Xem mẫu

Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ NỘI SINH ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI<br /> HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC<br /> Lê Thị Linh Giang1<br /> 1<br /> <br /> ThS. Phòng Khảo thí & Kiểm định Chất lượng, Trường Đại học An Giang<br /> <br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 18/06/14<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 27/09/14<br /> Ngày chấp nhận đăng: 03/15<br /> Title:<br /> Internal factors affecting<br /> students’ satisfaction towards<br /> training and education of a<br /> university<br /> Từ khóa:<br /> Yếu tố nội sinh, sự hài lòng<br /> của sinh viên, đặc điểm cá<br /> nhân sinh viên<br /> Keywords:<br /> Internal factors, students’<br /> satisfaction, personal<br /> characteristics of students<br /> <br /> ABSTRACT<br /> This study aimed to examine internal factors affecting students’ satisfaction.<br /> Theoretical models have first conducted at An Giang University (AGU) via a<br /> mixed method of qualitative and quantitative research and the participation of<br /> 491 AGU’s students from 2012-2013. The finding showed that there is a<br /> relationship between students’ satisfaction and the following factors: (1)<br /> students’ needs, (2) internal and external personality of students, (3) current<br /> addresses of students, (4) students’ position in family, (5) fathers’ occupation, (6)<br /> mothers’ occupation, (7) mothers’ background education, and (8) students’ living<br /> cost.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến<br /> sự hài lòng của sinh viên. Mô hình lý thuyết chúng tôi đưa ra được kiểm chứng<br /> lần đầu tiên tại Trường Đại học An Giang, thông qua nghiên cứu định tính và<br /> định lượng. Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua khảo sát 491 sinh<br /> viên đang học tại Trường Đại học An Giang vào năm học 2012 – 2013. Kết quả<br /> phân tích cho thấy, có mối liên hệ giữa kết quả sinh viên đánh giá hài lòng với<br /> yếu tố về: (1) nhu cầu sinh viên, (2) kiểu nhân cách hướng nội/hướng ngoại, (3)<br /> chỗ ở hiện tại của sinh viên, (4) vị trí con trong gia đình của sinh viên, (5) nghề<br /> nghiệp bố, (6) nghề nghiệp mẹ, (7) trình độ học vấn của mẹ, và (8) mức sống của<br /> sinh viên.<br /> <br /> năng tâm lý. Nhu cầu là một động lực mạnh mẽ<br /> phát triển nhân cách (Nguyễn Ngọc Bích, 2000).<br /> Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy<br /> cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu bao<br /> giờ cũng có đối tượng, khi nào nhu cầu gặp đối<br /> tượng có khả năng thỏa mãn nó thì lúc đó nhu cầu<br /> trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động<br /> nhằm hướng tới đối tượng (Nguyễn Quang Uẩn,<br /> Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang, 2011). Vì<br /> thế, nếu nhà trường cung cấp dịch vụ đào tạo thỏa<br /> mãn nhu cầu người học sẽ tạo cho họ thái độ tích<br /> cực, động cơ thúc đẩy và tạo môi trường cạnh<br /> tranh lành mạnh trong học tập, nghiên cứu và phát<br /> triển.