cũng là một nguồn gây ô nhiễm
không khí (16).

Quá trình đô thị hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ diễn ra ở khu vực trung tâm thành
phố mà còn diễn ra ở những vùng ven thành phố như Hóc Môn, Bình Chánh, Cần Giờ, Nhà Bè,
v.v. Sự chuyển đổi kinh tế-xã hội đã dẫn đến nhiều biến đổi của vùng ven đô, khi có sự thay đổi
về ranh giới hành chính, những làng xã lọt vào đô thị cũng có sự thay đổi lớn về cấu trúc dân cư,
một bộ phận dân cư nông thôn thuộc làng xã được xác nhận với khu vực đô thị mới hình thành.
Lúc này, người nông dân bị cuốn theo vòng xoáy của đô thị hoá, dần dần mất đi tư liệu sản xuất,
diện tích đất canh tác tại một số quận huyện ngày càng co hẹp lại.

Đô thị hoá đã kéo theo sự biến đổi tất yếu của phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc. Khoảng cách
giữa người giàu và người nghèo ngày càng xa. Hiện tượng nông dân chuyển nghề đang diễn ra
nhưng nghề nghiệp của họ hoặc là không phù hợp, hoặc là không đáp ứng được đòi hỏi của thị
trường lao động mới mẻ. Con số không nhỏ những người nông dân sau khi bán đất cho các dự án
biến thành dân nghèo thành thị, không nghề nghiệp ổn định. Theo thống kê năm 1996 thành phố
có 577.000 người nhập cư (12). Họ phải làm đủ mọi nghề bằng lao động phổ thông để mưu sinh
kiếm sống và họ có cuộc sống rất bấp bênh. Đơn cử như quận Tân Bình, quận có số dân nhập cư
đông nhất. Theo số liệu điều tra, ở Tân Bình năm 1996 có tới 50% người nhập cư làm nghề thợ
hồ, thợ mộc, thợ may, 11.5% làm nghề tự do, 14% thất nghiệp và 525 nữ tiếp viên nhà hàng (24).

Quá trình đô thị hoá không chỉ làm biến đổi xã hội mà nó còn làm biến đổi những giá trị văn hoá
trong giới trẻ. Theo thống kê, khoảng 94.6% giới trẻ không thích đi nghe cải lương, tuồng
98.6%, chèo là 95.8%, không đi sinh hoạt ở các trung tâm văn hoá là 72.45 đến 93% (13).

3. KẾT LUẬN

Tóm lại, quá trình đô thị hoá tại Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1860 đến nay đã trải
qua rất nhiều biến đổi nhìn từ góc độ văn hóa, lịch sử. Trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập mở
cửa hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang trở thành một thành phố rất năng động, có
đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế và phát triển của đất nước. Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay là vùng đô thị lớn nhất nước ta, là trung tâm kinh tế văn hoá năng động nhất nước. Dân số
hiện nay trên 8 triệu người với mật độ gần 3.100 người / km 2 , dự báo là đến năm 2020 dân số
thành phố sẽ là 12 triệu người, đặt ra những vấn đề nan giải cho các nhà quản lý đô thị trong định
hướng phát triển và quy hoạch để biến Thành phố Hồ Chí Minh thành đô thị văn minh, sạch đẹp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nam Chinh (1970), 14 triệu dân Việt Nam trước hiểm họa cuả vũ khí hóa học và vi trùng, Tin
Sáng, (283), 19/3/1970, tr.2.
2. Nguyễn Đức Hòa (1998), Thương cảng Sài Gòn 1860-1954, Luận án Cao học Lịch sử, Đại
học Tổng hợp TP.HCM, tr.12.
3. Gabrien Kolko (1991) Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Quân đội nhân dân Hà nội, tr. 208-
209.
4. Francois Sully (1969), South Vietnam’s Urban Revolution, News Week, Jan, 20, 1969, p.32.
5. Trần Văn Giàu (1987), Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, NXB. Thành phố Hồ Chí
Minh, tr.260.
6. Trần Văn Giàu (1987), Sđd…, tr.387.
7. Trần Văn Giàu (1987), Sđd…, tr.389.
8. Ngô Huy Huỳnh (2000), Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam, NXB. Xây dựng, tr 248-251.
9. Ngô Huy Huỳnh (2000), Sđd…, tr 248-251.
10. Trần Như Thanh Tâm (2006), Lịch sử địa phương Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục,
tr.52.
11. Trần Như Thanh Tâm (2006), Sđd…, tr.47.
12. Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999), Văn hoá làng xã trước thách thức của đô thị hoá tại thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, tr.25.
13. Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), Phát triển đô thị bền vững, Nxb Khoa học xã hội, tr.396.
14.http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%A
D_Minh, Theo bách khoa điện tử, Thành phố Hồ Chí Minh.
15.http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%A
D_Minh, Theo bách khoa điện tử, Thành phố Hồ Chí Minh.
16.http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%A
D_Minh., Theo bách khoa điện tử, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. http://www.hochiminhcity, Sài Gòn dưới thời Mỹ Ngụy, Theo đại cương lịch sử Việt Nam
tập 3.
18. http://www.hochiminhcity.gov.vn, Sài Gòn dưới thời Mỹ Ngụy, Theo đại cương lịch sử Việt
Nam tập 3.
19. http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/an_pham/thanh_pho_ho_chi_minh_25_nam/B13.htm,
Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Lao động trên địa bàn thành phố.
20. Ủy Ban các học giả Hoa Kỳ nghiên cứu về các vấn đề châu Á (1971), Đông Dương máu lửa,
(Trường Sơn dịch), Độc lập, (445), 14/7/1971, tr.2.
21. Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh (1972), Tập tài liệu về việc Đế quốc Mỹ sử dụng chất độc
hoá học và tác dụng phá hoại cuả chất độc đối với môi trường Việt Nam, Mục lục Hồ sơ số 102,
Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, tr. 7 - 28.
22. Ủy Ban các học giả Hoa Kỳ nghiên cứu về các vấn đề châu Á (1971), Đông Dương máu lửa,
(Trường Sơn dịch), Độc lập, (449), 18/7/1971, tr.2.
23. Ủy Ban các học giả Hoa Kỳ nghiên cứu về các vấn đề châu Á (1971), Đông Dương máu lửa,
(Trường Sơn dịch), Độc lập, (449), 18/7/1971, tr.2.
24. http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/nam2004/thang8/12272/, Hoài Nam, Bấp bênh cuộc
sống người lao động.