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> “Chú ý đến các nhu cầu cá nhân của người học và<br /> nhu cầu thị trường sức lao động sao cho các<br /> chuyên ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu của<br /> các đối tượng sử dụng” (Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc<br /> Hải & Đặng Quốc Bảo, 2006). Quá trình nhà<br /> trường tìm hiểu các đặc tính nhu cầu của sinh viên<br /> (SV) sẽ là một trong những nhân tố cơ bản đảm<br /> bảo sự thành công trong giáo dục đại học, bởi lẽ<br /> hiệu quả của quá trình đào tạo phụ thuộc rất nhiều<br /> vào đặc điểm cá nhân người học. Việc xác định rõ<br /> cơ chế tâm lý của từng SV có thể xem là “chìa<br /> khóa vàng” trong giáo dục nhân cách. Niềm tin và<br /> mục đích được xem là cơ chế tâm lý để xem xét<br /> những thuộc tính nhân cách. Niềm tin sẽ điều<br /> chỉnh các yếu tố tâm lý, hình thành những chức<br /> <br /> Liệu có phải mọi SV khi được đáp ứng nhu cầu<br /> đều có được sự thỏa mãn giống nhau? Theo kết<br /> 80<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> quả nghiên cứu tâm lý, nhiều nhà tâm lý học cho<br /> rằng, mỗi cá thể đều có kiểu thần kinh khác nhau.<br /> Vì thế, mỗi cá nhân có một kiểu khí chất khác<br /> nhau nên có kiểu nhân cách khác nhau (Nguyễn<br /> Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang,<br /> 2011). Tùy vào tiêu chí lựa chọn khi phân loại<br /> kiểu nhân cách mà ta có những kiểu nhân cách<br /> đặc trưng khác nhau. Trong nghiên cứu này chúng<br /> tôi tập trung vào đối tượng SV có kiểu nhân cách<br /> hướng nội/hướng ngoại mà theo Eysenck đây là<br /> hai kiểu nhân cách đặc trưng nếu xét theo tính<br /> chất của phản ứng hành vi và mức độ ổn<br /> định/không ổn định của xúc cảm (Hans Eysenck<br /> theo Ngô Công Hoan, 2007). Chính đặc trưng của<br /> kiểu nhân cách SV cho ta kết quả cảm nhận riêng<br /> về chất lượng đào tạo của trường và mức độ<br /> dễ/khó chấp nhận khác nhau khi nhận sản<br /> phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp. Từ cảm nhận<br /> chủ quan của từng SV về chất lượng đào tạo của<br /> trường, có một số SV cảm thấy hài lòng/không hài<br /> lòng về sản phẩm/dịch vụ mà họ nhận được.<br /> <br /> Nhóm nghiên cứu yếu tố về kết quả học tập. SV<br /> sẽ đánh giá thấp những GV cho điểm thấp<br /> (Crumbley, Henry & Kratchman, 2001 theo<br /> Dalton, H & Denson, N., 2009), cũng có nghiên<br /> cứu cho rằng GV cho điểm dễ dãi nhưng vẫn nhận<br /> được đánh giá thấp từ SV (Abrami, Dickens &<br /> Perry Leventhal, 1980 theo Mckeachie.W.J,<br /> 1997). Ngoài ra, có nghiên cứu cho rằng không có<br /> mối tương quan đáng kể giữa xu hướng đánh giá<br /> của GV và kết quả lấy ý kiến SV (Lally & Myhill,<br /> 1994 theo Lê Văn Hảo, 2007). Nhóm nghiên cứu<br /> về các yếu tố tác động khác đến sự hài lòng.<br /> Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đo lường sự hài<br /> lòng của SV khi xem xét đánh giá ở các đặc điểm,<br /> các yếu tố hữu hình và vô hình. Dựa trên các<br /> nghiên cứu của Pascarella và Terenzini (1991) và<br /> Umbach và Porter (2002), có nhận định rằng sự<br /> phát triển trí tuệ và cá nhân là một trong những<br /> yếu tố quan trọng của sự hài lòng về đầu ra của<br /> các cơ sở giáo dục. Ewell (1989) đã quan sát mối<br /> tương quan nghịch về tác động giữa văn hóa tổ<br /> chức và kết quả học tập của SV (Ewell, 1989,<br /> Pascarella & Terenzini, 1991, Umbach & Porter,<br /> 2002 theo Muhammad Nauman Abbasi, 2011).<br /> Cashin, W.E. cho rằng GV dạy môn xã hội<br /> thường được SV đánh giá cao hơn môn học tự<br /> nhiên và GV dạy lớp ít sẽ được SV đánh giá cao<br /> hơn GV dạy lớp đông (Cashin, W.E., 1995). Mặt<br /> khác, Palacio et al. (2002) cho rằng sự kì<br /> vọng/mong đợi của SV có thể được hình thành<br /> trước khi họ bước chân vào trường đại học.<br /> Những hình ảnh của nhà trường sẽ tác động đến<br /> quyết định của họ khi lựa chọn ghi danh vào<br /> trường mà sau này ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài<br /> lòng của họ (Palacio et al., 2002 theo Muhammad<br /> Nauman Abbasi, 2011).<br /> <br /> 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN<br /> QUAN<br /> Nhóm nghiên cứu yếu tố về giới tính và tuổi. Một<br /> số nghiên cứu cho rằng không có sự khác biệt<br /> giữa kết quả đánh giá của SV khi xét đến yếu tố<br /> giới tính và tuổi sinh học (Aleamoni, L.M., 1998),<br /> (Young, S. & Rush, L.; Shaw, D., 2009), (Lally &<br /> Myhill, 1994 theo: Lê Văn Hảo, 2007), (Cashin,<br /> W.E., 1995). Nhưng có một số nghiên cứu lại cho<br /> rằng yếu tố giới tính có ảnh hưởng đến sự hài lòng<br /> (Hancock et al.,1992; Tatro, 1995 theo Young, S.<br /> & Rush, L.; Shaw, D., 2009) cho thấy SV nữ có<br /> xu hướng đánh giá giảng viên (GV) cao hơn SV<br /> nam. Có nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho rằng<br /> SV nhóm nữ kém hài lòng hơn khi xét đến yếu tố<br /> giới tính (Rienzi et al., 1993 theo Muhammad<br /> Nauman Abbasi, 2011). Nhóm nghiên cứu yếu tố<br /> sự trải nghiệm của SV khi học tại trường. Một số<br /> nghiên cứu cho rằng yếu tố năm học của SV<br /> không tác động đến kết quả đánh giá (Cashin,<br /> W.E., 1995); (Lally & Myhill, 1994 theo Lê Văn<br /> Hảo, 2007). Nhưng cũng có một số nghiên cứu lại<br /> cho rằng có sự khác biệt trong kết quả đánh giá<br /> khi xét đến yếu tố năm SV (Dalton, H & Denson,<br /> N., 2009); (Aleamoni, L. M., 1998); (CisnerosCohernour, E. J., 2001); (Muhammad Nauman<br /> Abbasi, 2011). Kết quả các nghiên cứu cho thấy<br /> các đánh giá cho điểm hài lòng tỉ lệ thuận với năm<br /> học của họ.<br /> <br /> Ngoài ra, trong khảo sát kết quả đầu ra của SV<br /> các trường, viện British Columbia năm 2003 cho<br /> thấy, các yếu tố về đặc điểm cá nhân có ảnh<br /> hưởng đến kết quả đánh giá sự hài lòng của SV.<br /> Chẳng hạn, nhóm nữ và nhóm lớn tuổi hài lòng ở<br /> mức độ cao. Ngoài ra, sự hài lòng của SV phụ<br /> thuộc nhiều vào kết quả xếp loại học lực. Đối với<br /> nhóm cựu SV thì kết quả xếp loại học lực và mức<br /> độ hài lòng có tương quan thuận với nhau. Đối<br /> với SV đang theo học thì mối tương quan này ít<br /> hơn. Điều này khá tương đồng khi xét đến các yếu<br /> tố về giới tính, tuổi tác, đặc điểm ngành học, vị trí<br /> của trường (BC College & Institute Student<br /> Outcome, 2003).<br /> Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây chỉ tập<br /> 81<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> trung nhiều vào các yếu tố liên quan đến đặc điểm<br /> cá nhân SV như giới tính, tuổi, sự trải nghiệm của<br /> SV khi học tại trường (năm SV/SV năm thứ), kết<br /> quả học tập,… nhưng chưa có nghiên cứu nào<br /> xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nhu cầu và kiểu<br /> nhân cách của SV đến sự hài lòng của họ trong<br /> quá trình học tập tại trường.<br /> <br /> triển từ thấp đến cao.<br /> <br /> 3. KHUNG LÝ THUYẾT<br /> 3.1 Quan hệ của các thuyết trong nghiên cứu<br /> hài lòng<br /> 3.1.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow<br /> Hình 1. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow<br /> <br /> Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow chủ yếu tập<br /> trung xem xét các bậc nhu cầu cá nhân. Lý thuyết<br /> được xây dựng dựa trên các giả thuyết sau: (1)<br /> Nhu cầu là cơ sở để tạo động lực cá nhân, nhưng<br /> khi một nhu cầu được thoả mãn thì nó không còn<br /> là động lực quan trọng và nó sẽ nảy sinh một nhu<br /> cầu mới để thay thế cho nhu cầu cũ; (2) Nhu cầu<br /> bậc cao hơn chỉ xuất hiện khi nhu cầu bậc thấp<br /> hơn được thỏa mãn và có nhiều cách thỏa mãn<br /> bậc cao hơn so với nhu cầu ở bậc thấp; (3) Nhu<br /> cầu của phần lớn con người là phức tạp và phát<br /> ng 1. Quan hệ của thuyết nhu cầu của A raha<br /> Nhu cầu<br /> Nhu cầu an toàn<br /> <br /> Bản chất của sự hài lòng là sự thỏa mãn về chất<br /> lượng sản phẩm hay dịch vụ mang lại cho khách<br /> hàng (SV). Tính vận động của nhu cầu khá tương<br /> đồng với trạng thái/cảm xúc hài lòng mang lại<br /> cảm giác hạnh phúc hay thái độ tích cực; còn cảm<br /> giác không hài lòng hay thái độ tiêu cực cho thấy<br /> sự bất mãn. Ngoài ra, đối tượng của tính phát triển<br /> của nhu cầu hoàn toàn giống với nhóm SV đặt ra<br /> yêu cầu cao.<br /> <br /> Maslow trong nghiên cứu hài lòng của SV<br /> <br /> Thuyết của A raha<br /> Maslow<br /> Con người mong muốn<br /> được an toàn trong cuộc<br /> sống, công việc và trong<br /> quan hệ xã hội.<br /> <br /> Nghiên cứu hài lòng của SV<br /> Môi trường nhà trường tạo cho SV cảm giác an tâm chứ<br /> không phải đe dọa hay áp đặt. SV cần được đảm bảo điều<br /> kiện an toàn trong nhà trường, cụ thể:<br /> Tình hình an ninh trong nhà trường;<br /> Khu phòng học, khu nhà vệ sinh, khu ký túc xá,… đạt yêu<br /> cầu về an toàn;<br /> Chế độ bảo hiểm cho SV, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho<br /> SV.<br /> <br /> Nhu cầu xã hội<br /> <br /> Nhu cầu, mong muốn<br /> được giao lưu với bạn bè,<br /> gia đình, các nhu cầu giao<br /> tiếp khác.<br /> <br /> Hoạt động phong trào (văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao),<br /> câu lạc bộ, đội nhóm;<br /> SV được tạo cơ hội tham gia vào quá trình giảng dạy – học<br /> tập;<br /> SV được giao lưu trực tiếp với Hiệu trưởng, Phòng ban, Ban<br /> Chủ nhiệm Khoa để phản hồi các hoạt động của nhà trường.<br /> <br /> Nhu cầu được tôn trọng<br /> <br /> Nhu cầu tự khẳng định<br /> <br /> Con người được đối xử<br /> tôn trọng, tin cậy, được<br /> bình đẳng như mọi thành<br /> viên khác.<br /> Nhu cầu, mong muốn<br /> được sáng tạo, được thể<br /> hiện tài năng bản thân<br /> mình trước mọi người và<br /> được ghi nhận.<br /> <br /> Khen ngợi kịp thời khi SV hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học<br /> tập;<br /> Lắng nghe, tôn trọng ý kiến SV;<br /> Chất lượng đội ngũ cán bộ phục vụ cho SV.<br /> Khuyến khích SV tự chủ trong học tập, nghiên cứu;<br /> Khích lệ khả năng sáng tạo, tổng hợp vấn đề và ứng dụng<br /> kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.<br /> <br /> 82<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> 3.1.2 Thuyết hai yếu tố của rederick er berrg<br /> <br /> Hình 2. M hình thuyết hai yếu tố của<br /> Herzberrg<br /> <br /> Nhà tâm lý học Frederick Herzberrg cho rằng<br /> không phải nhu cầu nào cũng đóng vai trò là động<br /> cơ thúc đẩy. Có những yếu tố tạo ra sự không thỏa<br /> mãn (tạo sự hài lòng không tích cực) và những<br /> nhu cầu này khi được thoả mãn không tạo động<br /> cơ thúc đẩy mà chỉ là yếu tố duy trì/yếu tố hợp vệ<br /> sinh/yếu tố bảo vệ sức khỏe (Hygiene factors).<br /> Ngoài ra, có yếu tố thỏa mãn (tạo ra sự hài lòng<br /> tích cực) và những nhu cầu này nếu được đáp ứng<br /> sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy (Motivation) (Frederick<br /> Herzberrg theo Nguyễn Thơ Sinh, 2008).<br /> <br /> r<br /> <br /> ric<br /> <br /> Quan hệ của thuyết hai yếu tố trong nghiên cứu<br /> đánh giá sự hài lòng của SV:<br /> Mô hình nghiên cứu chỉ rõ những ảnh hưởng của<br /> môi trường công việc đến cá nhân. Điều này khá<br /> tương đồng nếu xem xét trên quan điểm xem công<br /> ty/cơ quan là nơi đào tạo và môi trường công việc<br /> là môi trường học tập của SV.<br /> Thuyết cũng đề cao vai trò của môi trường trong<br /> quá trình đáp ứng nhu cầu cho đối tượng lao<br /> động.<br /> Học thuyết đã chỉ ra hai yếu tố: yếu tố duy trì<br /> (Hygiene factors) và yếu tố tạo động cơ<br /> (Motivation). Nội dung chính của hai yếu tố này<br /> có thể được vận dụng giải thích trong nghiên cứu<br /> đánh giá hài lòng của SV.<br /> <br /> Mô hình thuyết hai yếu tố của Frederick<br /> Herzberrg:<br /> M I TRƯỜNG LÀM VI C<br /> Yếu tố nhu<br /> cầu<br /> tạo động cơ<br /> <br /> Mức độ trạng thái cảm giác của SV về khả năng<br /> đáp ứng của nhà trường so với kì vọng của chính<br /> SV - một cảm giác thỏa mãn hay thái độ tích cực<br /> cho thấy sự hài lòng, trong khi một cảm giác<br /> không thỏa mãn hay thái độ không tích cực cho<br /> thấy sự không hài lòng.<br /> <br /> NỘI UNG C NG VI C<br /> <br /> Yếu tố nhu<br /> cầu<br /> tạo sự duy trì<br /> <br /> ng 2. Quan hệ của thuyết hai yếu tố trong nghiên cứu hài lòng của SV<br /> Yếu tố nhu<br /> cầu<br /> <br /> Thuyết của r<br /> <br /> ric H r<br /> <br /> rrg<br /> <br /> Nghiên cứu ánh giá hài lòng của SV<br /> CSĐT/trường đại học<br /> <br /> Chính sách và cách quản lý của công ty<br /> <br /> Chính sách và cách quản lý của trường<br /> Khoa/Lớp<br /> <br /> Điều kiện làm việc<br /> <br /> Điều kiện học tập<br /> <br /> Các mối liên hệ cá nhân<br /> <br /> Các mối liên hệ cá nhân<br /> <br /> Lương<br /> <br /> Học bổng, chế độ hỗ trợ<br /> <br /> Chức vụ<br /> <br /> Ban cán sự lớp<br /> <br /> Sự an toàn<br /> <br /> Sự an toàn trong nhà trường<br /> <br /> Sự thành đạt<br /> <br /> Cơ hội việc làm<br /> <br /> Sự công nhận, thừa nhận<br /> <br /> Bằng cấp<br /> <br /> Sự thăng tiến<br /> <br /> Khả năng nghiên cứu, học tập cao hơn (sau đại học,...)<br /> <br /> Tính hấp dẫn của công việc<br /> <br /> Tạo động cơ<br /> <br /> Công ty<br /> Nhà quản lý trực tiếp<br /> <br /> Tạo sự duy<br /> trì<br /> <br /> Say mê học thuật, nghiên cứu<br /> <br /> 3.1.3 Thuyết hành vi của E.C.Tolman<br /> <br /> Chúng tôi vận dụng học thuyết tâm lí của<br /> E.C.Tolman trong nghiên cứu đánh giá hài lòng<br /> của SV. Như vậy, sự hài lòng của SV phụ thuộc<br /> vào đặc điểm của môi trường và đặc trưng từng cá<br /> thể đến hình thành quá trình hình thành tâm lí của<br /> <br /> Theo E.C.Tolman, yếu tố nội sinh là bất kỳ thể<br /> nghiệm nào bên trong của cơ thể, những cái<br /> không thể quan sát một cách khách quan được.<br /> 83<br /> <br /> Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 80 – 91<br /> <br /> An Giang University<br /> <br /> SV (E.C.Tolman theo Phan Trọng Ngọ, 2003).<br /> M I TRƯỜNG<br /> <br /> Ho t<br /> <br /> ng ào t o<br /> <br /> CÁ THỂ<br /> <br /> TÂM LÍ<br /> <br /> Kiểu nhân cách sinh<br /> viên, nhu cầu<br /> <br /> Hài lòng/Kh ng hài lòng<br /> <br /> Hình 3. Quá trình hình thành sự hài lòng SV ối v i ho t<br /> <br /> Đặc điểm môi trường ảnh hưởng đến cá thể (SV)<br /> đó chính là môi trường học tập trong nhà trường,<br /> bao gồm các hoạt động đào tạo: chương trình,<br /> giảng viên, hoạt động tổ chức đào tạo, cơ sở vật<br /> chất, trang thiết bị và dịch vụ hỗ trợ, mối quan hệ<br /> giữa mọi người trong trường, trong lớp…<br /> <br /> ng ào t o<br /> <br /> ih c<br /> <br /> tổ chức đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, trang<br /> thiết bị, dịch vụ hỗ trợ) về điều kiện và hoạt động<br /> đào tạo của trường để họ có thể trở thành người<br /> có năng lực trong lĩnh vực được đào tạo. Chính sự<br /> thỏa mãn những kì vọng/mong đợi (nhu cầu) của<br /> SV dưới sự định hướng/giáo dục của nhà trường<br /> sẽ đem đến cho họ sự hài lòng, cao hơn nữa tạo<br /> động cơ để họ phấn đấu trong học tập, nghiên cứu<br /> để phát triển”.<br /> <br /> Đặc trưng cá thể có thể là các đặc điểm về kiểu<br /> nhân cách SV, nhu cầu bản thân, giới tính, tuổi,…<br /> Chính đặc trưng của từng cá thể cho ta kết quả<br /> cảm nhận riêng về chất lượng đào tạo của trường.<br /> Bởi vì, với từng cá thể thì mức độ dễ/khó chấp<br /> nhận của họ cũng khác nhau khi nhận sản<br /> phẩm/dịch vụ nhà trường cung cấp.<br /> <br /> Nhu cầu quá trình (1) căn cứ vào thuyết<br /> Abraham Maslow. Khi môi trường bên trong<br /> trường đại học đáp ứng được nhu cầu SV quá<br /> trình (11) thì họ sẽ thỏa mãn, còn ngược lại<br /> không thỏa mãn quá trình (12) . Chính sự không<br /> thỏa mãn nhu cầu sẽ làm cho SV cảm thấy không<br /> hài lòng về sản phẩm/dịch vụ nhà trường cung<br /> cấp.<br /> <br /> Tâm lí cá thể ở đây có thể hiểu đó chính là quá<br /> trình hình thành sự hài lòng của SV khi học tại<br /> trường. Kết quả của quá trình này phụ thuộc vào<br /> đặc điểm của môi trường học tập, nhu cầu và kiểu<br /> nhân cách của từng SV.<br /> <br /> Khi SV thỏa mãn nhu cầu quá trình (11) thì sẽ<br /> xuất hiện hai trạng thái tâm lí: nếu nhà trường đáp<br /> ứng đầy đủ các yếu tố tạo sự duy trì (nhu cầu an<br /> toàn và nhu cầu xã hội) quá trình (11a) thì SV<br /> cảm thấy hài lòng quá trình (11a1) , tuy nhiên sự<br /> hài lòng này không mang động cơ thúc đẩy hoạt<br /> động học tập. Chỉ những nhu cầu được tôn trọng<br /> và nhu cầu tự khẳng định mình quá trình (11b)<br /> được đáp ứng thì sự thỏa mãn mới tạo được động<br /> cơ giúp SV say mê học thuật, nghiên cứu quá<br /> trình (11b1) .<br /> <br /> Trong nghiên cứu này, yếu tố nội sinh chỉ tập<br /> trung vào hai khía cạnh là: (1) nhu cầu và (2) kiểu<br /> nhân cách (hướng nội/hướng ngoại), bởi lẽ tính<br /> thuận tiện của hai yếu tố này trong tìm hiểu đánh<br /> giá sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo.<br /> 3.2 M hình lý thuyết<br /> Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn<br /> tại và phát triển trong những điều kiện nhất định.<br /> Khi con người đã có thể sinh tồn thì họ nảy sinh<br /> khát khao tìm kiếm tri thức nên nhu cầu được học<br /> tập xuất hiện. Khi SV học tập tại trường họ mong<br /> muốn có môi trường thuận lợi để có cơ hội phát<br /> triển. Môi trường đó phải thật sự an toàn, lành<br /> mạnh, nhân văn. Trong mối quan hệ giữa thầy –<br /> trò được thực hiện căn cứ vào chương trình đào<br /> tạo, cùng với quá trình tổ chức đào tạo, trong điều<br /> kiện cơ sở vật chất thuận lợi với chất lượng dịch<br /> vụ tốt nhất sẽ tạo cho SV tâm lí yên tâm học tập,<br /> nghiên cứu. Theo chúng tôi quan niệm, nhu cầu<br /> của SV là “những kì vọng/mong đợi của SV<br /> (chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu học tập,<br /> <br /> Như vậy có phải mọi SV khi được đáp ứng nhu<br /> cầu đều có sự thỏa mãn giống nhau Điều đó hoàn<br /> toàn không, bởi lẽ mỗi SV đều có ý kiến chủ quan<br /> trong đánh giá, nhận định vấn đề. Mỗi SV là cá<br /> thể riêng l mang đặc trưng riêng quyết định tính<br /> cách và nhu cầu khác nhau. Chính đặc trưng của<br /> từng cá thể về tính cách quá trình (2) cho ta kết<br /> quả cảm nhận riêng về chất lượng đào tạo của<br /> trường. Bởi vì, với mỗi SV, mức độ chấp nhận<br /> của họ cũng khác nhau khi nhận sản phẩm/dịch vụ<br /> nhà trường cung cấp. Chính cảm nhận chủ quan<br /> của từng SV về chất lượng đào tạo của trường mà<br /> 84<br /> <br />